Áp dụng chính sách thuế mới: Đừng mắc những lỗi cơ bản
Tuy nhiên, trên
thực tế, vẫn còn rất nhiều đối tượng chịu thuế chưa nắm vững hết các quy
định dẫn đến vi phạm những “lỗi cơ bản” hoặc tự khiến mình chịu thiệt
do không hiểu thấu đáo văn bản luật.
Tài chính điện tử sẽ giúp quý vị độc giả
hiểu rõ hơn về những quy định thay đổi, bổ sung trong chính sách thuế
mới trong bài viết dưới đây.
Hoá đơn phải lập đúng thời gian giao hàng
Theo quy định, hoá đơn hợp pháp là hoá
đơn ghi đúng địa chỉ, tên tuổi người mua, người bán, không tẩy xoá, sửa
chữa, và quan trọng nhất là phải lập đúng thời gian quy định. Nhưng trên
thực tế, rất nhiều doanh nghiệp mua bán chịu, khi bên mua chưa trả tiền
thì bên bán để “chắc ăn” cũng chưa xuất hoá đơn. Hiện tượng này khá phổ
biến trong ngành xây dựng: chủ đầu tư “làm ăn” dựa trên uy tín, các đối
tác cung ứng vật tư tự ứng trước nguyên vật liệu. Có những công trình
đường xá chỉ cần 2 tháng là hoàn tất, tới khi nghiệm thu bàn giao vẫn
chưa có hoá đơn đầu vào cho vật tư như xi măng, sắt, thép... (sau khi
nghiệm thu mới được thanh toán tiền), trong khi tổng số thuế phải nộp
lên tới hàng tỷ đồng.
Lại có trường hợp doanh nghiệp cử cán bộ
đi mua hàng vào ngày 20/1 nhưng chưa có hoá đơn, đến cuối tháng 1 bán
ngay lô hàng đó đi, tới tháng 3 mới được bên bán xuất hoá đơn đầu vào,
ghi là xuất cho lô hàng giao ngày 20/1. Những trường hợp như vậy, dù hoá
đơn lập trong niên độ kế toán, không trốn thuế, nhưng sau ngày mua hàng
nên vẫn bị “liệt” vào danh sách hoá đơn bất hợp pháp.
Để tháo gỡ cho doanh nghiệp, đã có ý
kiến đề nghị rằng đối với những hoá đơn mà doanh nghiệp bán lập sau thời
hạn giao hàng 6 tháng thì cho phép người mua được kê khai thuế và phạt
đơn vị bán về hành vi lập hoá đơn không kịp thời với mức 5 triệu đồng,
phạt đơn vị mua về hành vi lưu hành hàng hoá không có hoá đơn với mức 2
triệu đồng. Toàn bộ tiền thuế truy lĩnh hoá đơn mà bên bán nộp hoá đơn
chậm do bên mua chưa trả tiền nhưng vẫn trong thời gian 6 tháng thì vẫn
cho khấu trừ (luật mới cho phép có thể kê khai bổ sung trong thời hạn 6
tháng (trước đây chỉ 3 tháng nếu thuế đầu vào kê khai sót - PV).
Tuy nhiên, theo quy định trong Công văn
4121 ngày 6/10/2009 của Tổng cục Thuế thì đề nghị trên đã bị “phủ
quyết”. Tất cả hoá đơn hàng hoá, dịch vụ lập sai quy định (sau thời điểm
giao hàng như những ví dụ kể trên) đều không được khấu trừ thuế mà chỉ
được tính vào chi phí. Cần nhấn mạnh thêm lần nữa, điều kiện khấu trừ
của năm 2009 ngặt nghèo hơn trước đây bởi đã tính đến chuyện hoá đơn
phải lập đúng thời hạn. Vì vậy, trong mọi trường hợp mua bán hàng hoá,
dịch vụ, hoá đơn phải được lập ngay khi giao hàng, không phân biệt tiền
đã thu được hay chưa. Với trường hợp tháng 1 mua hàng, dù chưa có tiền
nhưng bên bán đã xuất hàng thì vẫn lập hoá đơn, 6 tháng sau trả tiền thì
xé hoá đơn, ngày lập hoá đơn vẫn trong thời hạn 6 tháng.
