Án lệ trong hệ thống tòa án Australia lựa chọn nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ ?
Hệ thống Tòa án của Australia được tổ chức thành hệ thống Liên Bang và tiểu bang. Ở cấp Liên bang, hệ thống Tòa án bao gồm Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án gia đình và Tòa án sơ thẩm Liên Bang. Ở cấp tiểu bang, hệ thống tòa án tiểu bang bao gồm Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm.
I. Bối cảnh
Trong hoạt động xét xử, án lệ được mô tả như
là đặc trưng, nền tảng của hệ thống Tòa án của hệ thống thông luật nói
chung, là xương sống của hệ thống Tòa án Australia và là cách thức để
luật sư Australia sử dụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến luật
pháp nói riêng.
Những quan điểm ủng hộ học thuyết án lệ cho rằng tính
nhất quán, tính ổn định và có thể dự đoán của án lệ là rất quan trọng
cho việc duy trì sự độc lập của của hệ thống luật pháp và sự khách quan
của hệ thống Tòa án của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật
(Common Law system) trong việc thực hiện chức năng xét xử.
Đối
với Việt Nam, cụ thể hơn là trong hoạt động xét xử của Tòa án, án lệ
chưa được chính thức thừa nhận như là một nguồn của pháp luật để có thể
xác lập và áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trong thực tiễn xét xử
của Tòa án, nếu nhìn nhận án lệ với hình thức là sự hướng dẫn áp dụng
pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, thì án lệ đã và đang tồn tại và
phát triển và có những đóng góp rất quan trọng trong tiến trình cải cách
tư pháp, bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước. Vấn
đề “phát triển án lệ” đã được xác định là một trong những nội dung định
hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hiện nay, việc
triển khai thực hiện nội dung này đã có những bước phát triển mới khi
Tòa án nhân dân tối cao đang tiến hành nghiên cứu học thuyết án lệ của
các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) và án lệ
của các nước khác, các xu hướng phát triển của học thuyết án lệ trên
thế giới, thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam dưới góc độ án
lệ để từ đó đưa ra các phương hướng cách thức cụ thể để tiếp cận, rút ra
các bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc “phát triển án lệ”.
Trong bối cảnh đó, để việc nghiên cứu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
có thêm sự tham khảo, bài viết này cố gắng khái quát những nét cơ bản về
án lệ của Tòa án các nước thuộc hệ thống pháp luật thông luật; việc xác
lập, áp dụng án lệ của các Tòa án Australia; sự ảnh hưởng của hệ thống
pháp luật của Vương quốc Anh đối với việc xác lập, áp dụng án lệ trong
hệ thống Tòa án Australia và xu hướng phát triển của án lệ Australia. Từ
đó, tác giả đưa ra một số nhận xét, đánh giá về việc triển khai thực
hiện “phát triển án lệ” của Việt Nam theo định hướng tại Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị. Đồng thời, trên cơ sở so sánh
thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
các nước theo hệ thống pháp luật thông luật nói chung, của Tòa án
Australia nói riêng với thực tiễn hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam, tác giả tranh luận rằng
việc xác lập, áp dụng án lệ đã và đang tồn tại và phát triển trong hoạt
động xét xử của Tòa án Việt Nam.
II. Một số nội dung về án lệ của Tòa án
1. Khái niệm
Như đã nói ở trên, không chỉ ở Australia, mà tại các
nước thuộc hệ thống thông luật, hệ thống luật pháp đều được xác lập từ
nhiều nguồn khác nhau, trong đó có một nguồn rất quan trọng là án lệ của
hệ thống Tòa án. Đây là một đặc điểm quan trọng và là đặc trưng về nền
tảng cơ bản của hệ thống thông luật. Trong hệ thống này, án lệ của Tòa
án không chỉ đơn thuần là một ví dụ tốt mà nó còn có tính bắt buộc phải
tuân theo và phải áp dụng đối với Tòa án. Nguyên tắc này thường được
nhắc đến bằng một thuật ngữ Latinh “Stare Decisis”-được diễn giải một
cách đơn giản là “tuân thủ các quyết định trước”. Cụ thể hơn, trên thực
tế, nguyên tắc này được hiểu là khi xét xử một vụ việc nhất định, Tòa án
phải tuân thủ và áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó nếu vụ án
đang được xét xử có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như
các tình tiết khách quan của vụ án đã được xét xử. Trong trường hợp này,
nguyên tắc pháp luật đã được xác lập trong vụ án đã xét xử cũng được áp
dụng để giải quyết vụ án đang được xét xử. Việc áp dụng phán quyết đã
được ban hành trước đó cho việc xét xử các vụ án hiện tại và trong tương
lai có tình tiết khách quan quan trọng tương tự như nhau được gọi là
việc áp dụng án lệ.
2. Đặc điểm của án lệ
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của án lệ là
tính bắt buộc tuân thủ và áp dụng. Án lệ của Tòa án cấp cao nhất trong
hệ thống Tòa án phải được các Tòa án cấp dưới áp dụng khi giải quyết các
vụ án. Các Tòa án cấp dưới không được bỏ qua các án lệ của Tòa án cao
nhất. Trong trường hợp Tòa án cấp dưới cho rằng một án lệ nào đó là
không phù hợp với vụ án mà Tòa án này đang giải quyết thì Tòa án phải
chứng minh sự khác nhau giữa các tình tiết khách quan quan trọng giữa án
lệ và vụ án đang được giải quyết.
Tuy nhiên, cần chú ý khái niệm
“phán quyết” khi nói đến việc Tòa án cấp dưới áp dụng phán quyết của
Tòa án cấp cao nhất trong một hệ thống Tòa án để xét xử những vụ việc có
tình tiết khách quan quan trọng tương tự như vụ án đã được Tòa án cấp
cao nhất xét xử. Khái niệm “phán quyết” trong trường hợp nêu trên không
dùng để chỉ toàn bộ những gì mà Thẩm phán quyết định trong vụ án. Tòa án
cấp dưới chỉ tuân theo một phần phán quyết được gọi theo tiếng La tinh
là “the ratio decidendi”- phần lý do mà dựa trên đó phán quyết giải
quyết vụ án được đưa ra. Những lý do này được xác lập bởi đa số ý kiến
đồng thuận của các thẩm phán sau khi đánh giá các tình tiết khách quan
của vụ án. Cách thức tiếp cận án lệ này dẫn đến một kết quả là các ý
kiến bảo lưu của các thẩm phán và các ý kiến khác mang tính tổng quát về
một vấn đề chung của pháp luật có liên quan hoặc được bổ sung hoặc
những vấn đề không quan trọng trong vụ án sẽ không phải là những thành
phần của án lệ mang tính bắt buộc. Thành phần này được gọi theo tiếng
Latinh là “the obiter dicta”-có nghĩa là tham khảo. Thành phần này trên
thực tế có thể được các Tòa án cấp dưới tham khảo khi xét xử các vụ án.
Việc xác định án lệ bắt buộc-“the ratio decidendi” rất phức tạp
trong trường hợp có nhiều thẩm phán mặc dù đồng ý với một phán quyết
chung nhưng mỗi thẩm phán lại nêu ra các lý do khác nhau mà theo họ đó
mới là cơ sở để xác lập nên phán quyết đó. Trên thực tế trong một bản án
có thể có một hoặc nhiều thẩm phán cùng nhau đưa ra nhiều lý do khác
nhau-những lý do mà theo họ là cơ sở để xác lập phán quyết giải quyết vụ
án. Trong trường hợp này thì án lệ bắt buộc chính là các lý do được đa
số thẩm phán thống nhất đưa ra làm cơ sở cho phán quyết giải quyết tranh
chấp.
Bên cạnh đặc điểm áp dụng bắt buộc của án lệ thì các đặc
điểm khác của án lệ được các Thẩm phán Tòa Liên bang Australia là
Branson và Finkelstein trong vụ án Telstra Corporation kiện Treloar năm
2000, diễn giải cụ thể, bao gồm: tính ổn định, bảo đảm công bằng, hiệu
quả và hiện diện của công lý. Theo giải thích của hai Thẩm phán này thì
án lệ mang tính ổn định vì luật pháp có chức năng định hướng cho người
dân một cách xử sự rõ ràng. Người dân được pháp luật cho phép xử sự
trong một cách thức mà người dân chắc chắn rằng pháp luật sẽ được áp
dụng cho người dân trong tương lai cũng giống như pháp luật đang được áp
dụng với họ tại thời điểm hiện tại mà không có sự khác biệt. Đồng thời
án lệ thúc đẩy sự công bằng trong hoạt động áp dụng pháp luật khi các vụ
án có những tình tiết khách quan quan trọng của vụ án tương tự như nhau
thì Tòa án sẽ đưa ra các phán quyết tương tự như nhau. Bên cạnh đó, án
lệ mang lại hiệu quả tích cực cho hoạt động xét xử khi Tòa án cấp cao
nhất đã đưa ra một cách giải quyết một vấn đề pháp lý thì những Tòa án
cấp dưới không cần thiết phải lãng phí thời gian và nguồn lực để xem
xét, đánh giá và đưa ra cách giải quyết với vấn đề pháp lý tương tự như
vấn đề pháp lý đã được Tòa án cấp cao nhất giải quyết.
