6 nhà toán học có khả năng giành huy chương Fields
> Chính phủ mời Ngô Bảo Châu về nước làm việc
Huy chương Fields là giải thưởng toán học được trao
cho những nhà toán học không quá 40 tuổi có thành tựu đặc biệt về toán.
Giải được trao tại Đại hội Toán học Quốc tế của Hiệp hội Toán học Quốc
tế, diễn ra 4 năm một lần, và mỗi lần chỉ tối đa 4 người được giải. Đại
hội năm nay khai mạc ngày 19/8 tại Ấn Độ.
Huy chương Fields được đánh giá là giải thưởng toán học uy tín nhất thế giới. Trước thềm Đại hội Toán học Quốc tế 2010, trang vnmath.com và mathvn.com
(Tạp chí Toán học) đều cho rằng sẽ có 6 nhà toán học có khả năng được
trao huy chương Fields. Trong số này chỉ có giáo sư Ngô Bảo Châu, người
Việt Nam, và một nhà toán học người Brazil được đọc báo cáo tại phiên
họp toàn thể.
1. Ngô Bảo Châu (Việt Nam)
 |
| Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu. Ảnh: diendantoanhoc.org. |
Nhà toán học Việt Nam chào đời năm 1972 tại Hà Nội và
từng giành huy chương vàng trong hai kỳ thi Olympic Toán quốc tế vào năm
1988 và 1989. Anh bảo vệ luận án tiến sĩ ở tuổi 25 tại Đại học Sư phạm
Paris, Pháp. 6 năm sau anh hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học năm 2003
tại Đại học Paris 11, Pháp.
Bảo Châu giành giải thưởng Toán học Clay năm 2005 cùng
giáo sư Gerard Laumon - thầy của anh tại Đại học Paris 11 - sau khi
giải quyết được một trường hợp của Bổ đề cơ bản Chương trình Langland.
Sau đó anh giành các giải thưởng của Viện Nghiên cứu Toán học
Oberwolfach dành cho các nhà toán học trẻ Châu Âu (2007) và giải thưởng
của Viện Hàn lâm Pháp (2008).
Năm 2005 Bảo Châu được đặc cách công nhận là giáo sư toán học khi mới 33 tuổi và trở thành giáo sư trẻ nhất tại Việt Nam.
Tạp chí Time của Mỹ xếp công trình chứng minh
Bổ đề cơ bản Chương trình Langland vào nhóm "10 phát minh khoa học tiêu
biểu nhất năm 2009". Bổ đề cơ bản này đã tồn tại hơn 30 năm và chưa có
nhà toán học nào chứng minh thành công. Thành tựu của Bảo Châu đưa
Chương trình Langland sang một trang mới.
2. Christopher Hacon (Anh)
 |
| Giáo sư Christopher Hacon. Ảnh: mfo.de. |
Chào đời năm 1970 tại Manchester, Anh, Hacon lấy bằng
tiến sĩ tại Đại học California, Mỹ vào năm 1998. Anh nhận giải Clay năm
2007 và giải Cole của Hiệp hội Toán học Mỹ năm 2009. Hiện tại Hacon làm
việc tại Đại học Utah, Mỹ. Ngoài ra anh còn làm biên tập viên cho tạp
chí Hình học đại số và tạp chí của Hiệp hội Toán học Mỹ.
Các giải thưởng của Hacon bao gồm giải Sloan của Quỹ
Alfred P. Sloan vào năm 2003, giải thế kỷ của Hiệp hội Toán học Mỹ năm
2006.
3. Artur Avila (Brazil)
 |
| Ảnh: impa.br. |
Avila chào đời năm 1979 và giành huy chương vang
Olympic Toán quốc tế ở tuổi 16. Anh lấy bằng tiến sĩ tại Viện Toán học
thuần túy và ứng dụng quốc gia Brazil ở tuổi 22. Hiện anh làm việc tại
Viện Toán học Clay ở Mỹ.
Lĩnh vực nghiên cứu của Avila bao gồm Lý thuyết các hệ
thống động và Lý thuyết quang phổ. Các giải thưởng nổi bật của anh gồm:
giải Salem (2006), giải của Hiệp hội Toán học châu Âu (2009), giải
Herbrand của Viện Khoa học Pháp (2009).
4. Ben Joseph Green (Anh)
Green chào đời vào năm 1977 và giành hai huy chương
bạc Olympic Toán quốc tế ở tuổi 17 và 18. Anh tốt nghiệp khoa Toán tại
Đại học Cambridge, Anh với tấm bằng cử nhân năm 1998 và bảo vệ luận án
tiến sĩ tại trường này năm 2003.
Green từng công bố nhiều nghiên cứu quan trọng về cả
Toán tổ hợp và Lý thuyết số. Năm 2004 anh cùng Terence Tao - nhà toán
học Australia từng đoạt huy chương Fields năm 2006 - chứng minh rằng tồn
tại một cấp số cộng các số nguyên tố có độ dài bất kỳ. Công trình của
họ (gọi là định lý Green - Tao) được đánh giá là một bước đột phá của
Toán học trong năm 2004.
Các giải thưởng đáng chú ý: giải Clay (2004), giải
Salem (2005), giải SASTRA Ramanujan (2007) của Viện Nghệ thuật, Khoa học
và Công nghệ Shanmugha, Ấn Độ, giải của Hiệp hội Toán học châu Âu
(2008).
5. Manjul Bhargava (Canada)
 |
| Ảnh: wikimedia.org. |
Sinh năm 1974 tại Ontario, Canada, chàng trai người
Canada gốc Ấn Độ đang làm giáo sư Toán tại Đại học Princeton, Mỹ. Anh là
giáo sư trẻ nhất trong lịch sử của trường này.
Bhargava tốt nghiệp Đại học Harvard, Mỹ năm 1996 và
lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Princeton, Mỹ vào năm 2001. Lĩnh vực nghiên
cứu của anh bao gồm: Toán tổ hợp, Lý thuyết số Đại số, Cấu trúc đại số,
Lý thuyết biểu diễn.
Anh từng đoạt giải Morgan dành cho sinh viên toán xuất
sắc (1996), giải Hasse (2003), giải Clay (2005), giải thưởng Cole của
Hiệp hội Toán học Mỹ (2008).
6. Danny Calegari (Australia)
 |
| Ảnh: caltech.edu. |
Calegari sinh năm 1972 tại Australia và đang làm giáo
sư Toán tại Viện Công nghệ California, Mỹ. Anh lấy bằng cử nhân Toán tại
Đại học Melbourne, Australia và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học
California, Mỹ vào năm 2001. Sau đó Calegari làm việc tại Đại học
Harvard, Mỹ từ năm 2000 tới 2002. Anh nhận giải Clay năm 2009 do những
đóng góp về Hình học Topo và Lý thuyết nhóm trong hình học
Ngoài toán học Calegari còn viết nhiều truyện ngắn. Tác phẩm của anh được đăng trên ba tạp chí tại Australia.
Minh Long - Theo Vnexpress.net