Nếu cứ duy trì nếp cũ, tháng 1 giao
hàng, tháng 6 mới lập hoá đơn và ghi rằng “xuất hoá đơn cho lô hàng giao
ngày 20/1” thì hoá đơn không hợp pháp này chắc chắn sẽ bị cơ quan thuế
“gạt ra rìa”.
Nhiều dịch vụ bắt đầu bị nâng thuế suất thuế GTGT lên 10%
Một điểm thay đổi so với trước của Luật
Thuế GTGT mới, các dịch vụ về vệ sinh môi trường, xử lý thu gom rác, vận
chuyển rác thải… do các công ty vệ sinh môi trường ký hợp đồng với các
doanh nghiệp vận chuyển, xử lý rác thải thì phải chịu thuế suất 10% ngay
từ ngày 1/1/2009. Nhưng thực tế, thời gian qua, tất cả các công ty vệ
sinh môi trường đều để trống phần thuế suất bởi đều nghĩ rằng những dịch
vụ này thuộc diện không chịu thuế. Những công ty này đều đã vi phạm
luật.
Một trường hợp khác, các đơn vị làm
những dịch vụ không chịu thuế năm 2008 như công ty đo đạc, khảo sát bản
đồ địa chất, trung tâm biển…, sang năm 2009 cũng phải chịu mức thuế 10%.
Vấn đề nảy sinh là những doanh nghiệp đã giao hàng hoá, dịch vụ từ năm
ngoái nhưng năm nay mới xuất hoá đơn, nghĩa là thời điểm áp mức thuế mới
10% thì còn được xuất hoá đơn không chịu thuế nữa không(?)
“Lời giải” do Tổng cục Thuế đưa ra như
sau: Những dịch vụ không chịu thuế của năm 2008 nhưng sang năm 2009 đã
thuộc diện chịu thuế suất 10%, đã hoàn thành trong năm 2009, doanh
nghiệp đã bàn giao và hạch toán trong sổ kế toán, đưa doanh thu này vào
tờ khai quyết toán thuế năm 2008 nhưng vì chưa nhận được tiền từ ngân
sách và từ các chủ đầu tư nên chưa xuất hoá đơn, thì nay được xuất hoá
đơn để trống phần thuế suất, nhưng bị phạt vì lập hoá đơn không kịp
thời. Những trường hợp còn lại, dù đã thực hiện tới 90% công việc trong
năm 2008, vẫn phải chịu mức thuế VAT 10%.
Một trường hợp tăng thuế suất thuế GTGT
lên mức 10% khác nữa là dịch vụ cung cấp ở bên ngoài cho doanh nghiệp
chế xuất, ví dụ dịch vụ đưa đón công nhân, thuê hội trường, thuê phòng
nghỉ… Theo quy định mới, mặc dù cung ứng cho doanh nghiệp chế xuất nhưng
ở bên ngoài doanh nghiệp nên không được áp dụng thuế suất 0% mà phải áp
mức 10%.
Phải thông báo định mức tiêu hao
Thông tư số 130/2008/TT-BTC ban hành
ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Thuế thu nhập doanh nghiệp đã có hiệu lực từ đầu năm 2009, thế nhưng
tới gần đây, quy định về việc doanh nghiệp phải báo cáo cục thuế định
mức tiêu hao nguyên vật liệu vẫn bị hầu hết doanh nghiệp “lờ đi” (hoặc
do không biết quy định hoặc do cố tình vi phạm - PV).
Theo quy định, khi tiến hành sản xuất
kinh doanh mà có định mức tiêu hao thì doanh nghiệp phải thông báo với
cơ quan thuế trong thời hạn 3 tháng kể từ khi có sử dụng định mức đó
(doanh nghiệp chỉ cần thông báo cụ thể định mức tiêu hao sản phẩm này
được thực hiện theo quyết định nào của doanh nghiệp). Cuối năm, khi kiểm
tra lại định mức thấy chưa chuẩn và muốn điều chỉnh thì phải thông báo
điều chỉnh cùng với tờ khai quyết toán thuế.
Cho rằng quy định “phải thông báo định
mức tiêu hao nguyên vật liệu” là một thủ tục hành chính rườm rà, nhiều
doanh nghiệp đề nghị đưa quy định này vào diện cắt giảm 30% thủ tục hành
chính của ngành Thuế. Song đến giờ, đề nghị này chưa được chấp thuận.
