Bàn về cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ sở hữu trí tuệ là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế và là lĩnh vực được WTO quan tâm xây dựng hành lang pháp lý khá chặt chẽ thông qua Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Đây là một Hiệp định đa phương của WTO có tính toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài các yêu cầu chung quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong xây dựng pháp luật, các thiết chế thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; phải đối xử công bằng đối với các chủ thể và đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS còn quy định về các biện pháp kiểm soát biên giới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (quy định từ Điều 51 đến Điều 60 của Hiệp định).
Trong bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về các
biện pháp kiểm soát biên giới theo yêu cầu của TRIPS và những nỗ lực
của Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát biên
giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.
1. Yêu cầu của các Hiệp định quốc tế về kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường kinh
doanh lành mạnh, ngăn chặn sự thâm nhập của bất kỳ loại hàng hóa giả
mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào vào thị trường nội địa của các
quốc gia đã trở thành yêu cầu không chỉ riêng cho hệ thống pháp luật
của từng quốc gia, mà nó đã trở thành các cam kết quốc tế.
Trước khi có Hiệp định TRIPS, thì Công ước về Bảo hộ
sở hữu công nghiệp (Công ước Pari năm 1883, được sửa đổi tại Stockholm
năm 1967) tại Điều 9 có quy định về thu giữ khi nhập khẩu hàng hóa có
gắn trái phép nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại.
“1. Tất cả hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên
thương mại một cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những
nước thành viên của Liên hiệp, nơi mà nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên
thương mại đó có quyền được bảo hộ pháp lý.
2. Việc thu giữ hàng hóa cũng áp dụng tại nước nơi
đã xảy ra việc sản xuất hàng hóa có gắn nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên
thương mại một cách trái phép hoặc tại nước nơi hàng hóa đã được nhập
vào.
3. Việc thu giữ hàng hóa được tiến hành phù hợp
với pháp luật quốc gia của mỗi nước theo yêu cầu của cơ quan công tố;
hoặc bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào khác; hoặc của bất kỳ cá nhân
hoặc pháp nhân nào có liên quan.
…
5. Nếu pháp luật quốc gia không quy định việc thu
giữ hàng hóa khi nhập khẩu, thì việc thu giữ được thay thế bằng biện
pháp cấm nhập khẩu hoặc thu giữ hàng hóa này trên thị trường nội địa…”.
Như vậy, yêu cầu kiểm soát biên giới nhằm bảo đảm
tính hợp pháp, trung thực của hàng hóa nhập khẩu đã được pháp luật quốc
tế quan tâm từ rất sớm. Mục đích của các quy định này ngoài việc đề cao
yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, còn kiểm soát, ngăn chặn hàng hóa
giả mạo cả trên thị trường nội địa và thị trường xuất, nhập khẩu. Các
quy định trên còn được cụ thể hóa và hoàn thiện hơn tại Điều 51 Hiệp
định TRIPS.
Theo quy định tại điều luật này, thì Cơ quan Hải
quan có thẩm quyền đình chỉ thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
có dấu hiệu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời các quốc gia thành
viên phải ban hành các quy định pháp luật về nội dung cũng như về thủ
tục để bảo đảm:
- Cho phép các cá nhân, pháp nhân là chủ sở hữu
quyền sở hữu trí tuệ có quyền nộp đơn cho các cơ quan có thẩm quyền (là
cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử) để đề nghị Cơ quan Hải quan
đình chỉ thông quan đối với các trường hợp có căn cứ hợp lý để nghi ngờ
rằng, có thể xảy ra việc nhập khẩu các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo
hoặc vi phạm bản quyền nhằm ngăn chặn việc đưa hàng hóa đó vào lưu
thông tự do.
- Cho phép các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có
quyền nộp đơn trong trường hợp phát hiện hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu
xâm phạm các quyền sở hữu trí tuệ khác.
- Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đình chỉ
thông quan tại Cơ quan Hải quan đối với các loại hàng hóa xuất, nhập
khẩu có sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 50 (khoản 1) của Hiệp định TRIPS khi quy định
về các biện pháp tạm thời cũng cho phép các cơ quan xét xử có quyền ra
lệnh áp dụng một cách khẩn cấp và hữu hiệu các biện pháp khẩn cấp tạm
thời nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm bất kỳ loại quyền sở hữu trí tuệ
nào và đặc biệt ngăn chặn hàng hóa nhập khẩu vào các kênh thương mại
thuộc phạm vi quyền hạn của mình ngay sau khi đã hoàn thành thủ tục hải
quan.
Qua các quy định ở trên, thấy rằng, về mặt nguyên
lý, mọi hàng hóa xuất, nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ khi qua biên giới đều có thể bị Cơ quan Hải quan kiểm soát và thu
giữ ngay tại chỗ theo những trình tự và thủ tục nhất định. Trong trường
hợp nếu đã hoàn thành thủ tục thông quan rồi mới phát hiện sự vi phạm,
thì cơ quan xét xử có thể ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
để thu giữ số hàng hóa có vi phạm đó.
Có thể nói, mặc dù các biện pháp kiểm soát biên giới
chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn trong Hiệp định TRIPS và chủ yếu liên
quan đến bảo hộ hàng hóa có nhãn hiệu và tên thương mại được đăng ký
bản quyền, song nếu như, những hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và xâm phạm
bản quyền đã được bảo hộ này bị kiểm soát và thu giữ tại biên giới, sẽ
làm giảm nguy cơ gây nhầm lẫn hoặc gây thiệt hại của chúng trên thị
trường phân phối và lưu thông nội địa. Điều này có ý nghĩa hết sức quan
trọng, không những nhằm bảo hộ tích cực quyền sở hữu trí tuệ mà còn bảo
vệ quyền lợi của Nhà nước, các nhà sản xuất, quyền lợi của người tiêu
dùng và xã hội. Tuy nhiên, cũng theo quy định của TRIPS, thì Hiệp định
loại trừ không đề cập lĩnh vực nhập khẩu song song, mà dành quyền quy
định về vấn đề này cho pháp luật quốc gia của các thành viên. Bên cạnh
đó, các biện pháp kiểm soát biên giới là các biện pháp khẩn cấp tạm
thời, trong vòng 10 ngày, chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm
phải thu thập đủ chứng cứ để khởi kiện, nếu không số hàng hóa bị thu
giữ sẽ được giải tỏa. Bởi vậy, vấn đề đặt ra không phải là phụ thuộc
hiệu lực kiểm soát và thu giữ hàng hóa có dấu hiệu vi phạm, mà là cơ
chế bảo đảm thực thi, tạo điều kiện để người có quyền lợi bảo vệ được
lợi ích hợp pháp của họ thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, thì quốc gia này đã
phát triển một hệ thống kiểm soát Hải quan đặc biệt để chống hàng giả
mạo. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể liệt kê các quyền sở hữu
trí tuệ của họ vào hệ thống điện tử để Hải quan kiểm soát khi làm thủ
tục cho các hàng hóa xuất nhập khẩu thông quan. Trong quá trình kiểm
tra, giám sát hàng hóa xuất, nhập khẩu ở Nhật Bản, Hải quan sẽ kiểm tra
tất cả các loại hàng hóa kê khai làm thủ tục và đối chiếu với các quyền
sở hữu trí tuệ đã đăng ký trong hệ thống điện tử để phát hiện và thu
giữ những hàng hóa có dấu hiệu vi phạm. Hệ thống này tỏ ra rất có hiệu
quả đối với các trường hợp bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, đối
với việc bảo hộ bản quyền thì khó khăn hơn trong việc triển khai cơ chế
thực thi vì chưa có hệ thống đăng ký điện tử. Vì vậy, việc kiểm soát
biên giới dường như chỉ được tiến hành khi có sự phát hiện của chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ báo rằng có việc nhập khẩu hàng hóa xâm phạm bản
quyền và phương thức này chưa thật sự đảm bảo cho việc ngăn chặn hàng
giả mạo vào thị trường nội địa một cách toàn diện và hiệu quả.
2. Những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Thực hiện chính sách mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế theo lộ trình phù hợp điều kiện đất nước và bảo đảm thực hiện những cam kết quốc tế trong quan hệ song phương và đa phương, tiến tới gia nhập WTO. Trong thời gian qua Đảng
và Nhà nước ta đã chú trọng quan tâm tới việc hoàn thiện thể chế, chính
sách pháp luật, trong đó có việc tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Về các quy định chung mang tính nguyên tắc được quy
định trong Bộ luật Dân sự năm 1995, các Nghị định của Chính phủ đã lần
lượt được ban hành, quy định bao quát hầu hết các lĩnh vực bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ, như: Bảo hộ quyền tác giả; bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại
và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu
công nghiệp; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới…
Có thể nói, cho đến nay, hệ thống pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
của Việt Nam là khá đầy đủ và toàn diện, đảm bảo cơ sở pháp lý để các
chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và các cơ quan thực thi pháp luật bảo
vệ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.
Trong việc thực hiện các biện pháp kiểm soát biên
giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996 của Chính phủ, tại khoản 6 Điều 64 đã chỉ rõ: “… Tổng cục
Hải quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường quy định về các biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu công
nghiệp đối với hàng hóa xuất nhập khẩu…”. Theo quy định này, nhiệm vụ
thực thi kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với
hàng hóa xuất, nhập khẩu đã được Chính phủ giao cho Tổng cục Hải quan.
Và một lần nữa, nhiệm vụ này được quy định trong Luật Hải quan năm 2001.
Phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS, Luật
Hải quan năm 2001 tại Chương III, Mục 5 (các Điều 57, 58, 59) có quy
định việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, chủ sở hữu
quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt
Nam có quyền đề nghị Cơ quan Hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối
với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu khi có căn cứ cho rằng hàng hóa đó
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khi thực hiện việc đề nghị dừng làm thủ
tục hải quan, người đề nghị phải có đơn đề nghị gửi Cơ quan Hải quan,
xuất trình các bằng chứng về quyền sở hữu trí tuệ hợp pháp của mình
được pháp luật bảo hộ, bằng chứng về việc hàng hóa đã xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ. Đồng thời, họ phải nộp một khoản tiền bảo chứng để bảo đảm
bồi thường thiệt hại trong trường hợp đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải
quan của họ không đúng. Khi xét thấy người đề nghị đã thỏa mãn những
điều kiện ở trên, Cơ quan Hải quan sẽ xem xét và ra quyết định tạm dừng
làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu.
Về thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với
hàng hóa xuất, nhập khẩu khi có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
được quy định chi tiết tại Điều 14, Nghị định số 101/2001/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 31/12/ 2001. Thời gian tạm dừng là 10 ngày, kể từ ngày
ra quyết định, tuy nhiên, thời hạn này có thể bổ sung không quá 10 ngày
nữa, nếu người đề nghị nộp bổ sung một khoản tiền tạm ứng bằng 20% giá
trị lô hàng tạm giữ. Nếu quá thời hạn tạm dừng, người đề nghị tạm dừng
không đưa ra được bằng chứng hay kết luận của cơ quan có thẩm quyền
chứng minh lô hàng tạm dừng đã có sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ;
không có cơ quan hoặc Tòa án can thiệp bằng văn bản yêu cầu Cơ quan Hải
quan bàn giao lô hàng tạm dừng để xử lý thì Cơ quan Hải quan sẽ giải
tỏa, làm thủ tục thông quan cho lô hàng. Người yêu cầu tạm dừng phải
bồi thường thiệt hại về các chi phí do lô hàng bị tạm dừng. Còn nếu như
người yêu cầu tạm dừng chứng minh được chủ hàng hóa xuất, nhập khẩu đã
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thì chủ hàng và hàng hóa vi phạm sẽ được
xử lý theo các quy định của pháp luật.
Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam về
cơ chế kiểm soát biên giới khi có yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
đã xích dần với quy định của nhiều quốc gia trên thế giới và phù hợp
với Hiệp định TRIPS. Tuy nhiên, vấn đề cần tăng cường là cơ chế thực
thi pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và kiểm soát
biên giới khi có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nói riêng.
