Bàn về thực trạng và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người theo Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị (kỳ I)
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 48-NQ/TƯ Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết 48). Ngày 21/3/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Kế hoạch số 900/UBTVQH11 triển khai Nghị quyết này của Bộ Chính trị. Ngày 15/9/2009, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 819/UBTVQH12 về việc thành lập Ban Chỉ đạo sơ kết công tác thực hiện Kế hoạch số 900/UBTVQH11.
Để góp phần phục vụ công tác sơ kết, dựa trên các
tiêu chí đánh giá khoa học về tính hoàn thiện của một hệ thống pháp luật; đối
chiếu với yêu cầu và nội dung đề ra của Nghị quyết 48; kết hợp với thực tiễn
xây dựng, hoàn thiện và thi hành pháp luật; chúng tôi bước đầu có một số nhận
xét, đánh giá thực trạng và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và
pháp luật về quyền con người hiện nay ở nước ta.
1.
Thực trạng pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người
ở nước ta hiện nay
1.1.
Thực trạng pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước
1.1.1.
Về tính toàn diện của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước
Nghị quyết 48, trước hết, đòi hỏi việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước (BMNN) phải thể chế hoá các quan điểm về
“xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN); cụ thể
hoá đầy đủ nguyên tắc hiến định: Quyền lực nhà nước (QLNN) là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước (CQNN) trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Có thể nói, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, về phương diện
lý luận tổ chức BMNN, Đảng và Nhà nước ta có hai cống hiến lớn: (i) lần đầu
tiên ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001): “Nhà nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân” (Điều 2) và (ii), cũng lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta
thừa nhận nguyên tắc tổ chức và hoạt động mới của BMNN là: “QLNN là thống nhất,
có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2).
Hai điểm mới quan trọng nhất nói trên đã chỉ đạo việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN ta như thế nào? Đã thể hiện một cách toàn
diện trong tổ chức BMNN ra sao? và đã đi vào thực tiễn lập pháp cũng như tổ
chức thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này như thế nào trong thời gian qua? Có
thể đánh giá như sau:
Một
là, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001)
không những đã thể chế hai quan điểm chỉ đạo đó thành quy định về bản chất và
là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của BMNN cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện, mà còn bước đầu được cụ thể hoá, nhất là qua các quy định về thẩm quyền lập
pháp, thẩm quyền quyết định và thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội với
những sửa đổi, bổ sung phù hợp, minh bạch, rõ ràng hơn, như: “Quyết định chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh” (khoản 1 Điều 84); “Quyết định chính sách tài
chính tiền tệ quốc gia… phân bổ ngân sách trung ương” (khoản 3, 4 Điều 84).
Phân định thẩm quyền đúng đắn hơn theo tinh thần pháp quyền giữa Quốc hội và cơ
quan thường trực giữa hai kỳ họp của nó, như không giao cho Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội xem xét phê chuẩn nhân sự theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ giữa
hai kỳ họp của Quốc hội. Điều chỉnh nhiệm vụ quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân
dân (KSND) cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới. Theo đó, Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội được ban hành (ngày11/4/2007) đã
tổ chức lại một số cơ quan của Quốc hội, nhằm xây dựng một Quốc hội mạnh và
thực quyền.
Cùng với việc điều chỉnh lại thẩm quyền, trách nhiệm của các CQNN
nói chung, pháp luật về cán bộ công chức nhà nước nói riêng cũng được hoàn
thiện thêm một bước bằng việc ra đời một số luật mới lần đầu tiên được ban hành
ở nước ta như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Cán bộ,
công chức năm 2008 (nâng Pháp lệnh Cán bộ, công chức thành Luật).
Hai
là, tuy nhiên, theo đòi hỏi về tính toàn diện của việc
thể chế hai quan điểm chỉ đạo nói trên, xét cả trên phương diện xây dựng và
hoàn thiện pháp luật lẫn trên bình diện tổ chức thực hiện pháp luật hiện hành
về tổ chức BMNN, còn bộc lộ một số khiếm khuyết sau đây:
- Tư duy pháp lý về xây dựng NNPQ chậm hình
thành. Một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn
về tổ chức bộ máy chưa được làm sáng rõ nên không đạt được sự dứt khoát và mạnh
mẽ trong thiết kế mô hình tổ chức, nhất là, thiếu sự nhận thức thống nhất và
quy định phù hợp trong việc xác định nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan
trong BMNN. Điều đó thể hiện trên một số mặt chủ yếu sau đây:
+ Hiến pháp là đạo luật cơ bản, nhưng ngay nội dung của nó cũng
chưa xác định được cơ quan nào là cơ quan hành pháp, cơ quan nào là cơ quan tư pháp.
Điều đó dẫn đến việc quy định thẩm quyền không rõ ràng, ảnh hưởng đến việc tổ
chức và thực hiện pháp luật của các cơ quan này trong thực tế;
+ Mô hình tổ chức bộ máy NNPQ XHCN khác với mô hình tổ
chức BMNN theo Hiến pháp năm 1980 như thế nào chưa thật tường minh về nhận thức
lý luận. Nguyên nhân cơ bản là do chưa có sự nhận thức
đầy đủ và thống nhất nguyên tắc hiến định: “QLNN là thống nhất có sự phân công
và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp”. Vì vậy, ngay trong Hiến pháp, việc phân công, phân nhiệm nhiệm vụ quyền
hạn của các nhánh QLNN về lập pháp, hành pháp và tư pháp chưa thật phù hợp. Ví
như khi quy định nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội vẫn còn chịu ảnh hưởng của
nguyên tắc tập quyền XHCN, thừa nhận sự thống nhất của QLNN thể hiện tập trung
ở Quốc hội, nên đã quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến. Còn
nếu thừa nhận nguyên tắc QLNN là thống nhất ở nhân dân (cả ba quyền đều cùng
một nguồn gốc, một bản chất và một mục đích thống nhất là nhân dân) thì quyền
lập hiến phải thuộc về nhân dân như Hiến pháp năm 1946, chứ không phải thuộc về
Quốc hội như quy định của Hiến pháp hiện hành.
- Tư duy về mô hình tổ chức BMNN theo Hiến pháp năm 1992 còn ít
nhiều chịu ảnh hưởng của tư duy nhà nước bao cấp và kế hoạch hoá trước đây, nên việc thể chế hai quan điểm mới nói trên chưa thật
sự nhất quán. Ví như mặc dầu đã bỏ chức năng kiểm sát chung, nhưng vẫn giữ lại
nhiệm vụ quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện KSND. Chính phủ vẫn là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất với nhiệm vụ quyền hạn rất thụ động, chấp
hành là chủ yếu… Tư duy pháp lý của mô hình tổ chức bộ máy NNPQ XHCN chậm ra
đời đã hạn chế sự hình thành của một số thiết chế về kiểm soát quyền lực nhà
nước như cơ chế bảo hiến chuyên trách; chuyển Viện KSND thành Viện Công tố; tổ
chức lại mô hình thi hành án hình sự theo tư duy mới. Tất cả điều đó trên thực
tế đã làm chậm quá trình cải cách BMNN.
Ba
là, tính toàn diện của pháp luật về tổ chức BMNN theo
Nghị quyết 48 còn đòi hỏi phải: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động Quốc hội theo hướng nâng cao chất lượng lập pháp, bảo đảm tốt hơn
tính dân chủ, pháp chế, công khai minh bạch của hệ thống pháp luật”. Xem xét tính
toàn diện của pháp luật về tổ chức BMNN theo các đòi hỏi về quyền lập pháp, có
thể rút ra một số đánh giá sau đây:
- Xét về tổ chức bộ máy Quốc hội đã có một bước đổi mới theo định
hướng nâng cao chất lượng lập pháp. Một số tư duy mới về tổ chức hoạt động của Quốc
hội đã ra đời như: tăng cường chất lượng và số lượng các cơ quan của Quốc hội,
các đại biểu Quốc hội chuyên trách theo định hướng muốn Quốc hội mạnh phải xây
dựng hai trụ cột của Quốc hội là các Uỷ ban, Hội đồng Dân tộc và đại biểu Quốc
hội phải mạnh. Tuy nhiên, các tư duy về Quốc hội theo mô hình nhà
nước kế hoạch hóa quan liêu bao cấp trước đây vẫn còn thể hiện trong Hiến pháp
và Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành. Đó là còn một số
quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội chưa thật phù hợp (như giám sát văn
bản quy phạm pháp luật, giám sát hoạt động tư pháp). Tổ chức và hoạt động của
các cơ quan của Quốc hội chưa phù hợp với tính chất và đặc trưng của cơ quan
lập pháp. Sự khác nhau căn bản giữa lập pháp và hành pháp là ở chỗ, trong tổ
chức của mình, Quốc hội không có các cấp, các chức vụ hành chính; không có
người quản lý, người bị quản lý. Tất cả các đại biểu Quốc hội đều bình đẳng với
nhau về nhiệm vụ và quyền hạn. Nhưng trên thực tế, các cơ quan của Quốc hội lại
được hành chính hoá. Trong các Uỷ ban và Hội đồng Dân tộc có các cấp bậc khác nhau
từ Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, đại biểu chuyên trách thường trực, đại biểu
chuyên trách không thường trực, đại biểu là thành viên. Các chức danh đó lại có
chế độ chính sách khác nhau, không tạo ra môi trường bình đẳng và độc lập trong
tổ chức và hoạt động của đại biểu. Luật Bầu cử Quốc hội chưa có sự đổi mới theo
tư duy xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân để gắn trách nhiệm của đại
biểu với cử tri, để cử tri giám sát được đại biểu. Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội lần đầu tiên ra đời ở nước ta nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ và quyền hạn
giám sát tối cao của Quốc hội, nhưng các quy định về chủ thể, nội dung, phạm vi,
khách thể, đối tượng giám sát cần phải được rà soát để xác định cho phù hợp,
khả thi và minh bạch hơn. Tư duy về Quốc hội toàn quyền trong mô
hình nhà nước quan liêu bao cấp vẫn còn thể hiện trong Luật Hoạt động giám sát. Quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước là một trong ba
chức năng cơ bản của Quốc hội nước ta. Nhưng đến nay, Quốc hội vẫn chưa xây
dựng được luật về hoạt động quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước để cụ
thể hóa việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn này, nhất là quy trình, thủ tục
thực hiện theo nguyên tắc “dân chủ, đảm bảo để nhân dân tích cực tham gia vào
các hoạt động của các cơ quan dân cử” như Nghị quyết 48 yêu cầu, dù đã ba lần
Quốc hội ra Nghị quyết quy định những công trình trọng điểm quốc gia thuộc thẩm
quyền quyết định của mình.
- Chất lượng lập pháp có tiến bộ hơn, hạn chế được phần nào tình
trạng “luật khung”, “luật ống” với những quy định không có nội dung điều chỉnh.
Nhìn tổng thể so với trước đây, hệ thống pháp luật nước ta đã tương đối đầy đủ.
Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học
công nghệ, xã hội, an ninh quốc phòng, các giao lưu dân sự, phòng chống tội
phạm… đều đã có các đạo luật, bộ luật điều chỉnh. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật
đó đang tồn tại nhiều “lỗ hổng”, sự điều chỉnh pháp luật ngay trong một lĩnh
vực cũng còn nhiều khoảng trống. Ngay trong lĩnh vực tổ chức BMNN, thẩm
quyền của lập pháp, hành pháp chưa được phân định rõ ràng trong nhiều lĩnh vực
quan hệ cụ thể, nên trên thực tế còn để trống nhiều
quan hệ xã hội chưa có pháp luật điều chỉnh. Ví như Hiến pháp năm 1992 quy
định: Quốc hội có thẩm quyền quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia
(khoản 4 Điều 84), nhưng chính sách tài chính tiền tệ quốc gia có nội hàm thế
nào thì rất khó xác định khi xây dựng các luật về ngân hàng, luật về ngân sách.
Đối với những đạo luật chuyên ngành khác như Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhà
nước, Luật Bảo vệ rừng, Luật Đầu tư… cũng chưa xác định được thẩm quyền của
Quốc hội và Chính phủ, của các Bộ ngành và chính quyền địa phương trong các
quan hệ cụ thể, mà chỉ quy định chung chung mang tính nguyên tắc, nên khó tổ
chức thực hiện. Hiến pháp quy định Quốc hội có 14 nhiệm vụ quyền hạn, nhưng có
một số nhiệm vụ quyền hạn chưa được cụ thể hoá thành luật nên các nhiệm vụ đó
chưa được thực hiện. Ví dụ như quyết định việc trưng cầu dân ý, quyết định đại
xá…
Như vậy, có thể nhận xét rằng, pháp luật về tổ chức BMNN trong
các lĩnh vực cụ thể còn có “khoảng trống” trong việc quy định thẩm
quyền (nhiệm vụ và quyền hạn) giữa Quốc hội
và Chính phủ. “Khoảng trống” pháp luật đó làm cho việc
phân công, phân nhiệm một cách rạch ròi nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
trong mối quan hệ với hành pháp theo đòi hỏi của nguyên tắc tổ chức QLNN trong
NNPQ XHCN mà Đảng và Nhà nước ta đề ra chưa được thực hiện một cách rõ ràng,
minh bạch, làm cho lao động QLNN không đề cao được trách nhiệm của từng chủ
thể, đánh giá thành tích và khuyết điểm sai lầm sẽ chung chung, không chỉ rõ
được chủ thể chịu trách nhiệm.
Bốn
là, tính toàn diện về pháp luật tổ chức BMNN theo Nghị
quyết 48 đòi hỏi: “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, cán bộ và hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cải cách
hành chính nhà nước… Xóa bỏ vai trò chủ quản của cơ quan hành chính đối với
doanh nghiệp để các cơ quan này tập trung làm tốt chức năng quản lý nhà nước
theo luật. Đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, đặc
biệt là các thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân và
doanh nghiệp”. Xem xét các đòi hỏi trên, có thể nhận thấy rằng:
- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, và hoạt động của
các cơ quan hành chính nhà nước đã có sự chú trọng tới việc cải cách hành chính,
thu gọn đầu mối các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, bộ máy hành
chính đã “không gọn” mà ngày càng “phình to” cùng với hoạt động lập pháp của
Quốc hội và hoạt động lập quy của Chính phủ. Đối với hoạt động lập pháp của
Quốc hội, nhiều tổ chức và con người “ăn theo” ra đời cùng với việc xây dựng,
ban hành luật. Đối với hoạt động lập quy của Chính phủ, tình trạng đẻ ra Tổng
cục ở các Bộ ngày càng phổ biến, việc chia tách huyện, xã cũng làm cho bộ máy
phình to, tiêu tốn ngân sách ngày càng lớn trong lúc điều kiện vật chất, đường
sá, thông tin liên lạc ngày càng được cải thiện. Xét trong mối quan hệ với ngân
sách nhà nước, có thể xem đây là một biểu hiện tiêu cực của hoạt động lập pháp
và hoạt động lập quy, làm cho BMNN ngày càng phình to, trái với yêu cầu cải
cách hành chính. Theo số liệu của Bộ Nội vụ năm 2001, cả nước có 622 huyện,
quận; 10.611 xã, phường; năm 2005 có 670 huyện, quận, 10.862 xã; phường, còn
hiện nay có tới 691 huyện quận, 11.062 xã, phường;
- Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức Chính phủ chưa làm rõ được vị
trí vai trò của Chính phủ trong NNPQ XHCN là cơ quan hành pháp cao nhất. Chính phủ,
theo Hiến pháp hiện hành là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất”. Chúng ta
biết rằng, hành pháp (executive) và hành chính (administraition) là những khái
niệm khác nhau. Hành pháp dùng để chỉ hoạt động hoạch định và điều hành chính
sách quốc gia. Hành chính dùng để chỉ hoạt động chấp hành chính sách của các
công chức. Tổ chức bộ máy và cán bộ của Chính phủ là để hoạt động hoạch định,
điều hành chính sách gắn liền với các chính khách - những nhà hoạt động chính
trị như Thủ tướng, các Bộ trưởng, chứ không phải là những hoạt động chấp hành
chính sách một cách thuần túy của các công chức. Vì không phân biệt hành pháp khác
với hành chính, nên trong tổ chức và hoạt động của mình, Chính phủ chưa trở
thành chủ thể có nhiệm vụ hàng đầu là hoạch định chính sách quốc gia. Công việc
hoạch định chính sách quốc gia, đặc biệt là chính sách trong các dự án luật
phần lớn được giao phó cho các Bộ là chủ yếu. Vì thế, trên nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội, Chính phủ chưa đề ra được chính sách quốc gia một
cách bài bản, khoa học dưới dạng các chiến lược quốc gia. Ví như chiến lược quốc gia về thuế; chiến lược quốc gia về tài
nguyên khoáng sản… đến nay không rõ. Trong điều kiện hội nhập và mở cửa, sự thăng
trầm của một đất nước phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của Chính phủ - người
trực tiếp chèo lái con thuyền đất nước đi đến giàu mạnh, văn minh, Hiến pháp và
Luật tổ chức Chính phủ phải xác định lại vị trí của Chính phủ là cơ quan hành
pháp cao nhất, là người trực tiếp điều hành xã hội. Muốn điều hành được xã hội một
cách chủ động, linh hoạt, Chính phủ phải là người có vai trò hoạch định và điều
hành chính sách quốc gia.
- Điều 112 Hiến pháp năm 1992 quy định nhiệm vụ quyền hạn của
Chính phủ còn mang nặng tư duy về Chính phủ trong nhà nước hành chính quan liêu
bao cấp. Các nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ được quy định khá thụ động,
chủ yếu là chấp hành, thi hành. Nhưng Chính phủ trong NNPQ XHCN có thể định
nghĩa một cách ngắn gọn là “Phủ” ra chính sách. Tiếc rằng, Hiến pháp đã không
làm nổi rõ thẩm quyền đó của Chính phủ. Đồng thời, Hiến pháp liệt kê đến 11
khoản về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ ở Điều 112, song vẫn không đầy đủ.
Bởi, Chính phủ là người điều hành xã hội, trong khi xã hội lại thường xuyên vận
động và phát triển. Vì vậy, việc liệt kê các nhiệm vụ và quyền hạn của Chính
phủ như Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành là không phù hợp. Chỉ cần
quy định rõ ràng, minh bạch thẩm quyền của Quốc hội và các cơ quan tư pháp, còn
lại là thẩm quyền của Chính phủ. Thẩm quyền của Chính phủ bị giới hạn bởi thẩm
quyền của Quốc hội và các cơ quan tư pháp. Việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn
của Chính phủ theo phương pháp liệt kê sẽ dẫn Chính phủ đến thụ động, thiếu
năng động, sáng tạo trong hoạt động.
- Pháp luật về hành chính, theo Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị
yêu cầu đến năm 2010 phải “xóa bỏ vai trò chủ quản của cơ quan hành chính đối với
doanh nghiệp, để các cơ quan này tập trung làm tốt chức năng quản lý theo
luật”. Có thể nói, cho đến nay, pháp luật chẳng những chưa xóa bỏ
được quan hệ “cha - con” giữa các cơ quan hành chính chủ quản với các doanh
nghiệp, mà do lợi ích thị trường ngày càng phát triển, quan hệ “cha - con” ấy
ngày càng sâu nặng mà chưa có cơ chế pháp lý ngăn chặn.
Quan hệ “ngầm” giữa QLNN với các tập đoàn, doanh nghiệp có xu hướng phát triển,
nhưng chưa có pháp luật minh bạch hóa quan hệ này nhằm phòng chống tham nhũng,
tiêu cực. Theo dư luận xã hội, đằng sau các quan chức hành chính đều có bóng
dáng doanh nghiệp, tập đoàn thuộc ê kíp của mình, nhưng đến nay vẫn không có cơ
chế pháp lý phát hiện và minh bạch hóa quan hệ đó. Chính vì pháp luật chưa đóng
được vai trò xóa bỏ quan hệ chủ quản giữa các cơ quan hành chính với các doanh
nghiệp, nên các cơ quan này chưa làm tốt chức năng quản lý nhà nước của mình.
Theo nhận định của Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010 thì: “Tham nhũng không
gây cản trở nhiều lắm cho hoạt động của doanh nghiệp, song mức độ hối lộ tính
bằng phần trăm trong doanh thu thì không hề giảm”1. Tình trạng tài
nguyên, khoáng sản được khai thác một cách bừa bãi, xuất thô qua biên giới
không kiểm soát được ở nhiều tỉnh thành trong thời gian qua là một minh chứng.
- “Đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính,
đặc biệt là các thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân
và doanh nghiệp” theo yêu cầu của Nghị quyết 48 đã được đẩy mạnh. Tuy nhiên,
cải cách thủ tục hành chính chỉ có hiệu quả khi tiến hành song song, đồng bộ
với cải cách thiết chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính và con người. Tiếc
rằng thời gian qua, cải cách thiết chế, cải cách tổ chức bộ máy công chức, công
vụ không được coi trọng và tiến hành song song với cải cách thủ tục hành chính.
Do đó, mặc dầu thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa, nhưng đi vào cuộc sống
còn rất khó khăn vì tổ chức bộ máy và con người chưa được cải cách tương xứng.
Công chức, công vụ đã được điều chỉnh bằng luật, nhưng tác dụng điều chỉnh còn
hạn chế, trách nhiệm chưa được đề cao; đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ
công chức chưa hình thành;
- Pháp luật về khiếu nại tố cáo chưa “đảm bảo cho mọi quyết định
và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước
Tòa án”. Các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân khi bị CQNN và những người
có thẩm quyền xâm hại chưa có cơ chế giải quyết bình đẳng, đơn giản, thuận lợi
cho người dân;
- Pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa đảm
bảo cho toàn bộ mọi hoạt động của hành pháp đều được kiểm soát. Có thể nói,
pháp luật về tổ chức bộ máy hành pháp chưa coi trọng xây dựng cơ chế kiểm soát
QLNN bên trong bộ máy của mình. Bản thân hành pháp chưa kiểm soát được chính
mình thì khó mà kiểm soát được xã hội;
- Pháp luật về chính quyền địa phương (Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân) vẫn còn mang nặng tư duy của mô hình tổ chức cũ, chậm được
đổi mới do thiếu một hệ thống quan điểm lý luận nhất quán về mô hình tổ chức
chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương gồm mấy cấp hoàn chỉnh? Uỷ ban
nhân dân là cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân cùng cấp
như trước đây, hay Hội đồng nhân dân có cơ quan thường trực riêng của mình? Ở
địa phương có tổ chức theo hai nhánh QLNN có tính độc lập tương đối như ở trung
ương (lập pháp và hành pháp) hay không? QLNN ở trung ương và QLNN ở địa phương
quan hệ theo phân cấp do lập quy điều chỉnh như hiện này hay theo phân quyền do
hoạt động lập pháp điều chỉnh? Những vấn đề đó chưa được làm sáng rõ và thống
nhất nhận thức, nên pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương không ổn định và
chủ yếu được điều chỉnh bằng hoạt động lập quy của Chính phủ.
Năm
là, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của BMNN còn đòi hỏi phải tiếp tục “xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp... xác định đúng, đủ quyền năng
và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp” theo quan điểm chỉ
đạo của Nghị quyết 48. Đối chiếu với thực tiễn lập pháp và tổ chức thi hành
pháp luật, có thể nhận thấy rằng, một số tư duy pháp lý mới, tiến bộ phù hợp
với việc xây dựng NNPQ XHCN đã được thể chế hóa và ghi nhận trong pháp luật về
tổ chức và hoạt động tư pháp như: tăng cường tranh tụng, coi trọng chứng cứ,
giảm bớt các tội danh có khung hình phạt tử hình… Tuy nhiên, nhìn chung cải
cách tư pháp, trong đó có đổi mới tư duy pháp lý về tổ chức và hoạt động tư
pháp, còn chậm, chưa tương xứng với đòi hỏi của Nghị quyết số 49 của Bộ Chính
trị về cải cách tư pháp. Biểu hiện qua những điểm chủ yếu sau:
- Các cấp Tòa án chưa thật sự đảm bảo tính độc lập trong xét xử.
Tình trạng dựa dẫm, ỷ lại vào sự chỉ đạo của cá nhân có thẩm quyền của Tòa án cấp
trên đối với việc xét xử - nhất là các vụ án điểm - vẫn còn xảy ra. “Các thẩm
phán thường tham khảo ý kiến Toà án cấp trên trước khi đưa ra phán quyết đối
với vụ việc mà họ đang thụ lý” (nhận định của Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010). Cơ
chế quản lý Tòa án địa phương theo hướng đảm bảo tính độc lập giữa các cấp Toà
án trong hoạt động xét xử chưa được hoàn thiện theo đòi hỏi của Nghị quyết số
48. Chưa có chế tài pháp lý đủ mạnh để ngăn cấm hiện tượng này. Thẩm phán chưa
đóng được vai trò là người trọng tài, mà vẫn còn đóng vai trò là một bên tham
gia tố tụng vào vụ án;
- Còn một số lĩnh vực của đời sống xã hội chưa được tài phán bằng
con đường Tòa án, như pháp luật chưa giao cho Toà án phán quyết những văn bản
quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật của các CQNN có thẩm quyền. Như vậy,
theo Nghị quyết 48, pháp luật hiện hành chưa xác định đủ quyền năng và trách
nhiệm pháp lý cho Toà án - trung tâm của quyền tư pháp;
- Viện KSND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Theo pháp luật
hiện hành, Viện KSND không chỉ có quyền công tố mà còn có cả quyền kiểm sát
hoạt động tư pháp. Giao cho Viện KSND chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là không
phù hợp với điều kiện xây dựng NNPQ XHCN. Bởi vì, việc thực hiện thẩm quyền
kiểm sát hoạt động tư pháp chủ yếu là kiểm sát hoạt động xét xử sẽ ảnh hưởng
đến nguyên tắc độc lập khi xét xử của Toà án. Đương nhiên, cơ quan công tố có
quyền kiểm sát điều tra, bởi vì cơ quan này phải sử dụng kết quả điều tra để
truy tố một nghi can ra trước Toà án. Pháp luật cần phải làm rõ thẩm quyền công
tố và thẩm quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện KSND. Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi một số điều năm 2001) không quy định cơ quan nào là cơ quan tư pháp.
Vậy kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát cơ quan nào và hoạt động nào? Như
vậy, so với yêu cầu của Nghị quyết 48 có thể thấy rằng, pháp luật chưa xác định
đúng quyền năng của Viện KSND để chuyển Viện KSND đảm đương chức năng công tố
là chủ yếu;
- Các cơ quan điều tra - theo yêu cầu của Nghị quyết 48 - phải
thu gọn đầu mối, nhưng đến nay vẫn chưa làm được, mà lại có xu hướng “nở ra” do
Bộ Công an hình thành nhiều Tổng cục mới. Pháp lệnh về Tổ chức cơ quan điều tra
năm 2004 đã bỏ cơ quan điều tra chuyên trách, đưa công tác phòng ngừa tội phạm
vào cùng chung một tổ chức đảm nhiệm. Theo hướng này, công tác phòng ngừa tội
phạm có thể bị coi nhẹ, vì tổ chức đảm nhiệm sẽ tập trung ưu tiên vào công tác
điều tra, xử lý tội phạm để đảm bảo các quy định tố tụng theo luật định. Phòng
ngừa tội phạm là công việc âm thầm, kiên trì, không dễ cân đong đo đếm được
thành tích, không có biểu dương khen “nóng”, kịp thời như điều tra chống tội
phạm, vì thế trong mối quan hệ với điều tra tội phạm, thì phòng ngừa tội phạm
thường bị “lép vế” hơn trong chỉ đạo và điều hành công việc của người đứng đầu cơ
quan. Tình hình tội phạm hình sự hiện nay khá phức tạp. Điều đó do nhiều nguyên
nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân công tác phòng ngừa tội phạm chưa được coi
trọng đúng mức so với công tác điều tra tội phạm. Pháp luật về tổ chức bộ máy
trong lĩnh vực tư pháp cần phải được hoàn thiện theo hướng tăng cường công tác
phòng ngừa tội phạm. Do vậy, phòng ngừa tội phạm phải được tổ chức thành một cơ
quan tách khỏi cơ quan điều tra trong các lực lượng công an. Theo đó, trước mắt
cần phải sửa đổi Pháp lệnh về Tổ chức cơ quan điều tra.
1.1.2.
Về tính đồng bộ của pháp luật trong tổ chức BMNN
- Để đảm bảo tính đồng bộ trong xây dựng pháp luật về tổ chức
BMNN theo Nghị quyết 48 đòi hỏi “hoạt động của Đảng phù hợp với Hiến pháp và
pháp luật”. Với vai trò lãnh đạo của mình, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động lập pháp đã có sự đổi mới, nhằm phát huy dân chủ, tăng cường trách
nhiệm của Quốc hội, Chính phủ trong xây dựng và ban hành pháp luật. Tuy nhiên,
trong hoạt động của mình còn một số ít quyết định cụ thể có tính chất áp dụng
pháp luật chưa thật phù hợp, dẫn đến sự thiếu đồng bộ và thống nhất giữa văn
bản của Đảng và văn bản của Nhà nước (ví dụ như sáp nhập Văn phòng Đoàn đại
biểu Quốc hội với Văn phòng HĐND tỉnh, trong lúc Luật tổ chức Quốc hội vẫn còn
quy định Đoàn đại biểu Quốc hội có trụ sở, văn phòng giúp việc (khoản 3 Điều
60);
- Tính đồng bộ của pháp luật về tổ chức BMNN theo Nghị quyết 48
đòi hỏi xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nội dung phải đồng bộ với xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về thủ tục “quy trình xây dựng, ban hành và công bố
văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả trung ương và địa phương”; “Đơn
giản hoá và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ
tục liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân và doanh nghiệp”;
“Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng,
công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám
sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp”… Trong mối quan hệ với các đòi hỏi
này, có thể có một số nhận xét sau đây:
+ Quy trình xây dựng, ban hành và công bố văn bản quy phạm pháp
luật đã có luật và đã được Quốc hội hai lần sửa đổi, bổ sung. Luật này đã chứa đựng
những tư duy pháp lý mới theo hướng minh bạch, chặt chẽ, dân chủ hơn. Tuy nhiên,
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa xác định đầy đủ và hợp lý vị
trí, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quy trình xây dựng,
ban hành luật, pháp lệnh; dân chủ hoá trong quy trình còn mang tính hình thức,
chưa có chế tài đủ mạnh về trách nhiệm của các chủ thể tham gia xây dựng pháp
luật, chưa phát huy được vai trò của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các
công đoạn của quy trình lập pháp. Vì thế, quy trình lập pháp hiện hành chưa
thực sự góp phần làm chuyển biến căn bản chất lượng của hoạt động lập pháp
+ Thủ tục hành chính được quan tâm cải cách theo hướng đơn giản,
công khai và minh bạch, nhưng sự thuận lợi cho người dân còn rất hạn chế, nhất
là các thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân. Vì thế,
thủ tục hành chính chưa thân thiện và làm người dân hài lòng. Người dân và
doanh nghiệp còn phàn nàn đối với các dịch vụ công. Từ thái độ thiếu niềm nở
của những công chức hàng ngày tiếp xúc với dân, đến thủ tục nhiêu khê “một cửa
nhưng nhiều khoá, nhiều ngách”, giảm bớt thủ tục này, thủ tục khác lại sinh ra.
+ Thủ tục tố tụng tư pháp được cải cách theo hướng dân chủ, nhưng
lại có xu hướng chuyển gánh nặng trách nhiệm pháp lý nghiêng về phía đương sự, nhất
là trong quan hệ dân sự, quan hệ thi hành án dân sự. Cả các thủ tục hành chính
lẫn thủ tục tố tụng tư pháp chưa đảm bảo được sự tham gia và giám sát thực sự
của nhân dân, nên tiêu cực và tham nhũng có xu hướng ngày càng trầm trọng trong
hành pháp và tư pháp, lòng dân chưa yên trong mối quan hệ với Nhà nước.
- Pháp luật về tổ chức BMNN còn đòi hỏi phải đồng bộ với pháp
luật trong các lĩnh vực khác có liên quan. Đó là “Hoàn thiện pháp luật về giám
sát tối cao của Quốc hội, cơ chế bảo vệ luật và Hiến pháp”; “Hoàn thiện pháp luật
về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm mọi quyết định và hành vi hành chính trái pháp
luật đều được phát hiện…”; “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh
tra, kiểm tra, bảo đảm mọi hoạt động quản lý nhà nước đều chịu thanh tra, kiểm
tra… Ban hành Luật Công chức, công vụ, xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước
chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”; “sớm xây dựng Luật Phòng, chống tham
nhũng, thực hiện nguyên tắc người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải chịu trách
nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của cán bộ do mình trực tiếp
quản lý trong khi thi hành công vụ”; “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bổ
trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định, cảnh sát tư pháp…) theo hướng ngày
càng đáp ứng đầy đủ, thuận lợi các nhu cầu đa dạng về hỗ trợ pháp lý của nhân
dân, doanh nghiệp”... Đối chiếu với thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật,
có thể rút ra một số nhận xét sau:
+ Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội, lần đầu tiên ra đời ở Việt Nam, đã cụ thể hoá quyền năng hiến
định của Quốc hội, tạo điều kiện để hoạt động giám sát đi vào nề nếp. Tuy
nhiên, đây là đạo luật mới nên cũng bộc lộ những hạn chế và đang có nhu cầu sửa
đổi, bổ sung nhằm góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của giám sát tối cao
của Quốc hội. Cơ chế bảo vệ luật và Hiến pháp còn phi tập trung hoá nên hiệu
quả không cao. Bản thân Quốc hội chưa có cơ chế pháp lý chuyên trách giám sát
các hoạt động của mình, nhất là hoạt động lập pháp.
+ Luật sửa đổi bổ, sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo đã
có hiệu lực gần năm năm nay, nhưng các quyết định hành chính và hành vi hành chính
trái pháp luật chưa được phát hiện và xử lý kịp thời, cơ chế xử lý chưa hữu
hiệu; người dân vẫn còn khiếu kiện kéo dài, vẫn còn thiệt thòi, thiếu bình đẳng
trong việc giải quyết các hành vi hành chính và quyết định hành chính trái pháp
luật.
+ Pháp luật về bổ trợ tư pháp (như luật sư, công chứng, giám
định…) đã có sự hoàn thiện một bước, nhưng người dân - nhất là dân nghèo - chưa
có điều kiện tiếp cận để đáp ứng các nhu cầu đa dạng về hỗ trợ pháp lý của
mình.
+ Thanh tra, kiểm tra bên trong bộ máy hành chính chưa đảm bảo
mọi hoạt động quản lý nhà nước đều được kiểm soát kịp thời.
Từ các nhận xét trên, có thể rút ra một đánh giá khái quát rằng, pháp
luật về tổ chức BMNN ta còn thiếu hoàn thiện và thiếu hiệu quả trong lĩnh vực
kiểm soát QLNN bao gồm kiểm soát bên trong BMNN (giữa
ba quyền và giữa QLNN ở trung ương và QLNN ở địa phương) và kiểm soát từ bên
ngoài đối với QLNN (kiểm soát của nhân dân thông qua các tổ chức chính trị, xã
hội, nghề nghiệp đối với Nhà nước). Sự thiếu hoàn thiện
đó làm cho pháp luật về tổ chức BMNN thiếu đồng bộ với pháp luật có liên quan,
đã không góp phần đảm bảo cho BMNN hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, phòng
chống được tiêu cực, tham nhũng, tha hoá của QLNN.
1.1.3.
Về sự phù hợp giữa các quy định pháp luật về tổ chức BMNN với các điều kiện
kinh tế - xã hội hiện thực để đảm bảo cho pháp luật khả thi
Trong mối quan hệ này, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Có thể nói, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nền
kinh tế nước ta đã có sự thay đổi căn bản, với cấu trúc hệ thống kinh tế nhiều thành
phần, mở cửa và hội nhập. Thượng tầng kiến trúc chính trị trong đó Nhà nước là
trụ cột cũng đã có những cải cách, đổi mới, nhưng nhìn chung còn chậm. Đặc
biệt, tính dân chủ công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của
BMNN - một đòi hỏi khách quan để thích ứng với một nền kinh tế chuyển đổi, mở
cửa và hội nhập - diễn ra chậm chạp, chưa phù hợp với sự phát triển của kinh tế
- xã hội. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tiêu
cực, tham nhũng trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Vì thế, dân
chủ, công khai, minh bạch trong các quy định của pháp
luật về tổ chức và hoạt động của BMNN là đòi hỏi cấp thiết để đảm bảo cho cải
cách đổi mới Nhà nước đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
phòng chống tiêu cực, tham những, lãng phí có hiệu lực và hiệu quả thiết thực.
- Hoạt động lập pháp và lập quy của Nhà nước ta chưa chú trọng
tính toán tới mối quan hệ với chi phí về ngân sách nhà nước phải bỏ ra để thực
thi pháp luật. Do đó, nhiều quy định pháp luật do vô tình hay hữu ý đã “đẻ ra”
bộ máy, “đẻ ra” con người, “đẻ ra” chức vụ, chế độ chính sách, làm cho chi phí
ngân sách hành chính tăng lên, tiêu tốn nhiều tiền của của nhân dân mà hiệu
lực, hiệu quả không tăng lên tương ứng. Điều đó làm cho BMNN ngày càng phình to
ra, đi ngược lại xu hướng tinh giản BMNN mà Đảng ta đã đề ra. Ví dụ như việc ra
đời các quỹ trong các dự án luật: quỹ bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính
được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương (Điều 115 khoản 1 Luật
Bảo vệ môi trường); quỹ khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học (của Luật
Khoa học công nghệ); quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (Điều 39 Luật Chuyển giao
công nghệ)…
- Pháp luật về tổ chức BMNN chậm được đổi mới do còn bị níu kéo
bởi lợi ích cục bộ. Vì thế, một số quy định pháp luật còn ẩn chứa ý muốn chủ quan
không phù hợp với khách quan và mong muốn của nhiều người.
1.1.4.
Về tính thống nhất của pháp luật trong tổ chức BMNN
Pháp luật về tổ chức BMNN về cơ bản đã có sự thống nhất với các quy
định của Hiến pháp. Tuy nhiên, đi sâu vào xem xét nội dung của các quy định của
Hiến pháp và pháp luật về tổ chức BMNN, có thể thấy rằng:
- Một số quy định ngay trong bản thân Hiến pháp về tổ chức BMNN
cũng chưa có sự thống nhất với các quy định có tính nguyên tắc ở chương đầu của
Hiến pháp. Ví như nguyên tắc “tất cả QLNN thuộc về nhân dân” (Điều 2 Hiến
pháp); “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân…”; “QLNN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN…”
(Điều 2 Hiến pháp) đã chưa trở thành nhân tố đảm bảo tính thống nhất cho việc
quy định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Toà án
nhân dân và Viện KSND quy định ở các chương sau của Hiến pháp. Điều đó đã ảnh
hưởng đến việc tiến hành xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BMNN. Điều
cơ bản của sự thống nhất pháp luật về tổ chức BMNN là sự thống nhất về tinh
thần và nội dung của Hiến pháp. Các đạo luật về tổ chức BMNN chưa đạt đến độ
thống nhất theo tinh thần chỉ đạo của Hiến pháp. Đặc biệt, trong việc phân định
nhiệm vụ và quyền hạn cho các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Chưa có sự thống nhất giữa các quy định về tổ chức BMNN với
pháp luật thuộc các lĩnh vực khác như luật đất đai, luật ngân sách, luật ngân hàng,
luật xây dựng… trong việc quy định nhiệm vụ quyền hạn của các CQNN trong các
lĩnh vực này;
- Cũng chưa có sự thống nhất giữa các quy định của luật với các
quy định của văn bản dưới luật (nghị định, thông tư…) nhất là trong trường hợp luật
không quy định mà lại giao cho Chính phủ và Bộ cụ thể hoá. Lợi ích cục bộ
thường ẩn chứa trong các văn bản này, nhưng cơ chế pháp lý kiểm soát chưa hữu
hiệu để đình chỉ, huỷ bỏ.
(Kỳ sau đăng tiếp)
(1)
Báo cáo phát triển Việt Nam
năm 2010 - Các thể chế hiện đại (trang XIV). Xem: Báo cáo chung của các nhà tài
trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức tại Hà nội, ngày 3-4
tháng 12/2009.
GS, TS. Trần Ngọc Đường – Viện Nghiên cứu
lập pháp