Tổng cục Thuế vẫn khẳng định: doanh
nghiệp nào không thông báo định mức tiêu hao cho cơ quan thuế thì bị
phạt theo Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính
hướng dẫn về xử lý vi phạm pháp luật về thuế; đồng thời, cơ quan thuế có
quyền ấn định các yếu tố chi phí nguyên vật liệu khi xác định thu nhập
chịu thuế.
Linh hoạt xử lý chênh lệch tỷ giá
Chỉ trong khoảng hơn 1 tháng, Bộ Tài chính đã ban hành 2 Thông tư hướng dẫn việc xử lý chênh lệch tỷ giá:
Ngày 10/9/2009, Bộ Tài chính ban hành
Thông tư 177/2009/TT-BTC hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế đối với
chênh lệch tỷ giá đánh giá lại của các khoản công nợ có gốc ngoại tệ.
Theo Thông tư này, các doanh nghiệp có các khoản nợ phải trả bằng ngoại
tệ thì các khoản lỗ, lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ và lỗ, lãi
chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ
cuối năm tài chính được tính vào chi phí hoặc thu nhập khi xác định thu
nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ. Trường
hợp chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại
tệ tính vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bị lỗ
thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để doanh
nghiệp không bị lỗ nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch tỷ giá tính vào
chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số ngoại
tệ đến hạn phải trả trong năm đó. Ví dụ khi làm báo cáo tài chính đánh
giá khoản nợ ngoại tệ cuối năm phải trả có khoản lỗ 3 tỷ đồng, trong đó,
chênh lệch tỷ giá của nợ đến hạn phải trả là 1 tỷ đồng, thì khoản 1 tỷ
này vẫn phải đưa vào rồi chuyển lỗ của kết quả kinh doanh, còn 2 tỷ đồng
chưa đến hạn trả có thể gác lại năm sau. Trường hợp kinh doanh có lãi
mà các khoản ngoại tệ chưa phải trả đánh giá theo cuối năm tài chính bị
lỗ 3 tỷ đồng do chênh lệch tỷ giá thì đưa tất cả 3 tỷ đồng này vào khoản
lỗ năm nay của doanh nghiệp.
Tiếp đến, ngày 15/10/2009 Bộ Tài chính
tiếp tục ban hành Thông tư 201/2009 hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá
hối đoái. Thông tư này hướng dẫn xử lý chênh lệch đối với các khoản
ngoại tệ chênh lệch, trong đó quy định, doanh nghiệp nào mới thành lập,
chưa có doanh thu thì cho phép lỗ được phân bổ trong 5 năm. Còn doanh
nghiệp đã hoạt động, có đầu tư mua sắm tài sản thì phải xử lý ngay trong
năm. Tất cả khoản nợ phải trả, phải thu bằng ngoại tệ có phát sinh lỗ,
lãi thì đều cho xử lý ngay trong năm.
Có thể phân bổ kê khai thuế TNDN
Một điểm thay đổi cần lưu ý trong Thông
tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, chính thức có hiệu
lực từ tháng 1/2009, đó là quy định lãi do chênh lệch đánh giá lại tài
sản góp vốn (trừ trường hợp doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá).
Theo quy định này, các doanh nghiệp đem
góp vốn, thống nhất liên doanh, liên kết khi đánh giá lại tài sản thấy
có phần chênh lệch tài sản đem góp vốn thì chênh lệch này phải hạch toán
thu nhập để kê khai thuế TNDN, tuy nhiên thu nhập này không phải đưa
vào kê khai hết mà phân bổ tương ứng vào thời gian còn lại của tài sản
(nhiều doanh nghiệp không hiểu “thấu đáo”, đưa hết khoản chênh lệch vào
kê khai liền một lúc sẽ chịu phần thiệt – PV).
