Bản chất của Tranh tụng tại phiên toà
Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung tranh tụng tại phiên tòa. Có ý kiến cho rằng tại phiên tòa các bên chỉ thực hiện việc tranh luận trong giai đoạn tranh luận, còn xét hỏi là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử và Viện kiểm sát. Những người khác lại cho rằng tranh tụng được thực hiện trong hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi và phần tranh luận.
1. Trong toàn bộ quá
trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản
chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định
tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc
biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực
hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của
phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:
- Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng
thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác
định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ
sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc
chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng
cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên
bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại
phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác
định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được
thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham
gia tố tụng khác nhau;
- Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia
của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và
nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được
đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công
khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật
nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;
- Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt
nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội
dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa
án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải
quyết đúng đắn vụ án;
- Thứ tư, phiên tòa là nơi tốt nhất
thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Thông qua thủ tục tại
phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranh luận và đặc biệt là qua
việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, tòa án giúp cho
những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa
nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ đó
không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào
đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật v.v.
Như vậy, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện
đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng.
Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng,
những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị
pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp,
công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, tòa
án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành
xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết
vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật.
Mỗi quốc gia khác nhau có các thủ tục tố tụng khác
nhau mang yếu tố đặc trưng cũng như truyền thống của mình. Tuy nhiên
trong xã hội dân chủ, tiến bộ hiện nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được
thực hiện ở tuyệt đại đa số các nhà nước trên thế giới. Theo nguyên tắc
này, bản án, quyết định sơ thẩm bị các bên tham gia tố tụng có quyền và
lợi ích liên quan kháng cáo, hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị trong
thời hạn luật định thì phải được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Vì
vậy, trong tố tụng nói đến phiên tòa, tức là nói đến phiên tòa sơ thẩm,
phiên tòa phúc thẩm. Thế nhưng, là phiên tòa lần đầu xem xét và quyết
định về toàn bộ vụ án, phiên tòa sơ thẩm thể hiện đầy đủ nhất các yếu
tố đặc trưng của phiên tòa. Ngoài ra, tuỳ theo cách tổ chức của hệ
thống tư pháp, ở các nước còn có các phiên tòa khác như phiên tòa giám
đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm, phiên tòa phá án, nhưng đây là các thủ
tục đặc biệt, nên những phiên tòa này cũng mang yếu tố đặc biệt, không
thể thực hiện đầy đủ các yếu tố đặc trưng của một phiên tòa.
Theo chúng tôi, với vai trò cực kỳ quan trọng như
vậy, việc nâng cao chất lượng phiên tòa luôn luôn là một nhu cầu, một
đòi hỏi cấp thiết khách quan. Việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định
của pháp luật tố tụng phải lấy thủ tục tại phiên tòa là tâm điểm. Việc
nghiên cứu xây dựng một hệ thống tố tụng tranh tụng hay hệ thống tố
tụng khác có các yếu tố tranh tụng phải được xuất phát trước tiên từ
vấn đề tranh tụng tại phiên tòa.
2. Sự ra đời và phát triển của khái
niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự hình thành và phát triển
của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại.
Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là
thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại. Trong
xã hội hiện đại, ở các nước dù có tổ chức hệ thống tư pháp khác nhau,
dù là hệ thống luật án lệ (common law), hệ thống luật lục địa (legal
law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì ít hay nhiều và bằng các
thể hiện khác nhau, trong hệ thống tố tụng đều có yếu tố tranh tụng.
Đây là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho tòa án xác định sự thật
khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng
và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng.
Vì thế, chúng tôi không thể đồng ý với quan điểm cho
rằng tranh tụng là yếu tố đặc trưng của tư pháp tư sản; rằng tranh tụng
là biểu hiện của nền dân chủ tư sản hình thức; và vì vậy nó không thể
có chỗ đứng trong hoạt động tư pháp xã hội chủ nghĩa; rằng trong tư
pháp xã hội chủ nghĩa chỉ có tố tụng xét hỏi và kết hợp với tranh luận
để giải quyết vụ án mà thôi v.v.
Theo Từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện
cáo lẫn nhau1. Còn theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ tranh tụng được
ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”. Tranh tụng là tranh luận
trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có sự tham gia của các bên có
quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án phân xử. Để có
cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham
gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và
tranh luận để bảo vệ yêu cầu của mình.
Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạt
động tài phán của tòa án. Xét xử dân sự là hoạt động phân xử vụ kiện
giữa các bên có quyền và lợi ích khác nhau. Tại phiên tòa, tòa án tiến
hành xác định sự thật của vụ án bằng cách điều tra công khai, chính
thức về vụ việc, nghe các bên tranh luận về giải quyết vụ án từ góc độ
nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.
Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng, địa
vị pháp lý của các bên cũng khác nhau. Tranh tụng trong tố tụng hình sự
diễn ra giữa bên buộc tội và bên bào chữa, chủ yếu là giữa công tố với
người bào chữa và bị cáo; trong tố tụng dân sự diễn ra giữa nguyên đơn
với bị đơn dân sự. Để những người đó thực hiện việc tranh tụng, pháp
luật tố tụng quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định.
Vì vậy, trong khoa học pháp lý, tranh tụng được phân thành tranh tụng
dân sự, tranh tụng kinh tế, tranh tụng hành chính2.
Trong tất cả các loại tranh tụng, tòa án là cơ quan
thực hiện chức năng xét xử. Tòa án thực hiện chức năng như một trọng
tài có địa vị độc lập với các bên để phân xử một cách khách quan, theo
pháp luật. Trong tố tụng hình sự, chức năng xét xử của tòa án độc lập
với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa; trong tố tụng dân sự,
kinh tế, tòa án là người đứng ra phân xử giữa bên khởi kiện và bên bị
kiện để ra phán quyết về vụ án.
Cần phải khẳng định rằng với tính chất là sự tranh
luận giữa các bên có quyền và lợi ích khác nhau, tranh tụng luôn luôn
có mặt trong các hệ thống tố tụng khác nhau. Bởi vì, mục đích của các
hệ thống tố tụng dân chủ, tiến bộ trong thế giới hiện đại là xác ��ịnh
được sự thật và phán quyết về vụ án trên cơ sở quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, mỗi hệ thống tố tụng lại có phương cách
xác định sự thật khác nhau, cơ sở pháp lý khác nhau , nên phạm vi, tính
chất và mức độ tranh tụng cũng có những điểm khác nhau. Căn cứ vào
phương cách mà tố tụng được thực hiện, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện
phương cách đó, người ta phân tố tụng tư pháp, đặc biệt là tố tụng hình
sự thành các hệ thống khác nhau: hệ thống tranh tụng, hệ thống xét hỏi
(hay thẩm vấn) và hệ thống pha trộn. Và trong mỗi hệ thống đó, mức độ
tranh tụng cũng khác nhau3.
- Hệ thống tranh tụng:
Hệ thống tranh tụng thường được sử dụng trong các
nước có hệ thống luật án lệ (common law). Mục đích chính của tố tụng
theo hệ thống này là phán quyết trên cơ sở thỏa mãn với sự thật pháp lý
mà các bên chứng minh tại phiên tòa. Theo hệ thống này, hoạt động tư
pháp thực chất được bó gọn trong hoạt động xét xử tại phiên tòa với các
quy định nghiêm ngặt (nhiều khi đến mức máy móc) về thủ tục tố tụng.
Tính tranh tụng trong xét xử vụ án được thực hiện một cách triệt để. Sự
thật chỉ được xác lập tại phiên tòa. Các chức năng tố tụng (công tố–
bào chữa– xét xử, nguyên kiện– bị kiện– xét xử) được quy định và thực
hiện minh bạch và hoàn toàn chế ước, kiểm tra lẫn nhau. Tòa án đóng vai
trò là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai
(bên nguyên và bên bị) thuyết phục hơn để qua đó phán xét. Quyết định
của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ sở sự thật khách
quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh tại
phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn.
Vì vậy, tòa án không xét hỏi, không tranh luận và
cũng không gợi ý tranh luận, mà chỉ là người trọng tài điều khiển phiên
tòa, đóng vai trò thụ động trong quá trình chứng minh, nhưng lại toàn
quyền phán quyết về vụ án. Toàn bộ quá trình tố tụng được thực hiện
bằng miệng. Vì vậy, tại phiên tòa phải có mặt tất cả những người tham
gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng, các vật chứng phải được các
bên đưa ra xem xét tại phiên tòa v.v.
