Bài học từ một hợp đồng nhập khẩu
Các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía Việt Nam mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.
Bốc dỡ gạo xuất khẩu tại cảng
Cuối năm 2006 một Doanh nghiệp ở Hà Nội nhập lô hàng thức ăn chăn nuôi trị
giá 1.400.000 USD, từ một Cty ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000,
cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ.
Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận
tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ
tàu. Theo điều kiện CFR, người bán đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong
chở lô hàng về Việt Nam.
Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ
chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng
L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng Việt Nam, khi đang đi qua eo biển
Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của
một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.
Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua biết vụ việc. Họ giải thích
rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ
hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và
về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện
CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể
từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản
đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán không thấy có quy định
nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho
rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng được mua bảo
hiểm của BMI và BVI ở Việt Nam).
Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định theo điều kiện bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo
Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách
nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số
ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường.
Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải Việt Nam (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông
lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận
chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong
trường hợp tàu bị bắt giữ.
Một điều đáng lưu ý là bản thân chủ tàu BJS cũng chỉ sở hữu duy nhất một con
tàu này, nếu thắng kiên thì chủ hàng Việt Nam cũng chỉ có trong tay một bản án
đẹp. Không còn lựa chọn nào khác, phía người mua đành trao hết mọi giấy tờ có
liên quan và ủy quyền cho người bán thay mặt mình làm việc với các cơ quan hữu
quan của Malaysia để nhanh chóng thuê một con tàu khác dến cảng Johore, nơi tàu
bị cầm giữ, lấy hàng về. Phía người bán đã khẩn trương tích cực tìm mọi biện
pháp tiếp cận với các cơ quan hữu quan của Malaysia để cho phép chủ hàng đưa
một con tàu khac đến cảng nói trên chuyển tải hàng về Việt Nam dù biết rằng rủi
ro và chi phí bỏ ra để làm việc này không ít. Tuy vậy trong thời gian tàu bị
bắt giữ tại cảng Johore liên tiếp xảy ra ba sự kiện khác làm cho vụ việc vốn đã
phức tạp lại càng phức tạp thêm: Một vụ nổ xảy ra ở trên tàu làm một số thủy
thủ bị thương, trong đó có một người bị thương nặng có khả năng tử vong. Tiếp
đó, tàu này lại bị một tàu chở dầu đâm phải làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý
khác khá phúc tạp liên quan tới chế định hai tàu đâm va cùng có lỗi (both to
blame collision), chưa kể cùng một con tàu nhưng có hai lệnh bắt giữ của hai
tòa án: tòa thứ nhất bắt giữ tàu theo yêu cầu của chủ tàu cũ Indonesia, tòa thứ
hai lại lật ngược trát của tòa án trước và ra lệnh bắt giữ theo yêu cầu của chủ
tàu BJS ở Hong Kong. Cuối cùng vụ việc lại rơi vào tình trạng bế tắc và vô cùng
nan giải khi chính quyền cảng sở tại yêu cầu nếu muốn đưa tàu khác đến chuyển
tải hàng về Việt Nam
thì phải đặt cọc bảo lãnh chống ô nhiễm môi trường với trị giá 20 triệu USD. Rõ
ràng đây hoàn toàn là một thách đố, do vậy cả hai phía sau gần một năm tìm cách
giải quyết vụ việc cuối cùng đành bỏ cuộc vì toàn bộ lô hàng cũng đã bị hư hỏng
gần hết.
Vấn đề ở đây là khi soạn thảo hợp đồng phía người mua Việt Nam đã bỏ sót
không đưa thêm một điều khoản quy định về tình trạng pháp lý của con tàu tham gia chuyên chở
lô hàng. Điều khoản đó rất ngắn gọn như sau: “Người bán bảo đảm rằng con tàu do
mình thuê không được dính líu tới bất cứ rắc rối, tranh chấp, khiếu nại, kiện
tụng nào trong quá trình thực hiện hợp đồng”. Với điều khoản này rõ ràng vị thế
pháp lý của người mua trong việc đấu tranh đòi bồi thường có khả năng thỏa đáng
hơn khi người bán thuê những con tàu kiểu như trên. Quả thật đây là một bài học
quá đắt giá trong những trường hợp tương tự như trường hợp này.
Từ vụ việc này các Doanh nghiệp xuất nhâp khẩu Việt Nam cũng cần
mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho tinh trạng hiện nay là đại bộ
phận hợp đông đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ,khi phía Việt Nam mua hàng
theo điều kiện CIF hoăc CFR như trên thì người bán ở nước ngoài sẽ tìm thuê
những con tàu nhiều tuổi,l ai lịch không mấy rõ ràng với giá cước thấp để nâng
cao lợi nhuận. Ngược lại, nếu chuyển sang mua theo điều kiện FOB những lô hàng
như trên đây người mua phía Việt Nam có nhiều cơ hội và khả năng
kiểm soát được các điều kiện về hợp đồng thuê tàu nói chung và tình trạng pháp
lý của con tàu và chủ tàu nói riêng.
Vấn đề nữa đặt ra là cần có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa Doanh nghiệp
kinh doanh XNK và Doanh nghiệp vận tải biển để làm tốt khâu này. Các cơ quan
quản lý nhà nước hữu quan cũng cần có những biện pháp khuyến khích hỗ trợ để
các Doanh nghiệp XNK chuyển mạnh sang mua FOB bán CIF. Đây cũng sẽ là một biện
pháp chủ động để tăng thị phần của đội tàu Việt Nam trên thị trường hàng hải khu
vực và quốc tế.
SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH - LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC
Trích dẫn từ: http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/product/sme/main/sme/09/q4/11.22.html