Ví dụ, một xe ô tô được mua với giá 1 tỷ
đồng, khấu hao khoảng 50 triệu đồng, thời gian khấu hao 6 năm, đã khấu
hao được 50%, đem đi góp vốn. Xe đã sử dụng 3 năm nhưng vẫn rất tốt nên
bên nhận tài sản tự định giá rằng đem bán ra thị trường vẫn rất được giá
500 triệu đồng. Trường hợp này có khoản lợi nhuận hàng trăm triệu đồng,
nhưng không phải đưa ngay vào hạch toán thu nhập năm nay để chịu thuế
mà sẽ được thực hiện trong 3 năm tới (thời gian hết khấu hao), nghĩa là
được phân bổ để kê khai thuế TNDN trong 3 năm.
31/3/2010: Hạn chót giảm 50% thuế TNCN đối với tiền thưởng năm 2009
Theo Thông tư 160 hướng dẫn về thuế thu
nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành ngày 12/8/2009, tất cả các khoản
thu nhập phát sinh trong 6 tháng đầu năm 2009 (từ 1/1 đến hết ngày 30/6)
đều được miễn thuế, không căn cứ vào thời gian chi trả. Các cá nhân có
thu nhập phát sinh trong 6 tháng đầu năm nhưng nhận sau ngày 30/6 cũng
không bị tính thuế.
Thời hạn chi trả tiền lương, tiền công
của 6 tháng đầu năm được miễn thuế là 31/12/2009. Đối với các khoản thu
nhập được miễn thuế là số tiền thưởng của quý I và II, hạn chót chi trả
tiền là ngày 31/12/2009.
Các khoản tiền thưởng cho cả năm 2009,
tiền thưởng Tết, thưởng quý III và IV, lương tháng thứ 13, hoa hồng...
sẽ được miễn một nửa số thuế phải nộp. Hạn chót chi trả cho các khoản
thưởng năm 2009 là ngày 31/3/2010.
Liên quan tới thuế TNCN đối với tiền
công của lao động thời vụ, trước đây, tất cả trường hợp lao động thời vụ
hoặc không ký hợp đồng lao động mà được chi trả từ 500.000 đồng trở lên
đều phải khấu trừ 10% thuế TNCN, không cần biết có mã số thuế hay
không. Tuy nhiên, theo quy định mới, nếu người nhận tiền chứng minh được
đó là thu nhập duy nhất và chưa đến mức phải nộp thuế cho Nhà nước thì
sẽ làm bản cam kết theo mẫu và sẽ không bị khấu trừ 10% thuế TNCN như
trước (cơ quan chi trả lưu lại danh sách này để cuối năm gửi cơ quan
thuế quản lý).
Mới đây nhất, Tổng cục Thuế cũng đã đề
cập thêm tới trường hợp lao động ký hợp đồng thời vụ với doanh nghiệp
theo nhiều đợt, tính cả năm có tổng thời gian trên 3 tháng làm cho một
doanh nghiệp mà thu nhập dưới 4 triệu đồng thì cũng không phải khấu trừ
thuế mà chuyển sang khấu trừ thu nhập luỹ tiến. Quy định này nhằm hạn
chế hiện tượng khấu trừ thuế rồi cuối năm tính tổng cả năm lại phải hoàn
trả thuế TNCN cho người lao động.
Cách tính thu nhập cá nhân chịu thuế từ thu nhập NET
Theo quy định của Luật thuế TNCN và các
văn bản hướng dẫn hiện hành thì thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền
lương, tiền công được xác định căn cứ vào thu nhập chịu thuế, các khoản
giảm trừ và thuế suất. Trường hợp cá nhân ký hợp đồng lao động nhận
lương không bao gồm thuế TNCN (thu nhập sau thuế) thì quy đổi ra thu
nhập trước thuế để xác định số thuế phải nộp. Do đó, đối với cá nhân ký
hợp đồng nhận thu nhập không bao gồm thuế TNCN, thực chất khoản thu nhập
này có cả khoản giảm trừ gia cảnh, thì cần tính trừ khoản giảm trừ gia
cảnh, sau đó phần thu nhập còn lại (là thu nhập NET) mới thực hiện quy
đổi thành thu nhập trước thuế để tính theo biểu phụ lục 01/PL-TNCN ban
hành theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính.
Trên thực tế, khi quyết toán thuế, nhiều
doanh nghiệp vẫn rất lúng túng như gà mắc tóc trong việc quy đổi thu
nhập trước thuế (cách tính thu nhập tính thuế từ thu nhập NET trước đây
rất đơn giản, nhưng từ năm 2009, mỗi cá nhân được giảm trừ gia cảnh ở
mức khác nhau nên thu nhập NET cũng khác nhau).