3. Các nguyên tắc áp dụng án lệ
Trong hoạt động xét xử, việc áp dụng án lệ không phải
là một hoạt động kỹ thuật đơn thuần mà đều dựa trên một số nguyên tắc
nhất định. Thông thường các Thẩm phán dựa vào những nguyên tắc sau đây
để xác định một án lệ nào đó có phải là án lệ mà họ bắt buộc phải áp
dụng để giải quyết vụ án mà họ đang xét xử hay không. Các nguyên tắc đó
là: (i) Tòa án cấp thấp hơn bắt buộc tuân theo các phán quyết của các
Tòa án cấp cao hơn trong cùng một hệ thống; (ii) Một Thẩm phán không bắt
buộc phải tuân theo phán quyết của Thẩm phán khác trong cùng một cấp
Tòa án và trong cùng một hệ thống Tòa án; (iii) Một Thẩm phán không bắt
buộc phải tuân theo các phán quyết của Tòa án cấp cao hơn nhưng không
cùng một hệ thống Tòa án, mặc dù những phán quyết đó có thể tham khảo;
(iv) Tòa án cao nhất của một hệ thống Tòa án có thể hủy bỏ những phán
quyết trước đây của chính Tòa án đó trong trường hợp để bảo lệ công lý
hoặc phán quyết đó rõ ràng là sai; (v) chỉ một phần của phán quyết được
gọi theo thuật ngữ Latinh là ratio decidendi-tức là các lý do làm cơ sở
xác lập phán quyết mới có hiệu lực bắt buộc áp dụng; (vi) các ý kiến
khác mang tính tổng quát về một vấn đề chung của pháp luật có liên quan
hoặc được bổ sung hoặc những vấn đề không quan trọng trong vụ án được
gọi theo thuật ngữ Latin là obiter dicta không mang tính bắt buộc áp
dụng nhưng có thể tham khảo khi giải quyết vụ án.
4. Mối quan hệ giữa án lệ và các đạo luật do Quốc hội ban hành
Án lệ và các đạo luật do Quốc hội ban hành có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc các đạo luật luôn có giá trị
pháp lý cao hơn án lệ. Nguyên tắc này là biểu hiện trên thực tế của
nguyên tắc giám sát tối thượng của Quốc hội đối với hoạt động của Tòa án
mà nếu xét về nguồn gốc lịch sử thì nguyên tắc này vốn là kết quả của
sự giải quyết mâu thuẫn về quyền lực giữa Vua nước Anh, Stuart, hệ thống
Tòa án và Quốc hội vào thế kỷ thứ 17. Nguyên tắc này luôn là cánh cửa
mở cho Quốc hội thực hiện việc thay đổi các nguyên tắc pháp luật được
xác lập bởi án lệ bằng việc ban hành các đạo luật hoặc đưa ra cách giải
thích về một hoặc một số quy định của pháp luật. Trong khi đó, hệ thống
Tòa án có trách nhiệm giải quyết các tranh cãi pháp lý về các định
nghĩa, khái niệm trong các quy định của các đạo luật bằng việc sử dụng
án lệ và Luật về giải thích nghĩa của từ, ngữ trong các đạo luật-một đạo
luật được ban hành nhằm chuẩn hóa cách thức giải thích nội dung từ, ngữ
trong các đạo luật. Đồng thời, bằng việc giải thích các từ ngữ của các
đạo luật, Tòa án bảo đảm rằng cơ quan lập pháp cần phải tuân thủ các quy
định của Hiến pháp về các thủ tục, trình tự ban hành các đạo luật.
III. Xác lập, áp dụng án lệ ở Tòa án Australia
Như đã nói ở trên, án lệ được xác lập bởi các tòa án:
Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án tối cao tiểu bang và
Tòa phúc thẩm của tiểu bang. Sau đây là một số ví dụ về việc xác lập án
lệ của Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án tối cao bang Victoria, áp dụng
án lệ của Tòa phúc thẩm bang New South Wales.
1. Xác lập án lệ tại Tòa án tối cao Liên bang
Thông thường Tòa án tối cao Liên bang xác lập án lệ
thông qua các phán quyết phúc thẩm các kháng cáo các phán quyết của Tòa
án Liên Bang, Tòa án tối cao tiểu bang. Sau đây là một ví dụ mà Tòa án
tối cao Liên Bang xác lập một án lệ thông qua việc xét xử phúc thẩm
kháng cáo đối với phán quyết của Tòa án tối cao bang Victoria trong vụ
án Dow Jones v Gutnick. Vụ án này có thể tóm tắt như sau:
Bị đơn
kháng cáo là Dow Jones-nhà xuất bản của Thời báo Phố Wall (Wall Street
Journal) và một tạp chí xuất bản định kỳ có tên là Tạp chí Barrons
(Barrons Magazine). Tạp chí này được xuất bản trực tuyến và đăng ký hoạt
động tại bang New Jersey, Mỹ, nơi có máy chủ mà trang web của tạp chí
này được đặt trên đó. Tạp chí Barrons cung cấp cho khoảng 550 nghìn
khách hàng, bao gồm một số khách hàng cư trú tại tiểu bang Victoria,
Australia, có đăng ký mua các bài viết online của tạp chí. Các bài viết
trên tạp chí không được đăng tải trên trang web của tạp chí theo cách
thức bất kỳ ai cũng có thể xem được, đọc được. Chỉ có những khách hàng
trả tiền mua bài viết mới được tạp chí cung cấp tên và mật mã đăng nhập
để xem, đọc, lưu trữ bài viết. Nguyên đơn không kháng cáo là Joe
Gutnick, một doanh nhân Australia cư trú tại bang Victoria, Australia.
Nguyên đơn là một doanh nhân thành đạt có tiếng trong kinh doanh, làm từ
thiện và cả trong lĩnh vực tôn giáo. Hoạt động kinh doanh của nguyên
đơn chủ yếu liên quan với Mỹ. Ngày 29/10/2000, tạp chí Barron đăng một
bài báo có tựa đề “Unholy Gains” kèm ảnh chụp nguyên đơn. Nguyên đơn đã
khởi kiện bị đơn tại Tòa án tối cao tiểu bang Victoria vì cho rằng bị
đơn đã xúc phạm danh dự nhân phẩm của nguyên đơn. Cụ thể bài báo nói
trên đã cáo buộc nguyên đơn là khách hàng thường xuyên của một tên tội
phạm nổi tiếng tên là Nachum Goldberg đang bị giam giữ về tội rửa tiền
và trốn thuế tại Mỹ. Bài báo còn cho rằng nguyên đơn đã giả vờ là một
công dân đáng kính trong khi thực sự là một tên tội phạm trốn thuế và
nguyên đơn đã rửa một khoản tiền lớn thông qua Nachum Goldberg và nguyên
đơn đã mua sự im lặng của tên tội phạm này.
Bị đơn đã khiếu nại
hai vấn đề lên Tòa án tối cao Liên Bang: (i) nơi xuất bản bài báo mà
nguyên đơn cho rằng đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn và
(ii) thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang Victoria đối với vụ kiện
của nguyên đơn. Về nội dung thứ nhất liên quan đến nơi xuất bản bài
báo, bị đơn cho rằng bài báo được xuất bản tại bang New Jersey khi bài
báo được đưa lên máy chủ nơi trang web của tạp chí Barron được lưu trữ.
Đối với vấn đề thứ hai là thẩm quyền xét xử, bị đơn cho rằng Tòa án tối
cao tiểu bang Victoria, Australia không có thẩm quyền xét xử vụ án vì
bài báo được xuất bản tại Mỹ. Theo Luật về bồi thường thiệt hại do danh
dự nhân phẩm bị xúc phạm thì việc xúc phạm xảy ra ở đâu, luật ở đó sẽ
được áp dụng. Việc xúc phạm nguyên đơn xảy ra ở New Jersey, Mỹ thì Tòa
án có thẩm quyền là Tòa án New Jersey, Mỹ chứ không phải là Tòa án tối
cao bang Victoria.
Nguyên đơn phản bác rằng việc bị đơn đưa bài
viết lên máy chủ của tạp chí và làm cho bài viết có thể tải về không
phải là hành vi xuất bản. Hành vi xuất bản của bài viết chỉ được xác lập
khi và chỉ khi bài viết được tải về và hiển thị lên trên máy tính của
người đọc và người tải về đã đọc nó. Như vậy bài viết được coi là xuất
bản ở Australia chỉ khi khách hàng ở Australia đã tải được bài viết và
họ đã đọc được những lời xúc phạm nguyên đơn từ bài viết.
Bị đơn
phản bác ý kiến của nguyên đơn và cho rằng bị đơn không xuất bản bài
báo ở bang Victoria, Australia. Hành vi tải bài báo từ máy chủ về không
phải là hành vi xuất bản. Sẽ là không công bằng cho bị đơn nếu người đọc
từ các nước khác nhau tải bài báo về để đọc mà việc tải đó lại được cho
là hành vi xuất bản. Như vậy, bị đơn sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị
kiện ở rất nhiều nơi khác nhau.
Tòa án tối cao tiểu bang Victoria do Thẩm Phán Hedigan chủ tọa đã phán quyết về hai vấn đề trên như sau:
Thứ nhất, về nơi xuất bản ấn phẩm xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác.
Tòa
kết luận rằng pháp luật về xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác trong
nhiều thế kỷ đã khẳng định việc xuất bản ấn phẩm xúc phạm đến người khác
xảy ra khi và tại địa điểm mà các nội dung của ấn phẩm được nói ra,
được thấy, được nghe và được người đọc, người nghe hiểu nội dung đó. Ấn
phẩm xuất bản thông qua phương thức Internet được coi là xuất bản khi ấn
phẩm đó được tải về và người tải về có thể đọc được, nghe được, và nhìn
thấy được. Tòa cũng xác định rằng một người bị xúc phạm danh dự nhân
phẩm tại nơi thực hiện xuất bản ấn phẩm có nội dung xúc phạm tới người
đó. Nguyên đơn là người Australia, sinh sống tại Melbourne, bang
Victoria, nơi mà nguyên đơn được nhiều người biết đến nhất. Nơi nguyên
đơn sinh sống đồng thời cũng là nơi có khách hàng tải bài báo xúc phạm
về để đọc. Do đó, khi bài báo đã được đọc tại nơi nguyên đơn sinh sống
có nghĩa là danh dự nhân phẩm của nguyên đơn bị tổn hại tại chính nơi
này.
Thứ hai, về thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang
Victoria khi bị đơn không cư trú tại bang Victoria, Australia. Tòa án
phán quyết rằng theo Lệnh số 7 của Tòa án tối cao bang Victoria thì Tòa
án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xâm phạm danh dự nhân phẩm kể cả
trường hợp bị đơn không cư trú nơi Tòa án có thẩm quyền (ngoài lãnh thổ
Australia). Trong trường hợp này, nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện
nơi nguyên đơn bị xâm phạm danh dự nhân phẩm là bang Victoria. Nguyên
đơn đồng thời từ bỏ không khởi kiện bị đơn tại bất kỳ nơi nào khác, kể
cả tại Mỹ. Do đó, Tòa án tối cao của bang Victoria có thẩm quyền xét xử.
Bị đơn đã làm đơn xin kháng cáo lên Tòa phúc thẩm của Tòa án
tối cao bang Victoria nhưng đã bị Tòa này từ chối vì cho rằng phán quyết
của Thẩm phán Hedigan là chính xác, không có cơ sở chấp nhận cho bị đơn
kháng cáo. Bị đơn tiếp tục kháng cáo lên Tòa án tối cao Liên bang với
hai khiếu nại như trên về nơi xuất bản và thẩm quyền xét xử của Tòa án
tối cao bang Victoria. Tòa án tối cao Liên Bang với Hội đồng xét xử gồm 7
Thẩm phán đã bác nội dung kháng cáo của bị đơn và phán định rằng những
phán quyết của Tòa án tối cao bang Victoria về nơi xuất bản ấn phẩm xúc
phạm danh dự nhân phẩm người khác và thẩm quyền xét xử của Tòa án tối
cao bang Victoria đối với yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn chính xác.
Như vậy, khi Tòa án tối cao Liên bang phán quyết chấp nhận những lý do
mà Tòa án tối cao tiểu bang Victoria, Australia đưa ra về thời gian và
địa điểm xảy ra việc xúc phạm danh dự nhân phẩm và thẩm quyền xét xử của
Tòa án này đối với vụ kiện giữa nguyên đơn Gutnick với nhà xuất bản Dow
Jones thì phán quyết đó (hay còn gọi là án lệ) có hiệu lực bắt buộc
tuân thủ và áp dụng đối với Tòa án Liên Bang, các Tòa án tối cao tiểu
bang và vùng lãnh thổ khi các tòa án này xét xử các vụ án có những tình
tiết khách quan quan trọng tương tự như vụ án này.
2. Xác lập án lệ tại Tòa án tối cao của tiểu
bang và vùng lãnh thổ; áp dụng án lệ tại Tòa phúc thẩm của tiểu bang và
vùng lãnh thổ
Tại tiểu bang và vùng lãnh thổ thì việc xác lập án lệ
được thực hiện bởi Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó.
Khi án lệ được xác lập thì các tòa án phúc thẩm, Tòa án quận hạt của
tiểu bang và vùng lãnh thổ đều phải tuân thủ áp dụng khi xét xử các vụ
án có tranh chấp về những nội dung pháp lý tương tự như vụ án đã được
xét xử. Sau đây là một ví dụ về việc xác lập án lệ, áp dụng án lệ trong
một số vụ án hình sự liên quan đến việc nạo thai. Theo quy định tại các
điều 82, 83 và 84 của Luật hình sự năm 1900 của bang New South Wales và
Điều 65 và Điều 66 của Luật hình sự năm 1958 của Bang Victoria thì hành
vi nạo thai bất hợp pháp và hành vi cung cấp các dụng cụ, thuốc hoặc
chất độc để dùng trong việc nạo thai là hành vi phạm tội. Tại bang
Victoria, Australia trong vụ án R kiện Davidson năm 1969, bị cáo
Davidson nguyên là một bác sỹ, bị buộc tội đã có hành vi nạo thai bất
hợp pháp. Tuy nhiên, Thẩm phán Menhennitt của Tòa án tối cao bang
Victoria đã bác bỏ lời kết tội đối với Davidson. Thẩm phán Menhennitt
cho rằng Luật hình sự năm 1958 không định nghĩa thế nào là “bất hợp
pháp” tại các điều luật 65 và 66 và khi điều luật quy định nghiêm cấm
các hành vi nạo thai “bất hợp pháp” thì cũng có nghĩa rằng có những hành
vi “nạo thai hợp pháp” mà luật cho phép. Đồng thời Thẩm phán này cũng
cho rằng có thể định nghĩa hành vi nạo thai “bất hợp pháp” bằng cách xác
định thế nào là hành vi nạo thai “hợp pháp”. Để xác định hành vi nạo
thai “hợp pháp” Thẩm phán Menhennitt đã viện dẫn một phán quyết của Anh
quốc trong vụ kiện R kiện Bourne năm 1939. Trong vụ án R kiện Bourne, bị
cáo-bác sỹ Bourne đã bị buộc tội nạo thai trái phép cho một bé gái 14
tuổi mang thai do bị hãm hiếp. Tuy nhiên, do quy định của Luật hình sự
của Anh nghiêm cấm việc “nạo thai bất hợp pháp” mà cũng không định nghĩa
thế nào là “bất hợp pháp” cho nên khi xét xử, Thẩm phán Macnaughten cho
rằng, trong một số trường hợp “bác sỹ nạo thai là hợp pháp”. Thẩm phán
này đã viện dẫn Luật về hủy bỏ trẻ sơ sinh năm 1929 của Anh quốc có quy
định một trường hợp việc hủy bỏ trẻ sơ sinh (nạo thai) là hợp pháp nếu
được thực hiện để bảo vệ sự sống của bà mẹ. Dựa trên cơ sở quy định đó,
Tòa án của Anh quốc đã phán quyết rằng bị cáo-bác sỹ Bourne đã tiến hành
nạo thai hợp pháp cho khách hàng vì bác sỹ đó có lý do hợp lý, với một
hiểu biết đúng đắn để tin tưởng rằng việc nạo thai là cần thiết nhằm bảo
vệ thể chất hoặc tinh thần của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy
hiểm đến tính mạng của bà mẹ đó nếu tiếp tục giữ thai nhi. Do đó, hành
vi thực hiện nạo thai của bị cáo-bác sỹ Bourne là hành vi nạo thai hợp
pháp. Dựa trên phán quyết này, Thẩm phán Menhennitt đã phán quyết rằng
hành vi nạo thai của bác sỹ Davidson là hành vi hợp pháp với lý do tương
tự nêu trong phán quyết củavụ án R kiện Bourne của Tòa án Anh Quốc.
Phán quyết của Thẩm phán Menhennitt xác định 2 điều kiện để hành vi nạo
thai là hợp pháp: (i) Bác sỹ tiến hành nạo thai tin tưởng trung thực một
cách có cơ sở hợp lý rằng việc đó là cần thiết để duy trì sức khỏe thể
chất và tinh thần cho bà mẹ và (ii) việc nạo thai đó được tiến hành
trong những trường hợp mà rủi ro c��a việc tiến hành nạo thai không lớn
hơn hậu quả của việc vẫn giữ thai nhi mang lại. Năm 1971, Thẩm phán
Levine trong vụ án R kiện Wald tại Tòa án quận hạt của bang New South
Wales cũng đã áp dụng và đã phát triển thêm nội hàm của phán quyết của
vụ án R kiện Davidson của Tòa án tối cao bang Victoria. Thẩm phán Levine
cho rằng cần quan tâm đến những đe dọa nguy hiểm từ các khía cạnh kinh
tế, xã hội hoặc các lý do khác tại thời điểm bà mẹ mang thai để bồi thẩm
đoàn quyết định rằng việc nạo thai là cần thiết hoặc không cần thiết để
duy trì sức khỏe của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy hiểm đến
tính mạng của bà mẹ mang thai nếu tiếp tục giữ thai nhi. Những đe dọa
đến tính mạng của bà mẹ mang thai có thể xảy ra tại thời điểm bác sỹ
khám thai hoặc xảy ra tại bất kỳ một thời điểm nào trong cả quá trình
mang thai nếu bà mẹ vẫn giữ thai nhi. Phán quyết của vụ án R kiện
Davidson Tòa án tối cao bang Victoria đã được áp dụng trong các vụ kiện
CES v SuperClinics năm 1995 tại Tòa phúc thẩm của bang New South Wales
và vụ kiện R v Sood năm 2006 tại Tòa án tối cao bang New South Wales.
