Là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm chỉ dẫn địa lý mới chính thức lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs). Hiệp định TRIPs không áp đặt một hình thức bảo hộ chung nào cho các quốc gia thành viên mà để cho các quốc gia tự quyết định hình thức bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý1.
|
Luật Sở hữu trí tuệ là một bộ luật có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh, trong phát triển kinh tế thời hội nhập. Tuy nhiên, Luật SHTT của chúng ta vẫn còn nhiều hạt sạn. Là người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quyền SHTT, cho phép tôi tham gia vào việc góp ý sửa đổi Luật SHTT bằng cách chỉ ra những hạt sạn to nhất và cũng mới chỉ là trong những điểm then chốt nhất của lĩnh vực quyền tác giả mà thôi.
|
Xu thế “san phẳng thế giới” trên các lĩnh vực pháp luật đã khiến thói quen bảo vệ tài sản tư, tạo lợi thế cạnh tranh từ tài sản trí tuệ trong xã hội phương Tây từng bước xuất hiện trong các văn bản pháp luật nước ta. Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và nhiều văn bản pháp luật kế tiếp đều mang “hơi thở” của xu hướng đó.
|
Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).
|
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Tại thời điểm này, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta đã có nhiều điểm tương thích với Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – TRIPS. Theo đó, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong hiệp định TRIPS – giống cây trồng mới – lần đầu tiên được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
|
Tài sản trí tuệ là tài sản quý của mỗi doanh nhân, bao gồm những sản phẩm trí tuệ có giá trị thương mại và được cấp quyền sở hữu hợp pháp của chủ doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên. Ví dụ về sản phẩm trí tuệ bao gồm sản phẩm mới và tên sản phẩm, phương pháp sản xuất mới, quy trình sản xuất mới, chương trình khuyến mại mới, hoặc một kiểu dáng mới.
|
Việc xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình giống như việc làm nhà phải có khóa cửa. Nhưng vì sao nhiều doanh nghiệp vẫn bỏ qua điều tưởng như sơ đẳng này? Nhãn hiệu là tài sản vô hình nhưng chiếm giữ vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Khi chuẩn bị đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường, việc đầu tiên mà doanh nghiệp cần nghĩ đến là phải đăng ký nhãn hiệu để tạo ra cơ sở pháp lý ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình.
|
Với hơn 10 năm kinh nghiệm xử lý các vụ việc về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Luật sư Bạch Thanh Bình (Văn phòng Luật sư Phạm và liên danh) đưa ra lời khuyên tưởng chừng như ai cũng biết, nhưng chưa nhiều người thực hiện được… Những thiệt hại của doanh nghiệp do bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là rất lớn, nhưng lại rất khó đong đếm cụ thể và hành trình đi “đòi” sự công bằng trong lĩnh vực này cũng rất gian nan, đòi hỏi sự kiên trì và khả năng tài chính.
|
Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh tín dụng ngân hàng, còn xuất hiện và phát triển hình thức tín dụng thương mại. Để giúp tín dụng thương mại thực hiện được, đã xuất hiện những công cụ giúp doanh nghiệp đòi nợ hoặc nhận nợ, phục vụ cho các doanh nghiệp thanh toán, đòi tiền lẫn nhau. Những công cụ này gồm có hối phiếu đòi nợ (bill of exchange), hối phiếu nhận nợ (promisory note), séc (cheque),… Vì những công cụ này có thể chuyển nhượng được nên người ta gọi chung là công cụ chuyển nhượng.
|
Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|