Để “gỡ rối”, Tổng cục Thuế đã ban hành
công văn số 1578/TCT-TNCN hướng dẫn quy đổi thu nhập sau thuế ra thu
nhập trước thuế cụ thể theo ví dụ như sau:
Ví dụ: Ông A là cá nhân cư trú có thu
nhập từ tiền lương, tiền công được trả theo hình thức chủ lao động (Công
ty) chịu trách nhiệm nộp thuế thay, tiền lương thực lãnh của Ông A là
19 triệu đồng/tháng. Ông A có nuôi 2 người phụ thuộc được giảm trừ gia
cảnh. Việc quy đổi thành thu nhập trước thuế và xác định số thuế được
tính như sau:
- Thu nhập NET để quy đổi (không bao gồm
gia cảnh) = 19 triệu - 7,2 triệu (giảm trừ gia cảnh cho bản thân và 2
người phụ thuộc ) = 11,8 triệu đồng.
- Thu nhập tính thuế (trước thuế) sau
khi quy đổi tính theo công thức (không bao gồm gia cảnh) = (11,8 triệu –
0,75 triệu)/0,85 = 13 triệu đồng.
- Thuế TNCN phải nộp= {5 triệu x 5%} + {(10 triệu – 5 triệu) x 10%} + {( 13 triệu -10 triệu) x 15%} = 1,2 triệu đồng.
Như vậy, tổng thu nhập chịu thuế của Ông
A (đã bao gồm thuế TNCN) mà Công ty phải trả tính trong chi phí tiền
lương của Ông A là 20,2 triệu đồng (bao gồm 1,2 triệu đồng tiền thuế
TNCN và 19 triệu đồng tiền lương Ông A thực nhận).
Chuyển nhượng bất động sản phải xuất trình biên lai thuế TNCN
Trên thực tế, không ít trường hợp ký hợp
đồng mua căn hộ nhưng mới nộp tiền 20 triệu đồng trong khi giá căn hộ
là 2 tỷ đồng, sau đó không đủ khả năng để mua tiếp, chuyển nhượng cho
người khác. Theo quy định của Luật Thuế TNCN mới thì tất cả những người
góp vốn mua nhà sau đó không thực hiện tiếp, chuyển nhượng cho người
khác thì coi là buôn bán bất động sản, phải nộp thuế TNCN đối với hoạt
động bất động sản. Chủ đầu tư bất động sản muốn ký hợp đồng với người
được chuyển nhượng thì người chuyển nhượng phải có biên lai nộp thuế
TNCN.
Cho rằng quy định này “hơi bất hợp lý”,
một số ý kiến kiến nghị rằng trường hợp này nên đưa vào diện góp vốn để
mua căn hộ rồi chuyển nhượng phần góp vốn, và khi đó nên đánh thuế vào
phần đầu tư vốn sẽ hợp lý hơn (chủ đầu tư giữ lại 5% trên giá mua bán
ban đầu hoặc 0,1% trên tổng đầu tư vốn).
Tuy nhiên, kiến nghị này không được Bộ
Tài chính chấp thuận. Hiện mỗi lần chuyển nhượng là một lần nộp thuế
TNCN (cá nhân kê khai nộp thuế theo thuế suất 25% tính trên giá chuyển
nhượng, nếu kiểm tra thấy giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng và kê khai
thuế thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế theo thuế
suất 2% trên giá do UBND cấp tỉnh quy định). Bộ Tài chính yêu cầu các
chủ đầu tư khi cho các cá nhân chuyển đổi hợp đồng phải bắt xuất trình
biên lai thuế TNCN mới được sang tên cho người mua mới.
Nhiều ý kiến trong dư luận cho rằng quy
định này gây phiền phức. “Để tuân thủ tốt quy định nêu trên thì phải
quan hệ với ít nhất 6 cục thuế ở Hà Nội để kê khai bất động sản cho
người mua”, một số chủ đầu tư bức xúc chia sẻ. Tuy nhiên, mọi công dân
phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Do đó, khi chưa có
quyết định thay thế, chỉnh sửa thì vẫn phải tuân thủ quy định hiện hành.