Trong vụ kiện CES v SuperClinics năm 1995, Thẩm phán Kirby của Tòa phúc
thẩm của Tòa án tối cao bang New South Wales phán quyết rằng bác sỹ phụ
sản cần quan tâm đến những đe dọa đến tính mạng của bà mẹ mang thai có
thể xảy ra sau khi mang thai và trong quá trình mang thai. Do những phán
quyết trên của Tòa án nên hiện nay việc nạo thai được thực hiện bởi
những bác sỹ sản khoa có uy tín là khá phổ biến và quy định hành vi nạo
phá thai là tội phạm được coi là không còn hiệu lực áp dụng khi trên
thực tế không hề có một vụ nạo thai nào bị truy tố thêm tính từ khi có
các phán quyết nói trên ở hai bang New South Wales và Victoria của
Australia. Trên thực tế, sau các phán quyết nói trên đến trước năm 2008,
Quốc hội của hai bang này không tiến hành sửa đổi quy định của Luật
hình sự về hành vi nạo phá thai. Tuy nhiên, năm 2008, Quốc hội bang
Victoria đã ban hành Luật cải cách về nạo thai. Luật này đã hợp pháp hóa
việc nạo thai trong các trường hợp sau: (i) việc nạo thai do bác sỹ sản
khoa có đăng ký hành nghề tiến hành đối với những phụ nữ mang thai mà
thai kỳ thai nhi chưa vượt quá tuần thứ hai mươi bốn; (ii) việc nạo thai
do bác sỹ sản khoa có đăng ký hành nghề tiến hành đối với những phụ nữ
mang thai mà thai kỳ thai nhi vượt quá tuần thứ hai mươi bốn nếu có lý
do để tin tưởng rằng việc nạo thai là đúng đắn trong mọi trường hợp và
bác sỹ này ít nhất cũng đã được một bác sỹ sản khoa khác có đăng ký hành
nghề tư vấn rằng họ cũng có lý do để tin tưởng việc nạo thai đó là đúng
trong mọi trường hợp.
Từ những ví dụ trên, có thể thấy rằng các
phán quyết của Tòa án đã giải quyết được “khoảng trống” của pháp luật
bằng việc đưa ra phán quyết định nghĩa một hoặc một số khái niệm cụ thể
của quy định của đạo luật mà Tòa án áp dụng để giải quyết một vụ án cụ
thể. Phán quyết đó giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến
việc áp dụng hoặc giải thích các nguyên tắc pháp luật hoặc một điều luật
cụ thể. Phán quyết đó được gọi là án lệ để các Tòa án cấp thấp hơn tuân
theo và áp dụng khi giải quyết những vụ án có tình tiết khách quan
tương tự. Trong các ví dụ nêu trên, phán quyết của Tòa án khi trở thành
án lệ còn có ý nghĩa thúc đẩy Quốc hội xây dựng, ban hành các văn bản
luật điều chỉnh những vấn đề mà án lệ đã giải quyết.
3. Áp dụng án lệ tại Tòa án cấp sơ thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ
Có thể nói rằng Tòa án cấp sơ thẩm ít khi được toàn
quyền quyết định việc áp dụng luật pháp để giải quyết các vụ việc. Thông
thường việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm đề giải quyết các
vụ việc là áp dụng án lệ của các Tòa án cao nhất-Tòa án tối cao của tiểu
bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang cũng như Tòa án Liên Bang và Tòa
án tối cao Liên Bang. Giả định rằng, Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc
Tòa phúc thẩm của tiểu bang đã ra phán quyết về một vấn đề pháp lý trong
một vụ án cụ thể. Sau đó, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết một vụ
án mà có vấn đề về pháp lý tương tự như vụ án mà Tòa án tối cao của tiểu
bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang giải quyết. Trong trường hợp này
thì Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cách giải quyết về vấn đề pháp lý đó của
Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang. Ví dụ sau
có thể làm rõ cách thức áp dụng án lệ của Tòa án cấp sơ thẩm. Giả định
rằng Quốc Hội tiểu bang New South Wales ban hành một đạo luật nghiêm cấm
các hành vi không lành mạnh nơi công cộng. Đạo luật này có điều luật X
quy định như sau: “bất kỳ người nào có hành vi không lành mạnh ở nơi
công cộng thì bị coi là phạm tội. Người vi phạm bị phạt tiền 500 Đồng
Australia. Tuy nhiên, Đạo Luật này không có điều khoản nào giải thích
thế nào là “hành vi không lành mạnh”. Trong một vụ án, cảnh sát đã bắt
giữ một thanh niên tên là A có hành vi nhảy múa trên đường phố vào lúc 2
giờ sáng. Lý do bắt giữ là thanh niên này đã phạm tội quy định tại điều
X của Đạo Luật nói trên. Vụ án sau nhiều lần xét xử đã được xem xét ở
Tòa án tối cao bang New South Wales. Tòa án Tòa án tối cao bang New
South Wales đã phán quyết rằng hành vi nhảy múa của bị cáo A vào lúc hai
giờ sáng trên đường phố không phải là hành vi không lành mạnh. Phán
quyết này của Tòa án tối cao bang New South Wales có hiệu lực áp dụng
bắt buộc đối với các tòa án sơ thẩm và tòa án quận hạt của tiểu bang New
South Wales. Sau phán quyết này, Tòa án sơ thẩm vùng Bankstown của
thành phố Sydney thuộc tiểu bang New South Wales xét xử một vụ án mà bị
cáo B bị bắt giữ vì có hành vi không lành mạnh là nhảy múa ở vỉa hè một
con phố vào lúc 2 giờ sáng. Tòa án sơ thẩm vùng Bankstown thấy rằng tình
tiết vụ án này tương tự như tình tiết vụ án mà Tòa án tối cao bang New
South Wales đã phán quyết như đã nói ở trên. Trong vụ án này, bị cáo
cũng viện dẫn phán quyết của Tòa án tối cao của Bang để chứng minh hành
vi của bị cáo là lành mạnh. Tuy nhiên, phía cảnh sát cho rằng phán quyết
của Tòa án tối cao của Bang không được áp dụng vào vụ án này bởi lẽ
trong vụ án của Tòa án tối cao của Bang, bị cáo A nhảy múa “ở giữa phố”;
còn bị cáo B trong vụ án này lại nhảy múa trên vỉa hè. Tòa án sơ thẩm
vùng Bankstown phán quyết rằng hành vi nhảy múa của bị cáo B trên vỉa hè
không phải là “hành vi không lành mạnh” với dẫn chiếu phán quyết của
Tòa án tối cao bang New South Wales với bị cáo A. Tòa lý giải thêm vỉa
hè của phố mà bị cáo có hành vi nhảy múa là một phần gắn liền với phố
đó. Do đó, án lệ của Tòa án tối cao của Bang được áp dụng để giải quyết.
Từ ví dụ này, có thể thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết
vụ việc, chỉ cần tuân thủ và áp dụng những án lệ đã có từ trước, nếu
tình tiết hai vụ án có nhiều tình tiết quan trọng tương tự như nhau. Tuy
nhiên, công bằng mà nói đây chỉ là ví dụ đơn giản nhất để giúp người
đọc có thể hiểu một cách cơ bản về việc áp dụng án lệ. Trên thực tế,
việc áp dụng án lệ rất phức tạp và khó khăn và phải tuân thủ một số
nguyên tắc nhất định. Việc áp dụng án lệ khó khăn hơn khi phải phân
tích, đánh giá tại sao một án lệ cụ thể nào đó không được áp dụng vào vụ
việc đang được giải quyết hoặc chưa có án lệ cho vụ việc đó. Trên thực
tế, một phán quyết hiện tại của Tòa án có thể là án lệ hoặc có thể
không. Sự khác biệt này chỉ có thể tồn tại khi có cách thức xác định án
lệ-cách thức cho thấy những sự kiện, tình tiết trong quá khứ là tương tự
với những sự kiện, tình tiết hiện tại. Khi đánh giá hiệu lực của án lệ
hiện tại trong tương lai, chúng ta thường dự đoán trước rằng sẽ có những
dữ kiện tương lai tương tự như những dữ kiện của án lệ hiện tại. Tuy
nhiên, có thể khẳng định rằng không có các sự kiện hoàn toàn giống nhau.
Điều kiện để một phán quyết của Tòa án trở thành một án lệ không đòi
hỏi rằng các tình tiết khách quan của vụ án được giải quyết trước và của
vụ án được giải quyết sau là hoàn toàn tuyệt đối giống nhau. Với cách
tiếp cận như vậy thì tính liên quan của một án lệ của vụ án trước đối
với vụ án sau phụ thuộc vào cách xác định các tình tiết khách quan của
hai vụ án này, theo đó chỉ cần xác định những tính tiết nào tương tự như
nhau mà quan trọng, còn những tình tiết khác thì có thể bỏ qua. Vì vậy,
cần hiểu rằng việc áp dụng án lệ không phải là một việc làm đơn thuần
mang tính kỹ thuật là tìm kiếm một vụ án giống hoặc tương tự một vụ án
khác.
Trong trường hợp chưa có án lệ của tiểu bang, Liên Bang
thì Thẩm phán có thể dẫn chiếu án lệ của Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm
của tiểu bang khác với điều kiện án lệ đó có tính “tham khảo rất
cao”.Nghĩa là vụ án đang giải quyết và vụ án có án lệ được dẫn chiếu có
nhiều tình tiết quan trọng tương tự như nhau và vấn đề pháp lý cần được
giải quyết trong hai vụ án là giống nhau. Về mặt lý thuyết thì có thể
Tòa án sơ thẩm tiểu bang sẽ đối mặt với những vụ án mà cách thức giải
quyết vụ án đó chưa có án lệ của Tòa án tiểu bang, Liên Bang hoặc luật
của Quốc hội tiểu bang điều chỉnh. Trong trường hợp này, thì Thẩm phán
rất ngại ngần đưa ra phán quyết có giá trị như án lệ, bởi lẽ theo học
thuyết án lệ thì chỉ những Tòa án tối cao của tiểu bang, Tòa án phúc
thẩm của tiểu bang, Tòa án Liên Bang và Tòa án tối cao Liên Bang mới có
thẩm quyền xác lập án lệ. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án sơ thẩm tiểu
bang ít khi gặp phải những vụ việc này.
IV. Án lệ trong hệ thống Tòa án Australia
Phần này sẽ giới thiệu, phân tích, đánh giá sự ảnh
hưởng của nước Anh trong việc xác lập, áp dụng án lệ của Australia; án
lệ trong hệ thống Tòa án Liên Bang và hệ thống Tòa án tiểu bang của
Australia.
1. Hội đồng cơ mật của Vương quốc Anh
Đối với Australia, sự thay đổi quan trọng nhất trong
việc áp dụng án lệ trong vòng 30 năm qua là sự thay đổi mà theo đó Tòa
án tối cao Liên Bang Australia có thẩm quyền giải quyết các tranh cãi về
áp dụng pháp luật, án lệ. Cho đến những thập niên 70 và 80 của thế kỷ
20 thì Ủy Ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật của Vương quốc Anh vẫn được
xem là Tòa án cao nhất xem xét giải quyết các các tranh cãi về áp dụng
pháp luật, án lệ trong tất cả các lĩnh vực luật pháp của Australia.
Trong một thời gian khá dài, tất cả các quyết định của Ủy ban Tư pháp
của Hội đồng Cơ Mật liên quan đến bất kỳ nguyên tắc cơ bản của pháp luật
được xác lập trong các phán quyết của Tòa án đều có hiệu lực bắt buộc
đối với tất cả các tòa án, kể cả Tòa án Liên Bang, các tòa án tiểu Bang
và vùng lãnh thổ của Australia. Tuy nhiên theo thời gian, việc kháng cáo
lên Ủy ban Tư Pháp đã bị hạn chế bằng việc Quốc hội Liên Bang ban hành
một số đạo luật như Đạo Luật hạn chế phúc thẩm năm 1968, theo đó Luật
này sẽ hạn chế việc kháng cáo yêu cầu Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật
giải quyết đối với các phán quyết của Tòa án Liên Bang và Tòa án tối
cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ; Đạo Luật hạn chế phúc thẩm năm 1975,
nhằm hạn chế việc kháng cáo yêu cầu Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật
giải quyết đối với các phán quyết của Tòa án tối cao Liên Bang. Cuối
cùng, vai trò của Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật đối với hệ thống
Tòa án Australia bị chấm dứt khi Quốc hội Liên Bang Australia ban hành
đạo luật Australia Act năm 1985. Vai trò của Hội đồng Cơ Mật đối với Tòa
án Australia đã thay đổi xuất phát từ việc Vương quốc Anh là thành viên
của Ủy Ban Châu Âu và Liên Minh Châu Âu và sự gia tăng ảnh hưởng của
luật pháp của Liên Minh Châu Âu đối với sự phát triển luật pháp của
Vương quốc Anh. Kết quả của sự thay đổi này là sự giảm thiểu vai trò án
lệ của Vương quốc Anh đối với sự phát triển của luật pháp Australia
trong tương lai. Sự giảm thiểu này có thể thấy thông qua việc Tòa án tối
cao Liên Bang Australia và các tòa án khác của Australia ngày càng ít
sử dụng án lệ của Vương quốc Anh. Hiện nay, sự phát triển của luật pháp
của Australia chủ yếu dựa trên các quyết định của Quốc hội, Tòa án và sự
giải thích, áp dụng và phát triển của án lệ của Australia với vai trò
không thể tranh cãi của Tòa án tối cao Liên Bang Australia như là nguồn
chính của pháp luật có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với toàn bộ hệ
thống Tòa án Australia.
2. Án lệ trong hệ thống Tòa án cấp Liên Bang
a. Tòa án tối cao Liên Bang
Tòa án tối cao Liên Bang là tòa án cao nhất trong hệ
thống Tòa án của Australia. Tòa án tối cao Liên Bang được thành lập năm
1901 trên cơ sở quy định tại Điều 71 của Hiến pháp Australia. Tòa án tối
cao Liên Bang có chức năng giải thích và áp dụng pháp luật của
Australia; xét xử các vụ án đặc biệt thuộc thẩm quyền liên bang bao gồm
các vụ án liên quan đến hiệu lực pháp luật của một đạo luật cụ thể và
liên quan đến cách giải thích Hiến pháp; xét xử phúc thẩm các vụ án từ
Tòa án Liên Bang, Tòa án tiểu bang và vùng lãnh thổ; xét xử sơ thẩm một
số vụ án khác. Tòa án tối cao Liên Bang là Tòa án xét kháng cáo phúc
thẩm cuối cùng của hệ thống tòa án của Australia. Quyết định phúc thẩm
của Tòa án tối cao Liên Bang là quyết định cuối cùng và có tính bắt buộc
tuân thủ đối với các Tòa án Liên Bang, các Tòa án của tiểu bang. Tòa án
tối cao Liên Bang có thẩm quyền hủy bỏ tất cả các phán quyết của Tòa án
Liên Bang, các Tòa án của tiểu bang cũng như có thể hủy bỏ án lệ của
chính nó trong một số trường hợp đặc biệt.
Thực tiễn xét xử tại
Tòa án tối cao Liên Bang cho thấy khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán không
bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng án lệ được xác lập bởi Thẩm phán Tòa
án tối cao Liên Bang trong các phán quyết trước đó. Tuy nhiên, Thẩm phán
này phải tuân thủ án lệ phúc thẩm do “Full Court” của Tòa án tối cao
Liên Bang xác lập. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án tối cao Liên
Bang mà khi xét xử thì phải có từ hai Thẩm phán trở lên thực hiện. Trên
thực tế, khi xét xử “Full Court” của Tòa án tối cao Liên Bang không bắt
buộc tuân thủ và áp dụng các án lệ của chính nó đã được xác lập trong
các phán quyết trước. Như đã nói ở trên, Tòa án tối cao Liên Bang có thể
hủy bỏ án lệ do chính Tòa án này xác lập từ trước. Tuy nhiên, việc hủy
bỏ án lệ không thể tiến hành bằng một Thẩm phán. Nói cách khác việc hủy
bỏ án lệ chỉ có thể tiến hành bởi Hội đồng xét xử có ít nhất hai Thẩm
phán trở lên. Trong trường hợp này, các Thẩm phán thường gọi những án lệ
bị hủy bỏ là “sai lầm cơ bản”, “rõ ràng là sai” để nhấn mạnh tính ngoại
lệ của việc hủy bỏ đó. Tòa án tối cao Liên Bang tuyên bố rằng việc hủy
bỏ án lệ chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt và được tiến
hành một cách cẩn trọng. Việc Tòa án tối cao Liên Bang hủy bỏ án lệ của
chính Tòa án này không được tiến hành thường xuyên mà chỉ diễn ra trong
một số trường hợp đặc biệt. Trên thực tế, Tòa án tối cao Liên Bang không
đặt ra bất kỳ một quy tắc chung cho việc tiến hành hủy bỏ án lệ nhưng
tại vụ án Commonwealth v. Hospital Contribution Fund năm 1982, Chánh án
Tòa án tối cao Liên Bang Gibbs với 2 Thẩm phán tối cao Liên Bang khác là
Stephen và Aickin cùng thống nhất cho rằng có 4 lý do để một án lệ bị
hủy bỏ. Các lý do cụ thể đó là: (i) án lệ đó đã dựa trên một nguyên tắc
pháp lý mà nguyên tắc này đã không được đánh giá cẩn thận, đầy đủ trong
quá trình xét xử vụ án này; (ii) Sự khác nhau giữa những lý do mà các
Thẩm phán đưa ra về việc giải quyết vấn đề pháp lý của vụ án; (iii) án
lệ đã không mang lại một sự thuận tiện trong việc tuân thủ và áp dụng;
(iv) án lệ đã không thể hiện được sự độc lập trong quá trình xem xét lại
chính án lệ này.
Bên cạnh đó, việc hủy bỏ án lệ có thể tiến
hành khi Quốc hội ban hành luật liên quan đến các nguyên tắc pháp lý,
cách giải thích một điều luật được xác lập bởi án lệ. Tuy nhiên, đối với
án lệ liên quan đến Hiến pháp thì không thể bị hủy bỏ bởi việc ban hành
luật của Quốc hội. Những án lệ này có thể bị hủy bỏ, sửa đổi hoặc diễn
giải theo nhiều các nhau trong tương lai khi Hiến pháp được sửa đổi.
b. Tòa án Liên Bang
Tòa án Liên Bang được thành lập trên cơ sở Đạo luật
về Tòa án Liên Bang được ban hành năm 1976. Tòa án Liên Bang bắt đầu
hoạt động từ ngày 01 tháng 2 năm 1977. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Liên
Bang được xác lập từ một phần thẩm quyền xét xử vốn là của các Tòa án
như Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án sở hữu công nghiệp Liên Bang và Tòa
phá sản Liên Bang. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Liên Bang đối với các
vụ việc được ghi nhận tại hơn 150 đạo luật khác nhau do Quốc hội Liên
Bang thông qua. Tòa án Liên Bang có nhiều phân tòa khác nhau thực hiện
việc xét xử phúc thẩm. Các phân tòa này có thể phúc thẩm các vụ án do
một Thẩm phán Tòa án Liên Bang xét xử sơ thẩm và các vụ án không liên
quan đến gia đình do Tòa án sơ thẩm Liên Bang xét xử sơ thẩm.
Các
vụ án do Tòa án Liên Bang có thẩm quyền xét xử sẽ do một Thẩm phán hoặc
do “Full Court” tiến hành. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án Liên
Bang mà khi xét xử thì có 3 Thẩm phán hoặc 5 Thẩm phán tham gia. Khi
việc xét xử do một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó phải tuân thủ và
áp dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án Liên Bang. Tuy nhiên, khi xét
xử, một Thẩm phán của Tòa án Liên Bang không phải tuân thủ và áp dụng
án lệ của một Thẩm phán Liên Bang khác.
c. Tòa án gia đình của Australia
Tòa án gia đình của Australia được thành lập ngày 5
tháng 1 năm 1976 trên cơ sở một đạo luật về gia đình được Quốc hội Liên
Bang ban hành năm 1975. Tòa án gia đình của Australia có thẩm quyền giải
quyết đối với các yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu hoặc hôn nhân là
hợp pháp, ly hôn, cư trú,
liên lạc, giám hộ, cấp dưỡng và tài sản liên quan đến các quan hệ nói
trên. Tòa án gia đình của Australia xét xử phúc thẩm các vụ án do Tòa án
sơ thẩm của Liên Bang xét xử sơ thẩm; phúc thẩm các phán quyết của các
Thẩm phán của Tòa án gia đình, của Tòa án gia đình bang Tây Australia.
Việc xét xử của Tòa án gia đình có thể tiến hành bởi một Thẩm phán hoặc
bởi “Full Court”. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án gia đình mà khi
xét xử thì có 3 Thẩm phán hoặc 5 Thẩm phán tham gia. Khi việc xét xử do
một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó bắt buộc phải tuân thủ và áp
dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án gia đình. Tuy nhiên, Thẩm phán
không bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng án lệ của Thẩm phán khác trong
Tòa án gia đình cũng như “Full Court” của Tòa án gia đình không bắt buộc
phải áp dụng án lệ của chính nó.
d. Tòa án sơ thẩm Liên Bang
Tòa án sơ thẩm Liên Bang được thành lập trên cơ sở
đạo luật về Tòa án sơ thẩm Liên Bang được ban hành năm 1999 và bước vào
hoạt động từ năm 2000. Tòa án sơ thẩm Liên Bang có thẩm quyền giải quyết
sơ thẩm các vụ việc liên quan đến luật gia đình và hỗ trợ trẻ em, liên
quan đến hành chính, bắt giữ hàng hải, phá sản, bản quyền, nhân quyền,
sở hữu công nghiệp, di dân, quyền riêng tư của công dân và hoạt động
thương mại. Khi xét xử, Tòa án này phải tuân thủ và áp dụng án lệ của
Tòa án gia đình Liên Bang và Tòa án Liên Bang được xác lập trong các
phán quyết phúc thẩm. Thẩm phán Tòa án sơ thẩm Liên Bang phải tuân thủ
án lệ do “Full Court” của Tòa án Liên Bang xác lập. Đồng thời, Thẩm phán
Tòa án sơ thẩm Liên Bang còn phải tuân thủ án lệ của Thẩm phán Liên
Bang xác lập trong các phán quyết phúc thẩm. Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án
sơ thẩm Liên Bang không phải tuân thủ án lệ của Thẩm phán Liên Bang xác
lập trong các phán quyết sơ thẩm.
3. Án lệ tại Tòa án của các tiểu bang và vùng lãnh thổ
Liên Bang Australia có 6 tiểu bang và 2 vùng lãnh
thổ. Mỗi tiểu bang đều có hệ thống chính quyền, lập pháp và tư pháp
riêng biệt. Hệ thống Tòa án được tổ chức như sau: Tòa án tối cao, Tòa
phúc thẩm của tiểu bang, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm tiểu bang.
a. Tòa án tối cao tiểu bang và vùng lãnh thổ
Nếu việc xét xử tại Tòa án tối cao của tiểu bang và
vùng lãnh thổ do một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó phải tuân thủ
và áp dụng án lệ của Tòa phúc thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ đó.
Đồng thời, các Thẩm phán của Tòa án tối cao tiểu bang và vùng lãnh thổ
phải tuân thủ và áp dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án Liên Bang.
Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ không
bắt buộc phải tuân thủ án lệ của các Thẩm phán khác trong cùng Tòa án
đó. Bên cạnh đó, Tòa án tối cao của mỗi tiểu bang và vùng lãnh thổ cũng
không bắt buộc phải tuân thủ án lệ xác lập bởi các tòa án tối cao của
bang và vùng lãnh thổ khác. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, trên
thực tế các Tòa án tối cao, các tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng
lãnh thổ đều có sự tham khảo hoặc áp dụng án lệ của nhau. Lý do được đưa
ra là mặc dầu các hệ thống Tòa án của các tiểu bang và vùng lãnh thổ
khác nhau về cơ cấu tổ chức, hoạt động nhưng sự khác biệt có thể giải
quyết được bởi Tòa án tối cao Liên Bang. Khi án lệ của Tòa phúc thẩm
hoặc Tòa án tối cao của một bang hoặc vùng lãnh thổ được Tòa án tối cao
Liên Bang giữ nguyên thì các Tòa án tối cao hoặc Tòa phúc thẩm bang khác
có thể viện dẫn án lệ đó. Mặt khác, trong hoạt động lập pháp, Quốc hội
của các bang và vùng lãnh thổ nói trên đã ban hành những đạo luật về một
số vấn đề về kinh tế, xã hội mà cách giải quyết của các đạo luật là có
sự giống nhau.
b. Các Tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng lãnh thổ
Các Tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng lãnh thổ
bắt buộc tuân thủ án lệ của “Full Court” của Tòa án tối cao Liên Bang.
Tuy nhiên, các Tòa phúc thẩm nói trên không bắt buộc phải tuân thủ án lệ
của Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang xác lập trong các vụ việc do một
Thẩm phán xét xử.
c. Tòa án sơ thẩm và Tòa án quận hạt của tiểu bang và vùng lãnh thổ
Tòa án sơ thẩm của ti���u bang và vùng lãnh thổ là Tòa
án thấp nhất trong hệ thống Tòa án của từng tiểu bang hoặc vùng lãnh
thổ. Khi vụ việc do Tòa án sơ thẩm của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ bị
kháng cáo thì vụ việc đó sẽ xem xét tại Tòa án quận hạt của tiểu bang
hoặc vùng lãnh thổ đó. Vấn đề đặt ra là Tòa án sơ thẩm của tiểu bang
hoặc vùng lãnh thổ có bắt buộc tuân thủ và áp dụng các phán quyết của
Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó hay không? Vấn đề
này đã được Thẩm phán Grove của Tòa án tối cao của bang New South Wales
phán quyết trong vụ án Valentine v Eid năm 1992 rằng án lệ không áp dụng
giữa hai cấp tòa án này bởi các lý do sau: (i) Các phán quyết của Tòa
án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ không phải là nguồn của án
lệ; (ii) Các phán quyết của Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh
thổ ít khi được tuyển chọn và biên tập lại thành các báo cáo. Tuy
nhiên, Thẩm phán Grove cũng cho rằng mặc dù không bắt buộc tuân thủ các
phán quyết của Tòa án quận hạt nhưng các Tòa sơ thẩm có thể tham khảo
hoặc xử lý tương tự như các phán quyết của Tòa án quận hạt, ngoại trừ
trường hợp có căn cứ rõ ràng rằng phán quyết của Tòa án quận hạt rõ ràng
là sai.
4. Áp dụng án lệ của các nước thuộc hệ thống thông luật khác
Các án lệ của các nước thuộc hệ thống thông luật như
Mỹ, Anh, New Zealand và Canada thường được dẫn chiếu trong các phán
quyết của Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của tiểu bang của Australia. Mặc
dù vậy, các Tòa án của Australia không bị bắt buộc phải tuân thủ và áp
dụng các án lệ của các nước nói trên.
Tuy nhiên, có một thời gian
khá dài khi Hội đồng cơ mật của Vương quốc Anh là cơ quan có quyền
quyết định cuối cùng tất cả vấn đề áp dụng, giải thích các đạo luật cũng
như các án lệ của Australia thì việc các Tòa án tối cao của tiểu bang
áp dụng án lệ của Tòa án tối cao của Vương quốc Anh là khá phổ biến. Năm
1986, Hội đồng này chấm dứt vai trò như là một Tòa án cao nhất của
Australia có thẩm quyền giải quyết các vấn đề tranh cãi về áp dụng, giải
thích luật.
V. Xu hướng phát triển của án lệ ở Australia
Trong thời điểm hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ
của hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp đã dẫn đến sự chuyển hướng
từ việc áp dụng án lệ sang áp dụng luật ban hành bởi Quốc hội và các văn
bản hướng dẫn luật của các cơ quan hành pháp. Việc ban hành các văn bản
luật và văn bản dưới luật ngày càng nhiều cũng đồng nghĩa với việc Tòa
án giảm việc xác lập các án lệ. Ngày nay khi xét xử các Thẩm phán có xu
hướng sử dụng cách định nghĩa, giải thích của văn bản luật được áp dụng
để giải quyết vụ án hơn là sử dụng cách giải thích từ những định nghĩa
khác hoặc từ những nguyên tắc pháp lý có trong án lệ tồn tại từ trước.
