Bàn về kỹ thuật làm luật
Nhiều người chê luật nước ta phần nhiều là luật khung, chỉ gồm những định nghĩa và qui phạm chung, khó cho việc thi hành. Dựa vào cái khung chồng chềnh đó, vô số văn bản dưới luật được ban hành, từ tài liệu tập huấn.
Luật lệ kém hiệu quả có
phải bởi quá nhiều luật khung?
công văn hướng dẫn, thông tư, quyết định của các bộ, ngành
cho tới các nghị định của Chính phủ. Cái sáng ý của người làm luật đôi khi trở
nên mờ nhạt, hoặc bị méo mó nhiều phần chi chiếu tới dân qua muôn vàn lăng kính
của người thực thi công vụ. Sự chê bai đó có phần đúng và cũng có phần oan cho
ng��ời làm luật, bởi lẽ luật nước nào mà chẳng chung chung (không có tính khái quát
cao đâu còn là quy phạm). Thêm nữa, nhiều đạo luật của nước ta, tuy còn chút
khó hiểu đối với người bản xứ song nếu được dịch ra tiếng Tây, tiếng Tàu, biết
đâu kẻ ngoại quốc kia chẳng kinh ngạc mà thốt lên rằng tại sao ở cái xứ phương
Nam xa xôi lại có những đạo luật giống luật lệ nước họ đến từng chữ như vậy.
Ngoài ra, có một thời ở ta luật lệ đơn sơ, thế mà cuộc tổng động viên sức mạnh
của toàn dân tộc vẫn diễn ra vô cùng mau lẹ và hiệu quả, làm cho những tên đế
quốc hung hãn nhất hành tinh đều run sợ.
Theo thiển ý của tôi, dường như thiếu
luật hoặc lệ đơn sơ chưa nguy hiểm bằng thiếu sự đồng lòng của toàn nền quan
chế và nhân dân thực thi tinh thần pháp luật. Nếu quan lại thiếu sáng tạo, chỉ
biết thụ động chờ bề trên dẫn tay chỉ lối: Một nền quan chế như vậy tự nó tạo
ra những sức cảm làm cho hệ thống chính trị phản ứng chậm chạp với đổi thay mau
lẹ ngoài đời.
Nguy hại hơn, nếu một bộ phận
quan lại tư lợi, chỉ lo “trước là đẹp mặt sau là ấm thân” chăm chút khai thác
luật lệ cho lông cánh của riêng mình thì nước ta mau chóng có một lớp váng giàu
có, còn sự nghèo nàn được chia rộng ra cho toàn xã hội.
Vậy nên, muốn làm cho luật pháp
sống trong cuộc đời, điều cốt yếu theo tôi đừng quá tôn thờ văn bản luật, đừng
quan niệm rằng hàng vạn con chữ do nền cơ quan lập pháp, lập quy in ra trên tờ
giấy ngay lập tức có thể trở thành mệnh lệnh áp chế toàn dân tuân thủ. (Nói như
các nhà hàn lâm: Đừng quan niệm luật chỉ là văn bản luật trên giấy, đó chỉ mới
là một phần nhỏ xíu trong vô số những nguồn tạo ra luật pháp). Luật chỉ sống
trong khi nó được tạo nên bởi lòng dân, được áp dụng bởi những cơ quan chấp
pháp bị kiềm chế bởi sự liêm chính và sự giám sát của toàn xã hội, và nhất là
luật chỉ sống khi được phát hiện và giải thích bởi các thẩm phán nhân danh công
lý mà hành xử một cách độc lập, công tâm.
Như vậy, về đại thể, có 3 vấn đề
lớn làm cho luật lệ nước ta gần lại với cuộc sống:
- Cần làm tiếng dân dội lên văn bản luật
- Cần cương toả quyền lập quy của hành pháp
- Cần tạo cơ hội cho quan toà ung dung, độc lập
mà sáng tạo ra án lệ theo cảm nhận của lương tâm.
Trong bài viết ngắn này, xin được
lạm bàn về một vấn đề, làm sao văn bản luật phản ánh ngày càng tốt hơn lợi ích
của nhân dân.
Văn bản luật và tiếng
vọng của lòng dân
Nhận ra mong ước của 80 triệu
người dân Việt Nam, đẩy mong ước lên tầm cao của những quyết sách thông thái
rồi dịch chúng ta thành những mệnh lệnh khúc chiết, dễ hiểu, dễ thi hành: từ
phản ánh lợi ích dân chúng cho tới dịch chính sách thành quy phạm là những giai
đoạn khác nhau của một quy trình thống nhất – quy trình làm luật.
Trong quy trình đó, công việc khó
khăn nhất, và có lẽ cũng dễ gây tranh cãi nhất,có lẽ là lựa chọn những chính
sách phù hợp với lợi ích của số đông công chúng. Xã hội chúng ta cần tới những
thiết chế đa dạng đại diện cho lợi ích phức tạp của hàng triệu con người. Tự do
báo chí, tự do bầu cử, tự do lập hội hình thành nghiệp đoàn và nhóm lợi ích...
là muôn vàn nhánh rễ làm cho mọi người chính sách gắn với lòng dân. Nếu báo
chí, nghiệp đoàn thậm chí cơ quan dân cử hoạt động na ná như cơ quan hành
chính, thì suy cho cùng toàn bộ hệ thống chính trị của chúng ta chỉ phản ánh
lợi ích của nhà nước mà thôi. Tiếng dân lọt thỏm giữa những thiết chế quốc
doanh. (Có lẽ cũng bởi vậy, có khi người ta quen viết hoa chữ Nhà nước, mà lại
viết thường chữ dân).
Khi nghiệp đoàn phát triển, những
bó đuốc đó soi sáng ý chí nhân dân, dẫn dắt, tạo sức ép buộc cơ quan hành chính
phải nhận ra chính sách và nâng chúng lên thành dự án luật. Đối mặt với cuộc
sống, ở đâu, Chính phủ và các cơ quan chấp pháp địa phương cũng là cơ quan sốt
sắng đưa ra sáng kiến lập pháp hoặc lập quy. Đằng sau các sáng kiến đó, suy cho
cùng là những tổ hợp, nghiệp đoàn đại diện cho những nhóm lợi ích đã “vận động
hành lang” một cách thành công. Bởi vậy, để tránh việc người có tiền và có thế
lực khuynh đảo chính sách, pháp luật, người ta cần đến những thủ tục minh bạch
hoá việc vận động hành lang và thẩm định lại dự luật phù hợp với lợi ích của số
đông dân chúng.
Các thiết chế dân cử với những
ông bà nghị sĩ và hội đồng có lẽ không có việc gì đáng làm hơn là đại diện cho
cử tri, những người qua lá phiếu đã tín nhiệm họ. Vì đăm đắm làm lợi cho cử tri
của mình, họ sẽ chăm chú theo dõi các dự luật có thể phương hại đến lợi ích của
cử tri và tìm mọi cách cản trở các dự luật đó. Muốn nghị viện quan tâm đến cử
tri, cần phải làm cho những cuộc bầu cử trở thành cuộc ganh đua giành lấy tín
nhiệm của người đi bầu.
Nói tóm lại, tự do lập hội, tự do
báo chí là những cứu cánh làm cho tiếng dân dội lên thành vô vàn kiến giải và
lựa chọn chính sách. Cơ quan hành pháp chọn lấy những quyển sách thông thái
nhất mà để lên thành dự án luật. Công việc của cơ quan dân cử, suy cho cùng,
chỉ là thẩm định thiệt hơn của các quyết sách đó so với lợi ích của cử tri và
lợi ích quốc gia. Nếu chúng ta lấy dân làm gốc, thì cách hành xử hiện thời đối
với báo chí, cách soạn, thẩm định, thẩm tra, lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật...có
lẽ cũng nên tư duy lại vì lợi ích của nhân dân.
Luật là chính sách, luật
không phải là tác phẩm văn chương
Lịch sử pháp luật quả thực đầy
những câu chuyện văn chương của những người hay chữ. Nếu không có đầu óc triết
lý thông thái và giỏi chữ nghĩa, người ta không thể soạn ra cổ luật Hamuribi
cho tới các bộ luật của Napoleon bên Tây, hoặc Bộ luật của thời Đường, Hình thư
đòi Lý, Quốc triều hình luật hay Hoàng Việt Luật Lệ ở các xứ phương Đông. Tuy
nhiên, chuyện hay chữ của các nhà soạn thời xưa nay phải lùi bước trước một thế
hệ con cháu cần những quyết sách mạch lạc , dễ hiểu, dễ thi hành, tránh bị lạm
dụng. Luật pháp ngày nay phải là những mệnh lệnh giản đơn, ngắn gọn, và có thể thay
đổi tức thì, ứng biến mau lẹ với cuộc đời.
Từ thực tế đó, dường như nghị
viện các nước ít chăm chú vào các bộ luật hoành tráng dầy tới vài nghìn điều;
mà ngày càng ban hành nhiều các đạo luật với một, vài hoặc dăm bảy điều. Các
nhà in ấn, phát hành sách luật sẽ gắp từng mệnh lệnh đó, sắp xếp vào từng tệp
dữ liệu tiện cho người dân khi sử dụng. Hoá ra pháp điển hoá không phải công
việc của nghị viên, mà là công việc kỹ thuật của các nhà in.
Bàn tới điều này, tôi sợ đã làm chạnh
lòng các ban đang soạn thảo bộ luật Dân sự, Luật thương mại, Bộ luật Lao động,
Luật An sinh xã hội, Luật Doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung và vô số những
đạo luật khác. Chỉ khi sự anh minh của quý vị có thể soi rọi số phận dân tộc
vài trăm năm nữa thì mới nên tạo ra các bộ luật hùng vĩ.
Từng bước cương toả quyền lập quy
Quốc hội và các cơ quan dân cử là ra luật, song đó chỉ là váng mây bay trên đầu
dân chúng. Giọt mưa, giọt nắng hàng ngày là hàng vạn mệnh lệnh được gọi là pháp
quy – những luật lệ do của cơ quan hành chính các cấp và vô số thiết chế phi
nhà nước khác ban hành.
Cương toả những quyền lập quy đó
là một câu chuyện khó khăn và đầy bí hiểm bởi quyền lực trong xã hội nào cũng
có phần nổi và vô số phần chìm. Luật giám sát quy phạm hành chính dự
kiến được ban hành vào năm 2005 có lẽ là một bước dè dặt tới xu hướng này. Tuy
nhiên, có thể đoán rằng, một cuộc chia và canh chừng quyền lực như vậy chỉ có
thể xuất hiện ở những xứ no ấm và chỉ khi dân chúng có đầy đủ các công cụ thực
thi quyền ông chủ của mình.
Ban hành nhiều đạo luật nhỏ, cụ
thể, chi tiết, thi hành được ngay...đồng nghĩa với việc cắt giảm quyền của Chính
phủ và các bộ/ ngành cũng như chính quyền địa phương ban hành quy chế hướng
dẫn. Điều này chỉ là những nốt nhạc dạo đầu ngập ngừng của một triết lý lớn
hơn; Chính phủ chỉ được lập quy khi được uỷ quyền cho những việc cụ thể và toàn
bộ quyền lập quy của cơ quan hành pháp phải bị đặt dưới sự giám sát gắt gao bởi
nhiều thiết chế nhằm bảo vệ dân quyền.
Người ta bảo: Tôi nghĩ, nghĩa
là tôi đang sống. Một dân tộc biết suy tư, mơ ước và hành động để chế ngự đói
nghèo và ganh đua với các dân tộc láng giềng là một dân tộc đang sống. Đóng cửa
lại, tự cấp, tự túc với đồng lúa và lệ làng, tự mãn với sự lạc điệu của riêng
mình có lẽ là kẻ thù đáng sợ nhất của dân tộc chúng ta.
Nguồn: TS Phạm
Duy Nghĩa - Tạp chí Nhà quản lý
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------