- Hệ thống xét hỏi:
Hệ thống xét hỏi thường được sử dụng trong các nước
theo hệ thống luật lục địa (legal law). Mục đích chính của tố tụng theo
hệ thống này là cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ án để từ đó
ra phán quyết. Vì vậy, quá trình tố tụng được thực hiện bằng văn bản và
bằng lời, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại phiên tòa. Tòa án
thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả đóng vai trò
quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa. Vì vậy thủ
tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình
thức: việc xét xử không nhất thiết phải có mặt tất cả những người tham
gia tố tụng, chứng cứ thu thập chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa, gánh
nặng xét hỏi do tòa án đảm nhận. Phán quyết của tòa án được đưa ra trên
cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách quan của vụ án, chứ
không phải là kết qủa của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên
tòa v.v.
- Hệ thống pha trộn:
Hệ thống pha trộn được thực hiện trên cơ sở kết hợp
hai hệ thống tranh tụng và xét hỏi. Nhìn từ góc độ mục đích tố tụng
cũng như phương cách để đạt được mục đích đó, thì mỗi hệ thống tranh
tụng (tranh tụng hay xét hỏi) đều có mặt tích cực và hạn chế nhất định.
Hệ thống tố tụng pha trộn là sự kết hợp giữa hai hệ thống tranh tụng
trên. Tùy theo việc quốc gia thuộc vào hệ thống tư pháp nào (án lệ hay
lục địa) mà “dấu ấn” của hệ thống tố tụng trong hệ thống tố tụng pha
trộn nổi rõ hơn.
Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động
theo truyền thống luật lục địa. Tố tụng nước ta được thực hiện theo hệ
thống pha trộn thiên về xét hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng nước
ta rõ nét hơn. Việc nghiên cứu bản chất của tranh tụng tại phiên tòa ở
nước ta phải được xem xét từ góc độ tranh tụng trong tố tụng xét hỏi.
3. Hiện nay, trong khoa học pháp lý
còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung tranh tụng tại phiên tòa. Có ý
kiến cho rằng tại phiên tòa các bên chỉ thực hiện việc tranh luận trong
giai đoạn tranh luận, còn xét hỏi là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử và
Viện kiểm sát. Những người khác lại cho rằng tranh tụng được thực hiện
trong hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét
hỏi và phần tranh luận.
Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ thu hẹp việc tranh tụng
trong phần tranh luận thì không đạt được các mục đích tranh tụng đặt
ra. Để thực sự tham gia vào quá trình chứng minh, các bên tham gia
tranh tụng phải được phép đưa ra chứng cứ, thực hiện việc xét hỏi, xem
xét vật chứng, để đảm bảo tính đầy đủ, toàn diện, chứng cứ phải được
thu thập, kiểm tra, đánh giá từ góc độ, cách nhìn nhận khác nhau cả của
bên nguyên (nguyên đơn, buộc tội) cũng như bên bị (bị đơn, bị cáo). Hơn
nữa, theo tố tụng hình sự của nhiều nước, nhất là các nước theo truyền
thống án lệ, phiên tòa không được phân chia rõ rệt thành phần xét hỏi,
phần tranh luận thì quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ xảy ra trong phần
tranh luận là không chính xác.
Theo chúng tôi, nội dung tranh tụng tại phiên tòa bao gồm:
- Đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập
thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới. Hồ sơ, chứng
cứ được xác lập trong giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho việc xét
xử tại phiên tòa. Tuy nhiên, các chứng cứ có trong hồ sơ là do các cơ
quan tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và
không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối với vụ án hình sự,
trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên
đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng
cứ buộc tội, không chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên
bào chữa (người bào chữa, bị can, bị cáo) không được quyền chủ động thu
thập chứng cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên tòa. Vì
vậy, cho nên pháp luật tố tụng quy định các bên tham gia tố tụng có
quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, quyền đưa ra các chứng cứ
mới tại phiên tòa. Nhiệm vụ của tòa án là đảm bảo để các bên thực hiện
quyền tố tụng này; tránh trường hợp sợ phiền phức, sợ phiên tòa đi
chệch quỹ đạo chuẩn bị nên không chú trọng thủ tục này tại phần mở đầu
phiên tòa.
- Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi thực
chất là cuộc điều tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật
khách quan của vụ án. Vì vậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền
điều tra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác,
xem xét vật chứng, tài liệu. Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi tòa án
thấy rằng thông qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng chứng minh
trong vụ án đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc
giải quyết đã được làm rõ. Vì thế cho nên, thủ tục tố tụng quy định
quyền thu thập chứng cứ chỉ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, quy định
gánh nặng xét hỏi cho tòa án, quy định chỉ cho phép một số ít các bên
tham gia xét hỏi (đại diện Viện kiểm sát, luật sư) cần được xem xét lại
từ góc độ tranh tụng;
- Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ. Qua việc
điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng
đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết qủa chứng minh. Để thực hiện chức năng tố
tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các
bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về
sự thật khách quan của vụ án để giúp cho tòa án cân nhắc khi ra phán
quyết. Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố
tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn,
thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết;
- Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng. Thực tiễn
cho thấy rằng, do nhiều lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt,
quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức
pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt
động tố tụng. Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh
luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp
dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức
năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ: trong phiên tòa hình sự, đại diện Viện
kiểm sát đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ cáo trạng, bảo vệ
việc buộc tội; người bào chữa đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để gỡ
tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo v.v;
- Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến
quyền và lợi ích liên quan. Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, nội dung không thể
thiếu trong tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở
chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó. Tùy
theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý
kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau: đại diện Viện
kiểm sát bảo vệ cáo trạng, người bào chữa, bị cáo bảo vệ quan điểm
không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên đơn dân sự đòi
hỏi việc bồi thường, bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường4 v.v
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố
tụng mà trong đó Tòa án thay mặt nhà nước xác định sự thật của vụ án
trên cơ sở điều tra công khai tại phiên Tòa, nghe ý kiến của các bên
tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách
khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.
4. Tranh tụng là nguyên tắc quan
trọng trong tố tụng nói chung và xét xử nói riêng. Để đảm bảo cho
nguyên tắc tranh tụng được thực hiện đầy đủ trong tố tụng nhằm giải
quyết đúng đắn, khách quan vụ án, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên tham gia tố tụng, cần thiết phải có một hệ thống các bảo
đảm về pháp lý, về tổ chức cũng như về cơ sở vật chất.
* Bảo đảm pháp lý:
Theo chúng tôi, bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa bao gồm:
- Các quy định đầy đủ, hợp lý và khả thi về địa vị
tố tụng của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa để họ có đầy đủ điều
kiện, khả năng thực hiện các nội dung tranh tụng theo chức năng, nhiệm
vụ hoặc lợi ích của mình: được chủ động thu thập vật chứng, được xét
hỏi những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng trong
giai đoạn điều tra, được yêu cầu cung cấp tài liệu;
- Quy định thủ tục tố tụng bình đẳng, nhất là tại
phiên tòa; đảm bảo để các bên tham gia tố tụng được xét hỏi, tranh luận
một cách khách quan, công bằng và bình đẳng; mở rộng phạm vi các vụ án
có sự tham gia bắt buộc của luật sư;
- Quy định quyền khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết
định của các bên và hiệu lực như nhau của các khiếu nại đó.Ví dụ: Viện
kiểm sát và bị cáo đều phải có quyền kháng cáo, kháng nghị như nhau đối
với bản án, quyết định của tòa án.
* Bảo đảm về mặt tổ chức:
- Hình thành các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ
chức bổ trợ với chức năng hợp lý phù hợp với cơ chế tranh tụng. Các vấn
đề như quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong tố tụng hình
sự, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát tư pháp hay không, có cho phép
thành lập các tổ chức thám tử tư để giúp người tham gia tố tụng thu
thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra, là những vấn đề cần được nghiên
cứu thỏa đáng;
- Tăng cường các tổ chức luật sư, mở rộng phạm
vi bào chữa để đảm bảo các phiên tòa có sự tham gia của người bào chữa
ngày càng nhiều; nâng cao văn hoá pháp lý trong tố tụng nói chung và
tại phiên tòa nói riêng;
- Nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng, đảm bảo cho họ có đủ năng lực về
chuyên môn, về phong cách, về khả năng diễn đạt để thực hiện tốt việc
tranh tụng tại phiên tòa. Những trường hợp người tham gia tranh tụng
không có khả năng đó thì nhất thiết phải được sự trợ giúp của luật sư;
- Bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình tranh tụng.