Việc thay đổi này có thể nhận thấy từ việc thay đổi cách giảng dạy luật ở
các trường luật. Năm 2006, trường luật thuộc Đại học Havard, Mỹ đã tổ
chức bỏ phiếu để thay đổi cách giảng dạy truyền thống về luật ở trình độ
đại học. Đến thời điểm trước năm 2006 thì việc dạy luật ở Đại học
Havard vốn nổi tiếng với phương pháp tìm kiếm án lệ từ các tuyển tập án
lệ để đánh giá các phán quyết của Tòa án, xác định án lệ bắt buộc-the
ratio decidendi hay còn gọi là các nguyên tắc pháp lý được xác lập trong
các phán quyết và các án lệ tham khảo-the obiter dicta. Trên thực tế,
phương pháp dạy luật nói trên đã trở thành “thương hiệu” của trường luật
thuộc Đại học Havard. Phương pháp này đã được áp dụng tại nhiều nước
trên thế giới, trong đó có Australia. Tuy nhiên, kể từ năm 2006, trường
luật Đại học Havard đã bãi bỏ phương pháp dạy học này và chuyển sang
phương pháp mới bằng việc đưa vào giảng dạy các luật được ban hành bởi
cơ quan lập pháp và cách thức giải thích luật của các cơ quan này. Sự
thay đổi quan trọng trong thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật ở Mỹ có
những tác động nhất định đối với Australia khi nước này có sự chuyển
hướng áp dụng phương pháp giảng dạy luật tương tự như Mỹ. Sự thay đổi ở
Mỹ, Australia thể hiện xu hướng giảm dần vai trò của án lệ với tư cách
là nguồn quan trọng cho việc xác định pháp luật áp dụng cho những vấn đề
pháp lý của xã hội; thay vào đó là sự phát triển của hoạt động lập pháp
thông qua việc ban hành các văn bản luật, hướng dẫn luật.
Mặc dù
vai trò của hoạt động lập pháp của Australia đã có những bước phát
triển mới nhưng có thể khẳng định rằng học thuyết án lệ vẫn đóng một vai
trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của Australia. Đặc biệt, án lệ
vẫn thể hiện được vai trò chủ đạo của mình đối với hoạt động xét xử của
các Tòa án trung cấp của Australia (các tòa án quận hạt).
VI. Phát triển án lệ ở Việt Nam: từ nghiên cứu khoa học đến thực tiễn
Có thể nói rằng cho đến thời đểm hiện nay, học thuyết
án lệ của hệ thống thông luật chưa được nghiên cứu kỹ và biết đến đầy
đủ ở Việt Nam, mặc dầu không thể nói rằng Việt Nam không hề quan tâm đến
vấn đề này. Bằng chứng là Việt Nam đã tổ chức khá nhiều chuyến khảo
sát, học tập kinh nghiệm xây dựng luật pháp đến các nước theo hệ thống
thông luật như Vương quốc Anh, Liên Bang Australia, Hiệp chủng quốc Hoa
Kỳ và một số nước Châu á mà hệ thống pháp luật có sự ảnh hưởng của hệ
thống thông luật. Một trong những nội dung được các thành viên của đoàn
đề cập đến là vấn đề án lệ: từ lịch sử hình thành, khái niệm, nguyên tắc
áp dụng, cách thức xác lập và áp dụng án lệ trong hệ thống Tòa án. Với
sự thiếu vắng của hoạt động nghiên cứu khoa học về học thuyết án lệ như
đã nói ở trên mà kết quả là nhận thức chung của xã hội về vấn đề này còn
chưa được xác lập, đặc biệt trong giới các nhà khoa học hoạt động trong
lĩnh vực lập pháp vấn đề này còn tồn tại ở nhiều mức độ hiểu biết khác
nhau, thì sẽ là quá vội vàng và thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề
nghị rằng nên có một bước cải cách trong hoạt động xét xử của Tòa án về
việc áp dụng pháp luật, theo đó án lệ được xác định là một nguồn luật
chính thức tương tự như ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định phát
triển án lệ là một trong những nội dung của cải cách tư pháp. Việc triển
khai thực hiện nội dung này đã có chuyển biến mới trên thực tế khi Tòa
án nhân dân tối cao đang tiến hành tổ chức nghiên cứu học thuyết án lệ
của các nước theo hệ thống thông luật và các nước khác có sử dụng án lệ.
Mặc dù chỉ mới dừng ở mức đề tài khoa học cấp bộ nhưng là hoạt động
nghiên cứu khoa học đầu tiên có quy mô lớn nhất, bài bản nhất từ trước
tới nay ở Việt Nam nhằm đưa ra phương hướng, cách thức tiếp cận với vấn
đề này trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam. Hiện nay, hoạt động nghiên
cứu khoa học về vấn đề án lệ đang được Tòa án nhân dân tối cao tiến
hành khẩn trương. Ngoài việc tiến hành nghiên cứu lý luận, thực tiễn
hoạt động của hệ thống Tòa án của Việt Nam từ năm 1945 đến nay chắc chắn
sẽ được nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra những cách thức, kinh nghiệm
cụ thể, đúng đắn và phù hợp để thực hiện hoạt động cải cách tư pháp
“phát triển án lệ” theo Nghị quyết của Bộ Chính trị. Trên cơ sở so sánh
thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động
hướng dẫn..?
1. Án lệ là hướng dẫn áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc
Ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật thì án
lệ bắt buộc là án lệ do Tòa án cấp cao nhất xác lập và các Tòa án cấp
thấp hơn trong cùng một hệ thống Tòa án phải tuân thủ và áp dụng cho
những vụ án có những tình tiết quan trọng tương tự như vụ án đã xét xử
với án lệ đã được xác lập. Khi xét xử những vụ án này, các Tòa án cấp
dưới không được bỏ qua các án lệ của Tòa án cao nhất (Tòa án tối cao,
Tòa phúc thẩm của Tòa án tối cao…) mà không đưa ra các căn cứ giải thích
tại sao án lệ đó không được áp dụng. Hậu quả của việc không áp dụng án
lệ là việc Tòa án cấp trên sẽ hủy bỏ các phán quyết của Tòa án cấp dưới.
Đối với Việt Nam, có thể khẳng định rằng từ trước đến nay các Tòa
án nhân dân cấp quận, huyện và cấp tỉnh không bắt buộc phải tuân thủ và
áp dụng các phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của
Tòa án nhân dân tối cao khi xét xử các vụ án có những nội dung tranh
chấp và các tình tiết khách quan quan trọng tương tự như những vụ án đã
được Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao
xét xử. Lý do được ủng hộ rộng rãi là xuất phát từ nguyên tắc “Khi xét
xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 1959 (Điều 100); Hiến Pháp năm 1980
(Điều 131); Hiến Pháp năm 1992 (Điều 130); Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 1959 (Điều 4); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 (Điều 6); Luật
tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 (Điều 5); Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002 (Điều 5). Nguyên tắc này còn bảo đảm cho các Tòa án địa phương
cũng không bắt buộc tuân theo các nhận định trong các bản án của Tòa án
nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao xét xử hủy
bản án sơ thẩm để xét xử lại; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại. Đồng thời, một lý do khác không
kém phần quan trọng là Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa phúc thẩm của
Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền giải thích nội dung các điều
luật hoặc các nguyên tắc pháp luật trong các bản án, quyết định như Tòa
án tối cao, Tòa phúc thẩm ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật
vẫn thực hiện. Việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật do cơ
quan lập pháp ban hành là xu hướng truyền thống của Việt Nam. Đây cũng
là xu thế phát triển của hoạt động xét xử ở các nước theo hệ thống thông
luật như Mỹ và Australia khi vai trò sử dụng án lệ đang giảm dần và
thay thế vào đó là việc Tòa án tăng cường sử dụng văn bản quy phạm pháp
luật do cơ quan lập pháp ban hành trong việc xét xử như đã phân tích ở
phần trên về án lệ tại Australia. Tuy nhiên, cần chú ý là án lệ bắt buộc
của Tòa án trong hệ thống pháp luật thông luật thực chất là cách giải
thích luật pháp, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật mà Tòa án cao
nhất của các nước này có thẩm quyền xác lập. Điều này có thể thấy rõ qua
các vụ án Dow Jones v Gutnick và vụ án R kiện Davidson như đã phân tích
ở các phần trên. Trong vụ án Dow Jones v Gutnick thì án lệ là việc giải
thích của Tòa án tối cao Liên Bang Australia về việc xác định thế nào
là hành vi xuất bản ấn phẩm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nguyên
đơn và lý do tại sao Tòa án tối cao bang Victoria có thẩm quyền xét xử
vụ án này. Trong vụ án R kiện Davidson thì án lệ là cách giải thích của
Tòa án tối cao bang Victoria thế nào là hành vi nạo thai hợp pháp. Do
đó, nếu nhìn nhận án lệ ở góc độ là việc hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật thì Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực chất cũng là án lệ bắt buộc
bởi việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật này nhằm để hướng dẫn các
Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật. Trong trường hợp này, án lệ bắt
buộc và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông
tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đều có điểm chung là có tính áp dụng bắt buộc
đối với toàn bộ các tòa án cấp dưới. Sự khác nhau nếu có giữa án lệ bắt
buộc và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ở hình thức văn bản và cơ quan ban
hành: án lệ bắt buộc được xác lập trong các bản án của Tòa án tối cao,
các Tòa phúc thẩm hoặc Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa
phúc thẩm Liên Bang, Tòa án gia đình Liên Bang và các Tòa án tối cao
tiểu bang, Tòa phúc thẩm tiểu bang (trường hợp Australia) và có thể do
một Thẩm phán hoặc một Hội đồng xét xử (từ 3 Thẩm phán trở lên) xác lập;
trong khi Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do
cơ quan xét xử cao nhất của hệ thống Tòa án Việt Nam ban hành và Thông
tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành;
các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền ban
hành bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào.
2. Án lệ là hướng dẫn áp dụng pháp luật mang tính tham khảo
Theo hệ thống pháp luật thông luật thì khi xét xử,
Tòa án cấp dưới có thể dẫn chiếu, áp dụng các án lệ mang tính tham khảo
được xác lập trong các phán quyết của các Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm
của Tòa án tối cao. Đây là các ý kiến bảo lưu của các thẩm phán và các ý
kiến khác mang tính tổng quát về một vấn đề chung của pháp luật có liên
quan hoặc được bổ sung hoặc những vấn đề không quan trọng trong vụ án.
Án lệ tham khảo còn là những án lệ có tính hướng dẫn áp dụng pháp luật
phù hợp với việc áp dụng để giải quyết vụ án của Tòa án nhưng không mang
tính bắt buộc phải tuân thủ bởi vì án lệ đó được xác lập bởi các Tòa án
không cùng trong một hệ thống Tòa án (Tòa án được tổ chức theo kiểu
Liên Bang và tiểu bang là một ví dụ điển hình) hoặc được xác lập bởi các
Tòa án nước ngoài thuộc hệ thống pháp luật thông luật. Đối với Việt
Nam, như đã nói ở trên, trong khi hoạt động xét xử của các Tòa án địa
phương không bị rằng buộc bởi các phán quyết của Tòa án nhân dân tối
cao, các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao thì trên thực tế các
Tòa án địa phương khi xét xử có thể có sự tham khảo ý kiến của Tòa án
nhân dân tối cao thông qua các công văn trao đổi nghiệp vụ, hướng dẫn áp
dụng pháp luật, Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội
nghị tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao hoặc các bản
án, quyết định giám đốc thẩm được Tòa án nhân dân tối cao công bố trong
vài năm gần đây. Nếu xét về nội dung thì công văn trao đổi nghiệp vụ,
công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật, Kết luận của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao đều là những hướng dẫn áp dụng pháp luật mặc dù những văn
bản này không được thừa nhận chính thức là văn bản quy phạm pháp luật.
Các văn bản này còn có một cách gọi khác là các văn bản hướng dẫn “đường
lối xét xử”, trên thực tế đã phát huy được vai trò tích cực trong việc
hướng dẫn các tòa án địa phương áp dụng thống nhất pháp luật. Trên thực
tế, trước khi Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự và nhiều bộ luật, Luật quan trọng khác được ban
hành thì việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án
nhân dân tối cao cũng khá hạn chế. Do đó, các Tòa án địa phương trong
hoạt động xét xử thường tham khảo các hướng dẫn áp dụng pháp luật của
Tòa án nhân dân tối cao dưới hình thức các công văn trao đổi nghiệp vụ
và Báo cáo kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị
tổng kết công tác hàng năm. Tuy nhiên, sau khi các bộ luật quan trọng
nói trên ra đời thì hoạt động “xác lập án lệ” của Tòa án nhân dân tối
cao đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ với việc ban hành khá nhiều Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao. Nếu tính từ
khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành đến nay thì đã có 22 Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao được ban hành
để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong các lĩnh vực hình sự, tố
tụng hình sự; dân sự, hôn nhân và gia đình và tố tụng dân sự.
3. Việc xuất bản các phán quyết của Tòa án
Trước đây tại các nước theo hệ thống pháp luật thông
luật thì việc xuất bản các phán quyết phải được Tòa án tối cao duyệt
(trường hợp của Anh hoặc Australia). Việc lựa chọn phán quyết thường
được các luật sư danh tiếng hoặc các giáo sư giảng dạy luật thực hành
trong các trường đại học danh tiếng thực hiện trên cơ sở các vụ án đó có
ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật. Ngày nay,
việc xuất bản các tuyển tập bản án không bắt buộc phải có ý kiến của Tòa
án tối cao và được tiến hành thường xuyên hơn trong năm dưới các hình
thức truyền thống là in ấn và đưa lên các trang cơ sở dữ liệu về luật
trên Internet. Việc xuất bản các tuyển tập các phán quyết được phân chia
thành hai loại: một loại có giá trị chính thức để sử dụng trong việc
dẫn chiếu, áp dụng trong hoạt động xét xử và giảng dạy và một loại chỉ
có giá trị tham khảo-không được sử dụng trong các hoạt động nói trên.
Đối với Việt nam, nếu xem việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao như là việc xác lập án lệ bắt buộc và việc
ban hành các công văn trao đổi nghiệp vụ, Báo cáo kết luận của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác hàng năm của Tòa
án nhân dân tối cao như là việc xác lập án lệ tham khảo thì các văn bản
này đã được Tòa án nhân dân tối cao xuất bản trong cuốn sách “Hệ thống
hóa các văn bản pháp luật” được xuất bản hàng năm và cung cấp cho các
Tòa án nhân dân trên toàn quốc. Trong những năm gần đây khi điều kiện
khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển và phổ
biển rộng rãi của hệ thống Internet, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến
hành công bố bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối
cao trên trang web của Tòa án nhân dân tối cao để tạo điều kiện cho các
Tòa án nhân dân địa phương thuận tiện trong việc tham khảo cũng như để
phục vụ sự quan tâm của các đối tượng khác.
4. Kinh nghiệm nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ
Từ việc nghiên cứu chế định án lệ của Australia, cũng
như so sánh, đánh giá thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật của Tòa án các nước theo hệ thống pháp luật thông luật với
thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật Tòa án nhân
dân tối cao, tác giả cho rằng cần lưu lý một số vấn đề sau đây khi triển
khai nghiên cứu án lệ:
(i). Nên xác định án lệ là việc Tòa án cấp
cao nhất hướng dẫn các Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật
trong việc xét xử. Với cách tiếp cận này thì việc xác lập án lệ là việc
Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ban hành các Nghị quyết,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư Liên tịch để hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật. Hiện nay, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật tại Tòa án nhân dân tối cao vẫn tồn tại dưới hai hình thức: đó
là việc Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ban hành các
Nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư Liên tịch
để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và việc Tòa án nhân dân tối
cao ban hành các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng
pháp luật. Thực tiễn cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, việc hướng
dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao đối với các
Tòa án địa phương thông qua các công văn nói trên đã phát huy được hiệu
quả quan trọng trong việc bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án cấp dưới
đúng pháp luật. Mặc dù vậy, sự hạn chế lớn nhất của các văn bản hướng
dẫn này là ở hiệu lực áp dụng: vẫn là văn bản mang tính tham khảo. Do
đó, việc triển khai nghiên cứu để “phát triển án lệ” cần được tiến hành
theo hướng ghi nhận hiệu lực áp dụng có tính bắt buộc của các văn bản
này.
(ii) Việc xuất bản án lệ. Hiện nay việc xuất bản các văn bản
quy phạm pháp luật như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được tiến hành theo
phương thức in ấn truyền thống và trực tuyến trên Internet. Trước đây,
hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành xuất bản cuốn “Hệ thống
hóa các văn bản pháp luật” với nội dung là các văn bản quy phạm pháp
luật cùng các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng
pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao. Cuốn sách này được các Tòa án các
cấp cho rằng rất hữu ích để cập nhật các thông tin về các quy định của
pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử. Vì vậy,
cho dù các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp
luật của Tòa án nhân dân tối cao có được ghi nhận có hiệu lực áp dụng
bắt buộc hay không theo kết quả tiến trình “phát triển án lệ” thì Tòa án
nhân dân tối cao cũng nên khôi phục lại hoạt động xuất bản cuốn “Hệ
thống hóa các văn bản pháp luật” nói trên để phục vụ nhiệm vụ chung của
ngành Tòa án./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abortion Law Reform Act 2008 http://www.austlii.edu.au/au/legis/vic/consol_act/alra2008209/.
Crimes Act 1900 (NSW) http://www.austlii.edu.au/au/legis/nsw/consol_act/ca190082/
Crimes Act 1958
Michael Kirby, ‘Precedent, Practice & Trends in Australia’ (2007) 28 Australian Bar Review
Mason A F, ‘The Use and Abuse of Precedent’ (1988) 4 Australian Bar Review
Frederick Schauer, ‘Precedent’ (1987) 39 (3) Stanford Law Review
B.V. Harris, ‘Final Appellate Courts Overruling Their
Own “Wrong” Precedents: The Ongoing Search for Principle’ (2002) 118
Law Quarterly Review 408
John Carvan, Understanding the Australian Legal System (LBC Information Services, 3rd,1999)
Catriona Cook et al (eds), Laying Down the Law (LexisNexis Butterworths, 6th 2005)
Sumner Lobingier C, ‘Precedent in Past and Present Legal Systems’ Michigan Law Review, 1946 (6), 955-996
Kathryn Simon, ‘Recent Developments in Abortion Law’ (2008) E-Brief, NSW Parliamentary Library Research Service
James Holland and Julian Webb, Learning Legal Rules (Oxford University Express, 7th 2010)
High Court of Australia
Federal Court of Australia http://www.fedcourt.gov.au/
Family Court of Australia http://www.familycourt.gov.au
Federal Magistrate Court of Australia http://www.fmc.gov.au/
Children by Choice http://www.childrenbychoice.org.au/nwww/auslawprac.htm.
Telstra Corporation v Treloar (2000) 102 FCR 595
Dow Jones and Company Inc v Gutnick (2002) HCA 56; 210 CLR 575; 194 ALR 433; 77 ALJR 255
R v Davidson, [1969] VR 667.
Valentine v Eid (1992) 27 NSWLR 615
Commonwealth v. Hospital Contribution Fund (1982) 150 CLR 237
SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH – BÀI VIẾT DO TÁC GIẢ CUNG CẤP - LÊ MẠNH HÙNG
VIỆC SỬ DỤNG BÀI VIẾT VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI CẦN CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2011/05/23/23-5-2011/