3. Một số ý kiến góp phần tăng cường cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ
Thứ nhất, để các biện pháp kiểm soát biên giới nhằm
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được tiến hành hiệu quả, thì cơ chế bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ trong nước phải được thực hiện ngăn nắp và quy củ.
Tất cả các loại hàng hóa đều phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa,
tên thương mại; các nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, chủ dẫn địa lý phải
minh bạch, rõ ràng. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thường xuyên phải
có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo
vệ kịp thời các quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ của mình, khi có
hành vi xâm phạm.
Thứ hai, pháp luật hiện hành cho phép Cơ quan Hải
quan được tạm dừng hàng hóa xuất, nhập khẩu khi có đề nghị tạm dừng hợp
pháp của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Việc áp dụng biện pháp tạm
dừng này, dẫu sao vẫn là ở trạng thái bị động (chỉ khi được yêu cầu),
vì vậy, biện pháp kiểm soát biên giới chưa thực sự ngăn ngừa toàn diện
hàng hóa giả mạo. Nên chăng, trong Luật Hải quan cần bổ sung các quy
định về thông quan, yêu cầu “những chủ hàng có hàng hóa xuất, nhập khẩu
cần phải xuất trình trước cơ quan Hải quan giấy chứng nhận đăng ký
quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm hàng hóa mà mình làm thủ tục
xuất, nhập khẩu”. Tương tự như vậy, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
(C/O) cũng phải được coi là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp của hàng
hóa xuất, nhập khẩu (trong mọi trường hợp) nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ.
Thứ ba, cho đến nay, chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, các quyền sở hữu trí tuệ khác, thông thường chỉ làm thủ tục đăng ký bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ với Cục Sở hữu trí tuệ (thuộc Bộ Khoa học –
Công nghệ), chứ chưa có quy định nào yêu cầu họ đăng ký với cơ quan Hải
quan. Nên chăng, pháp luật cần bổ sung thêm quy định yêu cầu các chủ sở
hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại thành một hệ thống tại cơ quan Hải quan các cửa khẩu, để khi
tiến hành kiểm tra, giám sát hàng hóa làm thủ tục thông quan, cơ quan
Hải quan có thể chủ động phát hiện các trường hợp hàng hóa vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ và thu giữ kịp thời; hoặc kịp thời báo cho chủ sở
hữu quyền sở hữu trí tuệ biết để tìm biện pháp ngăn chặn. Trường hợp
này cũng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cơ quan Hải quan khi kiểm
soát hàng hóa nhập khẩu song song.
Thứ tư, tăng cường thẩm quyền và hiệu lực của cơ
quan Hải quan trong việc kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất,
nhập khẩu. Để làm tốt vấn đề này, cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ
giữa chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ – Cục Sở hữu trí tuệ – Cơ quan Hải
quan trong việc phòng ngừa hàng hóa xuất, nhập khẩu vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ. Xây dựng bộ phận chuyên trách giám sát, quản lý về sở hữu
trí tuệ tại các cơ quan Hải quan trung ương, Hải quan địa phương cũng
như Hải quan cửa khẩu với trách nhiệm cụ thể và thẩm quyền cần thiết.
Tăng cường mối quan hệ giữa Cơ quan quản lý thị
trường và Cơ quan Hải quan trong việc phát hiện, điều tra hàng giả mạo
được sản xuất trong thị trường nội địa chuẩn bị xuất khẩu ra nước ngoài.
Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống sản
xuất và buôn bán hàng giả. Trong phạm vi quyền hạn của mình, Cơ quan
Hải quan cần tăng cường kiểm tra ngăn chặn việc vận chuyển, buôn bán
các loại hàng giả qua biên giớ.
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ
TS. ĐẶNG VŨ HUÂN - Bộ Tư Pháp
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, đường Nguyễn Trãi, Phường Nhân Chính, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
Số điện thoại
TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057 (gặp Luật sư Trường)
Email:
contact@sunlaw.com.vn
Website:
www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn