1 + 1 = 2?
Dù đã học toán, làm toán bao nhiêu năm, nhưng quả thực nếu có ai chợt hỏi “số 1 là gì?” thì mình lại ngắc ngứ. Chỉ vào bóng đèn duy nhất trên trần nhà, hay vào em bé đang chơi đùa một mình ngoài sân chăng? Cũng không thể xem là ổn được.
Không có một sự vật, một hiện tượng nào trong cuộc đời thực này có cái
tên gọi là số 1 cả. “Số 1” là một khái niệm trừu tượng do đầu óc con người bịa
ra để diễn tả một ý niệm số lượng gắn với một lớp các tập hợp cùng có một tính
chất chung là đơn độc. Số lượng các bóng đèn trên trần nhà, hay số lượng các em
bé đang chơi ngoài sân vắng là 1, nhưng số 1 không là cái bóng đèn hay em bé
đó. Thực tế cung cấp cho con người các cứ liệu xuất phát để hình thành nên các
ý niệm, mỗi khái niệm mà ta có được qua hoạt động trừu tượng, nhưng mỗi ý niệm,
mỗi khái niệm mà ta có được qua hoạt động trừu tượng hoá của trí tuệ chỉ giữ
lại được một thuộc tính nào đó của các đối tượng thực tế tương ứng mà thôi. Vì
vậy, các khái niệm trừu tượng bao giờ cũng là những mô tả nghèo nàn và phiến
diện cả các đối tượng trong thực tế. Trong cuộc đời thực không có số 1, mà là
có một bóng đèn, một em bé, một con người, v.v.. thế thôi. Và những cái một đó
giàu có hơn, đa dạng hơn không biết bao nhiêu lần cái số 1 khẳng khiu của toán
học trừu tượng!
Khoa học hiện đại như ta biết đã được xây dựng trên hàng loạt những khái
niệm trừu tượng, và những quan hệ trừu tượng giữa các khái niệm đó. Tốc độ, gia
tốc, lực, khối lượng, năng lượng… được đo bằng các con số, các quan hệ trong
chuyển động, trong hấp dẫn, thậm chí đến các quan hệ trong kinh tế, xã hội..
được mô tả bằng các phương trình, bất phương trình trên các “đại lượng”, tức
cũng qui về trên các con số. Và rồi, xuất phát từ các khái niệm và quan hệ trừu
tượng đó, bằng các phương pháp “khoa học” như quan sát, suy luận lôgích, thực
nghiệm, kiểm chứng.. con người đã tạo ra được những kho tàng đồ sộ các “kiến
thức khoa học”, loại kiến thức từng được coi là khách quan và đúng đắn, cơ sở
để con người nhận thức thực tế, phát minh công nghệ, từ đó phát triển kinh tế
và xã hội trong suốt mấy thế kỷ qua.
Nhưng, sang thế kỷ 20, khi lần lượt từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác,
người ta phát hiện ra rằng có nhiều hiện tượng thực tế không thể giải thích
được bằng các “kiến thức khoa học” đó, thì những hoài nghi về tính khách quan
về tuyệt đối đúng đắn của các lý thuyết khoa học mới dần nảy sinh, và nhiều
nguyên lý khoa học mà ta vẫn coi là chân lý mới dần được xem xét lại. Có thể là
do khoa học đã đạt được thành tựu tuyệt vời ban đầu trong lĩnh vực vật lý của
các chuyển động cơ học, nên con người đã dễ quên đi rằng các khái niệm trừu
tượng, các “quy luật” lý thuyết chỉ cho ta những hiểu biết phiến diện về thực
tế, các suy luận “lôgích” dựa trên các sơ đồ diễn dịch cứng nhắc lại góp phần
làm nghèo thêm những hiểu biết phiến diện đó, nên các kết luận “khoa học” mà ta
có được , và bản thân khoa học nói chung, chỉ có thể cho ta những hiểu biết
trừu tượng, theo một nghĩa nào đó là nghèo nàn và phiến diện (so với cái giàu
có và đa dạng của thực tế) mà thôi.
Trở lại với câu hỏi “1 + 1 = 2?” từ đầu bài, ta thấy số 1, số 2 là những khái
niệm trừu tượng diễn tả các ý niệm về số lượng, + và = là những phép toán và
quan hệ trừu tượng trên các khái niệm đó, do đó 1 + 1 = 2 là một quy luật của
toán học trừu tượng, nhiều lắm thì cũng có thể xem là một phản ánh phiến diện
nào đó về mặt số lượng của thực tế mà thôi. Chứ trong cuộc đời thật làm gì có
thực thể nào là số 1, là số 2, và có phép phối hợp nào trùng với phép + toán
học? Trong đời thực một người với một người có thể hợp với nhau để thành một
cặp bạn, một cặp đối thủ, hay một đôi vợ chồng, v.v… Cặp bạn, cặp đối thủ, đôi
vợ chồng,.. đều có nội dung và chất lượng phong phú hơn, giàu có hơn rất nhiều
so với hai con người được buộc lại với nhau một cách hờ hững! Vì thế ta nói
phép cộng toán học chỉ cho ta một hiểu biết phiến diện về mặt số lượng trong
quan hệ giữa một “hệ thống” và các thành phần của nó, chứ trong đời thực quan
hệ giữa hệ thống và các thành phần của nó không bao giờ có thể qui giản về phép
tính cộng số học được. Một hệ thống bao giờ cũng giàu có hơn tổng gộp các thành
phần của nó, tức là có những thuộc tính mới mà từng thành phần của nó không có.
Có người thích viết 1+1>2 để diễn tả điều đó, tuy nhiên viết như vậy có thể
không thể thoả đáng, vì cái “nhiều hơn” ở đây không phải là hơn về số lượng.
Ngày nay, với khoa học hệ thống, ta hiểu một hệ thống gồm nhiều thành phần
có quan hệ tương tác vói nhau, và tính chất nói trên của hệ thống được gọi
chung là tính hợp trội (emergence) của hệ thống. Hệ thống gồm hai người bạn,
hoặc hai đối thủ, hoặc hai vợ chồng, đều có những thuộc tính hợp trội mà từng
thành viên riêng lẻ không thể có. Việc có các thuộc tính hợp trội là quan trọng
và phổ biến trong mọi hệ thống, chúng không có sẵn trong các thành phần của hệ
thống cũng như của hệ thống với môi trường. Hệ thống càng phức tạp thì các thuộc
tính hợp trội của nó càng có khả năng đa dạng và phong phú. Tuy ta biết là các
hệ thống (phức tạp) có các thuộc tính hợp trội, nhưng các thuộc tính đó đã được
hình thành như thế nào thì thường ta lại không biết, nói chung ta không đoán
trước được và chỉ biết khi chúng đã xuất hiện. Khoa học hệ thống ra đời từ giữa
thế kỷ 20, được phát triển mạnh vào vài thập niên cuối của thế kỷ, đã đề ra cho
mình nhiệm vụ nghiên cứu một loạt các khái niệm và vấn đề cơ bản như tính toàn
thể, tính hợp trội, tính mở, hành vi hướng đích và các cơ chế phản hồi, tính
nội cân bằng, tính tổ chức và khả năng tự tổ chức,.. của các hệ thống; cố gắng
tìm kiếm những phương pháp khoa học mới để phát hiện các qui luật chung nhằm
giải thích các cơ chế vận hành và tương tác của các thuộc tính nói trên trong
các hệ thống phức tạp. Ta biết rằng các hệ thống phức tạp nhất có ý nghĩa đối
với cuộc sống con người là về sự sống, về kinh tế và xã hội.
Trong phạm vi tư duy duy lý và cơ giới luận, con người đã đạt được nhiều kết
quả nghiên cứu về từng mặt riêng lẻ, từng hiện tượng đặc thù, nhưng chưa trả
lời được nhiều câu hỏi bản chất trong các lĩnh vực đó. Khoa học hệ thống đang
trong giai đoạn tìm kiếm cho mình những phương pháp mới, những mô hình mới,
những kiểu suy luận mới,.. chưa thể có ngay mọi câu trả lời bản chất đó, nhưng
đã hé lộ cho ta những triển vọng rất sáng sủa. Một mặt, từ các nghiên cứu thực
tiễn trong các lĩnh vực sinh học, sinh thái học, các hệ thống thần kinh, các hệ
thống kinh tế và xã hội, người ta đã phát hiện nhiều đặc điểm chung trong các
quá trình hình thành, phát triển và tiến hoá của các hệ thống phức tạp. Sự phát
triển của các hệ thống phức tạp, về thực chất là việc tăng không ngừng trình độ
tổ chức và trật tự của chúng, hình thành bởi một tiến trình tiến hoá tạo nên những
thuộc tính hợp trội được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua các tương tác
của hệ thống. Tiến hoá qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh
tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên như đã từng được phát hiện bởi thuyết tiến
hoá của Darwin
trước đây, mà còn bằng các khả năng hiệp tác và cùng phát triển. Chính cái đa
dạng này của tiến hoá tạo nên sự phong phú và giàu có của cuộc sống, đặc biệt
với các hệ kinh tế xã hội. Mặt khác, các nghiên cứu lý thuyết trên các mô hình
khái quát như các mô hình hệ động lực phi tuyến có các vòng phản hồi dương, các
mạng nơron hình thức,v.v.. cũng đã phát hiện nhiều tính chất chung của sự xuất
hiện các trạng thái hỗn độn, rẽ nhánh, khả năng tự tổ chức và hiệp tác đồng
tiến hoá ở bên bờ hỗn độn, v.v.. của các hệ thống phức tạp. Khoa học hệ thống
hiện đại có thể sẽ không cho ta nhiều hiểu biết dưới dạng các định lý được
chứng minh chặt chẽ một cách duy lý, nhưng kết hợp các nghiên cứu lý thuyết và
thực tiễn chắc chắn sẽ cung cấp cho con người nhiều hiểu biết bổ ích và rất cần
thiết trong cuộc sống hiện đại, đặc biệt trong việc tìm lời giải cho các bài
toán bí ẩn về vũ trụ, tự nhiên, sự sống, trí tuệ, về quan hệ giữa vật chất và
tinh thần, và trong các hoạt động thực tiễn nâng cao chất lượng sống của bản
thân con người, phát triển các hình thái kinh tế và xã hội năng động và sáng
tạo phục vụ hạnh phúc của con người.
Chính vì vậy, mà nhiều nhà khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau đã từng nhận
định khoa học về các hệ thống phức tạp, gọi tắt là khoa học về phức tạp, sẽ là
khoa học của thế kỷ mới, thế kỷ 21; và chúng ta hy vọng là khoa học mới đó,
bước chuyển mới của khoa học nói chung, hiện đang được triển khai ở hầu khắp
các viện khoa học và trường đại học trên thế giới, sẽ đạt được nhiều kết quả to
lớn, mang lại nhiều cống hiến đặc sắc cho cuộc sống con người trong thời đại
ngày nay.
Tác giả:Phan Đình
Diệu
Nguồn: Tạp
chí Tia Sáng