Vị trí của các bên tại phiên tòa thế nào để đảm bảo không khí tố tụng
bình đẳng, khách quan; tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong
quá trình tố tụng; hệ thống âm thanh, hình ảnh thuận tiện cho việc theo
dõi tiến trình tố tụng là những điều kiện rất cần thiết cho tranh tụng
cần được nghiên cứu v.v.
5. Tóm lại
1. Tranh tụng là hình thức tố tụng trong giải quyết
các vụ án. Phạm vi và nội dung tranh tụng có khác nhau trong các hệ
thống pháp luật và các loại án. Thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa
và tòa án ra phán quyết trên cơ sở kết qủa tranh tụng tại phiên tòa là
đảm bảo quan trọng cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giải
quyết vụ án đúng đắn, khách quan.
Tranh tụng tồn tại trong tất cả thủ tục tố tụng hình
sự, dân sự, kinh tế, hành chính. Tuy nhiên, mỗi loại án có những đặc
trưng khác nhau về yếu tố tranh tụng. Việc tranh tụng được thực hiện
trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, nhưng tại phiên tòa là quan
trọng nhất.
Nội dung tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện cả
trong giai đoạn bắt đầu, trong xét hỏi và trong tranh luận. Tùy theo
địa vị tố tụng mà người tham gia tố tụng thực hiện nội dung tranh luận
khác nhau.
Để thực hiện việc tranh tụng, cần thiết phải có một
hệ thống các bảo đảm về mặt pháp lý, về mặt tổ chức phù hợp, khả thi
trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay.
2. Bộ luật tố tụng hình sự cần thể hiện được các tư tưởng tranh tụng trong tố tụng xét hỏi như sau:
- Quy định tranh tụng, bảo đảm sự bình đẳng của các
bên tham gia tố tụng trước tòa án là các nguyên tắc cơ bản của tố tụng
hình sự.
- Các nguyên tắc đó phải được thể hiện đầy đủ trong
các quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng hình sự: bình đẳng trong quá
trình chứng minh (bao gồm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ), bình
đẳng trong bày tỏ quan điểm, đưa ra các yêu cầu và tranh luận trước tòa
án v.v
- Quy định rõ và và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố
tụng của các bên tham gia tố tụng để họ có đủ cơ sở pháp lý cho việc
tranh tụng được thực hiện trên thực tế;
- Mở rộng phạm vi tham gia tố tụng của người bào
chữa cho bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền lợi của đương sự để họ có
thể thay mặt bị can, bị cáo, đương sự thật sự thực hiện việc tranh tụng
trong tố tụng hình sự. Việc mở rộng phạm vi tham gia tố tụng của người
bào chữa không đơn thuần là vấn đề người bào chữa tham gia tố tụng vào
thời điểm nào như bấy lâu nay vẫn được tranh luận trong khoa học mà
quan trọng là người bào chữa có địa vị pháp lý như thế nào để có thể
bình đẳng trong tranh tụng với bên buộc tội.
Chú thích:
1 Xem: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1991, trang 1238.
2 Nguyễn Đức Mai, Vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, Luận án Thạc sĩ luật học, Hà Nội, 1996, trang 14.
3 Xem: Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa
học pháp lý Bộ tư pháp, số chuyên đề, 1999, trang 177-133; Tố tụng
tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học xét xử, số 1-2003,
trang 3-6.
4 Xem: Thông báo 290 ngày 05 tháng 11 năm 2002
của Tòa án nhân dân tối cao kết luận hội thảo về “Tranh luận tại phiên
tòa hình sự”.
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ
PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ - Tòa án Quân sự Trung ương
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, đường Nguyễn Trãi, Phường Nhân Chính, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
Số điện thoại
TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057 (gặp Luật sư Trường)
Email:
contact@sunlaw.com.vn
Website:
www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn