Báo cáo số 09/BC-TANDTC ngày 09 tháng 08 năm 2010 của Tòa án Nhân dân Tối cao Tổng kết 5 năm thi hành luật tụng dân sự
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật tố tụng dân sự đã có quá trình phát triển từ năm 1945 sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Đặc biệt là việc ban hành ba Pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996.
Tuy nhiên, các Pháp lệnh này
mới chỉ quy định những nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự,
còn thiếu nhiều quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng
dân sự cũng như thiếu các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải
quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân; mặt khác, nhiều quy định
của các Pháp lệnh này không còn phù hợp, thiếu đồng bộ với các văn bản
quy phạm pháp luật khác như Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật lao động
năm 1994…
Theo Nghị quyết số 52/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của
Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2002 và Nghị quyết
số 286/2002/NQ-UBTVQH10 ngày 20-01-2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao được giao là cơ
quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Chính phủ xây dựng
Dự án Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 15-6-2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật tố
tụng dân sự, Bộ luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2005.
Sau hơn 5 năm thi hành, Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bảo đảm
trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, đơn giản, thuận
lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình;
đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt
động tố tụng dân sự. Bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được
nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
BLTTDS đã kế thừa được các giá trị của các văn bản
quy phạm pháp luật được thể nghiệm trong thực tế, bảo đảm hài hoà lợi
ích của các đương sự, tương thích với luật pháp quốc tế và thể hiện sự
minh bạch, khả thi. Tuy nhiên, khi triển khai thi hành BLTTDS cho thấy
một số quy định của BLTTDS không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất
định; có những quy định chưa đáp ứng được các yêu cầu cam kết quốc tế đa
phương và song phương; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy
phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù
hợp), chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau; có
những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự. Bên cạnh đó việc tiếp tục hòan thiện thủ tục tố tụng dân sự cũng là
một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
đã đề ra.
Nhận thức được vấn đề này, ngày 04-9-2007, Tòa án
nhân dân tối cao đã gửi Công văn số 123/KHXX về Dự kiến chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII và năm 2008,
theo đó đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và giao cho Tòa án
nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLTTDS. Ngày 21-11-2007, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ hai đã
đưa dự kiến sửa đổi, bổ sung BLTTDS vào Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011); Ngày 23-01-2008 Ủy ban
thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 567/2008/UBTVQH12 thành lập
Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS; ngày
19-10-2009 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số
51/QĐ-TANDTC thành lập Tổ biên tập Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLTTDS.
Để có cơ sở cho việc đề xuất nội dung sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLTTDS, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban
hành các công văn gửi Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, các Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, các đơn vị chức năng có liên quan
trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Trung ương Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị tổ chức tổng kết công tác thi hành
BLTTDS. Sau đây là kết quả tổng kết 5 năm thi hành BLTTDS:
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THI HÀNH BLTTDS
1. Về công tác triển khai thi hành BLTTDS
1.1. Công tác soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành
Căn cứ Lệnh số 13/2004/L-CTN ngày 24-6-2004 của Chủ
tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố BLTTDS, Bộ luật này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2005; ngày 15-6-2004 Quốc hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 ban hành
Nghị quyết số 32/2004/QH11 về việc thi hành BLTTDS; thực hiện chức năng,
nhiệm vụ và thẩm quyền, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây
dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn các quy định của BLTTDS, cụ thể như
sau:
- Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn BLTTDS:
+ Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS.
+ Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định tại chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS.
+ Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ”.
+ Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy
định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ
thẩm” của BLTTDS.
+ Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp
phúc thẩm” của BLTTDS.
- Các Thông tư liên tịch hướng dẫn BLTTDS:
+ Thông tư liên tịch số
02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17-6-2005 của Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ
Tài chính hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt,
án phí.
+ Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC
ngày 01-9-2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Kiểm sát viên
trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.
+ Thông tư liên tịch số
01/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTC-BCA-BQP-BTP ngày 31-01-2007 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tài
chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quyết
định số 241/2006/QĐ-TTg ngày 25-10-2006 của Thủ Tướng chính phủ quy định
về chế độ bồi dưỡng phiên tòa.
+ Thông tư liên tịch số
02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03-4-2008
của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp
dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp
về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân.
+ Thông tư liên tịch số
10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28-12-2007 Bộ Tư pháp,
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp
pháp lý trong hoạt động tố tụng.
+ Thông tư liên tịch số
01/2010/TTLT-TANDTC-BLĐTB&XH-VKSNDTC ngày 18-5-2010 của Tòa án nhân
dân tối cao, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong quá trình
giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa chuyên
trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Viện khoa học xét xử đã ban hành
nhiều công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn giải thích và hướng dẫn áp
dụng các quy định của BLTTDS cho TAND các cấp.
Các văn bản trên đã được ban hành kịp thời, đóng vai
trò quan trọng trong việc cụ thể hoá BLTTDS, hướng dẫn và chỉ đạo thực
thi thống nhất BLTTDS trên phạm vi toàn quốc.
1.2. Công tác triển khai thi hành BLTTDS
Bên cạnh việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
BLTTDS, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành nhiều biện pháp khác để
triển khai thi hành BLTTDS, trong đó công tác tập huấn nâng cao nghiệp
vụ giải quyết các vụ việc dân sự được chú trọng hàng đầu. Kể từ khi
BLTTDS được ban hành cho đến nay Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức được
58 lớp tập huấn cho Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký, Hội thẩm nhân dân
của Tòa án nhân dân các cấp, Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối
cao trên phạm vi cả nước. Tòa án nhân dân tối cao cũng đã chủ trì, phối
hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức được nhiều cuộc hội thảo khoa học
về pháp luật tố tụng dân sự.
Công tác nghiên cứu khoa học về pháp luật tố tụng dân
sự được Tòa án nhân dân tối cao khuyến khích. Từ năm 2005 cho đến nay,
Hội đồng khoa học Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức nghiệm thu 14 đề
tài (trong đó 06 đề tài cấp Bộ; 8 đề tài cấp cơ sở) về pháp luật tố tụng
dân sự, đây là những đề tài khoa học có chất lượng cao, là cơ sở lý
luận cũng như thực tiễn quan trọng cho việc tổ chức triển khai thi hành
BLTTDS trong toàn ngành Tòa án và phục vụ cho công tác xây dựng văn bản
hướng dẫn thi hành BLTTDS của Tòa án nhân dân tối cao.
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật tố tụng dân sự cũng được Tòa án nhân dân tối cao chú trọng.
Trong những năm qua, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực phối hợp với
các bộ, ngành hữu quan thực hiện nhiều đề án tuyên truyền phổ biến pháp
luật khác nhau, trong đó có nội dung tuyên truyền phổ biến về pháp luật
tố tụng dân sự; phát hành các ấn phẩm, tài liệu để phục vụ công tác này.
2. Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự của TAND các cấp
2.1. Năm 2005:
+ Công tác giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 129926 vụ việc trong tổng số
150195 vụ việc, đạt 87%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 115186 vụ việc
trong số 134332 vụ việc đã thụ lý, đạt 86% (các Tòa án cấp huyện đã
giải quyết 110288 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 4898 vụ
việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 14051 vụ
việc trong tổng số 15161 vụ việc đã thụ lý, đạt 93% (các Tòa án cấp tỉnh
đã giải quyết 13238 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
đã giải quyết 813 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 689
vụ việc trong tổng số 702 vụ việc đã thụ lý, đạt 98% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 440 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 249 vụ việc).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình bị hủy là 1,5%, bị sửa là 3,6%.
So với năm 2004 tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy tăng 0,2%, bị sửa
giảm 0,1%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mại và yêu cầu tuyên bố phá sản
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 1223 vụ việc trong tổng số 1495
vụ việc, đạt 82%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 1035 vụ việc
trong số 1260 vụ việc đã thụ lý, đạt 82,1% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 169 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 866 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 174 vụ việc
trong tổng số 219 vụ việc đã thụ lý, đạt 80% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 10 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giải
quyết 164 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 14
vụ việc trong tổng số 16 vụ việc đã thụ lý, đạt 88% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 01 vụ việc; Tòa kinh tế và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 13 vụ việc).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về kinh doanh thương mại bị hủy là 2,5%, bị sửa là 3,9%. So với
năm 2004 tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy tăng 0,3%, bị sửa tăng
1,3%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về lao động
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 976 vụ việc trong tổng số 1129 vụ
việc, đạt 86,4%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 812 vụ việc
trong số 950 vụ việc đã thụ lý, đạt 86% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 497 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 315 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 159 vụ việc
trong tổng số 174 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,1% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 73 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giải
quyết 86 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 5 vụ
việc trong tổng số 5 vụ việc đã thụ lý, đạt 100% (toàn bộ số vụ việc
này đều do Tòa Lao động Tòa án nhân dân tối cao giải quyết).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về lao động bị hủy là 2,2%, bị sửa là 5,2%. So với năm 2004 tỷ
lệ các bản án, quyết định bị hủy tăng 1,2%, bị sửa tăng 2%.
2.2. Năm 2006:
+ Công tác giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 143.580 vụ việc trong tổng số
160979 vụ việc, đạt 89%, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 127.137 vụ
việc trong số 143.404 vụ việc đã thụ lý, đạt 88,6% (các Tòa án cấp huyện
đã giải quyết 123.087 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 4.050
vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 15.856 vụ
việc trong tổng số 16.926 vụ việc đã thụ lý, đạt 93% (các Tòa án cấp
tỉnh đã giải quyết 15.229 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao đã giải quyết 627 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 587
vụ việc trong tổng số 649 vụ việc đã thụ lý, đạt 89% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 242 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 345 vụ việc).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình bị hủy là 1,4%, bị sửa là 3,8%.
So với năm 2005 tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy giảm 0,1%, bị sửa
tăng 0,2%. Trong đó, tỷ lệ các bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
bị hủy để giải quyết lại chiếm 2%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mại và yêu cầu tuyên bố phá sản
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 2274 vụ việc trong tổng số 2866
vụ việc, đạt 79,4% (số vụ yêu cầu tuyên bố phá sản đã giải quyết là
16/53 vụ), trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 1978 vụ việc
trong số 2498 vụ việc đã thụ lý, đạt 79,2% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 689 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 1289 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 280 vụ việc
trong tổng số 347 vụ việc đã thụ lý, đạt 80,7% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 73 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giải
quyết 207 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 16
vụ việc trong tổng số 21 vụ việc đã thụ lý, đạt 76,2% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 01 vụ việc; Tòa kinh tế và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 15 vụ việc).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về kinh doanh thương mại bị hủy là 2%, bị sửa là 3%. So với năm
2005 tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy giảm 0,05%, bị sửa tăng 0,9%.
Trong đó, tỷ lệ các bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy để
giải quyết lại chiếm 2,3%, sửa chiếm 3,4%; tỷ lệ các bản án, quyết định
của Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy chiếm 3,2%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về lao động
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 969 vụ việc trong tổng số 1043 vụ
việc, đạt 92,9%, tăng hơn cùng kỳ năm trước 6,5% và vượt 6,9% chỉ tiêu
đề ra trong đầu năm, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 760 vụ việc
trong số 820 vụ việc đã thụ lý, đạt 92,7% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 461 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 299 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 193 vụ việc
trong tổng số 205 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,1% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 118 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 75 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 16
vụ việc trong tổng số 18 vụ việc đã thụ lý, đạt 88,9% (toàn bộ số vụ
việc này đều do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết).
Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp
yêu cầu về lao động bị hủy là 2,3%, bị sửa là 7,1%. So với năm 2005 tỷ
lệ các bản án, quyết định bị hủy tăng 0,1%, bị sửa tăng 1,9%. Trong đó,
tỷ lệ các bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy để giải quyết
lại chiếm 0,92%, sửa chiếm 9%; tỷ lệ các bản án, quyết định của Tòa án
cấp phúc thẩm bị hủy chiếm 8,3%.
2.3. Năm 2007:
+ Công tác giải quyết các vụ việc dân sự:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 93090 vụ việc trong tổng số
105358 vụ việc, đạt 88,4%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 78528 vụ việc
trong số 89944 vụ việc đã thụ lý, đạt 87,3% (các Tòa án cấp huyện đã
giải quyết 76407 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 2121 vụ
việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 13932 vụ
việc trong tổng số 14724 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,6% (các Tòa án cấp
tỉnh đã giải quyết 13288 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao đã giải quyết 644 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 630
vụ việc trong tổng số 690 vụ việc đã thụ lý, đạt 91,3% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 226 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 464 vụ việc).
+ Công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 73174 vụ việc trong tổng số 77561
vụ việc, đạt 94,3%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 70204 vụ việc
trong số 74484 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,3% (các Tòa án cấp huyện đã
giải quyết 67688 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 2516 vụ
việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 2840 vụ việc
trong tổng số 2936 vụ việc đã thụ lý, đạt 96,7% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 2761 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 79 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 130
vụ việc trong tổng số 141 vụ việc đã thụ lý, đạt 92,2% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 86 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 44 vụ việc).
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mại và yêu cầu tuyên bố phá sản
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 4206 vụ việc trong tổng số 4798
vụ việc, đạt 87,7%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 3783 vụ việc
trong số 4287 vụ việc đã thụ lý, đạt 88,2% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 1948 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 1835 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 401 vụ việc
trong tổng số 485 vụ việc đã thụ lý, đạt 82,7% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 158 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 243 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 22
vụ việc trong tổng số 26 vụ việc đã thụ lý, đạt 84,6% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 4 vụ việc; Tòa kinh tế và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 18 vụ việc).
Trong năm 2007, Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết 175 trong số 175 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, đạt tỷ lệ 100%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về lao động
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 1211 vụ việc trong tổng số 1275
vụ việc, đạt 95%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 962 vụ việc
trong số 1022 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,1% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 799 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 163 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 240 vụ việc
trong tổng số 244 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,1% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 181 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 59 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 9 vụ
việc trong tổng số 9 vụ việc đã thụ lý, đạt 100% (toàn bộ số vụ việc
này đều do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết).
2.4. Năm 2008:
+ Công tác giải quyết các vụ việc dân sự:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 88454 vụ việc trong tổng số
100539 vụ việc, đạt 88%, tăng …% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 74562 vụ việc
trong số 85893 vụ việc đã thụ lý, đạt 86,8% (các Tòa án cấp huyện đã
giải quyết 72494 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 2068 vụ
việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 13213 vụ
việc trong tổng số 13887 vụ việc đã thụ lý, đạt 95,1% (các Tòa án cấp
tỉnh đã giải quyết 12529 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao đã giải quyết 684 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 679
vụ việc trong tổng số 759 vụ việc đã thụ lý, đạt 89,5% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 272 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 407 vụ việc).
+ Công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình:
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 79143 vụ việc trong tổng số 83856
vụ việc, đạt 94,4%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 76152 vụ việc
trong số 80770 vụ việc đã thụ lý, đạt 94,3% (các Tòa án cấp huyện đã
giải quyết 73560 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 2592 vụ
việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 2885 vụ việc
trong tổng số 2975 vụ việc đã thụ lý, đạt 97% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 2788 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 97 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 106
vụ việc trong tổng số 111 vụ việc đã thụ lý, đạt 95,5% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 71 vụ việc; Tòa dân sự và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 35 vụ việc).
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mại và yêu cầu tuyên bố phá sản
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 5343 vụ việc trong tổng số 6034
vụ việc, đạt 88,5%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 4748 vụ việc
trong số 5384 vụ việc đã thụ lý, đạt 88,2% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 1948 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 1835 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 538 vụ việc
trong tổng số 626 vụ việc đã thụ lý, đạt 82,7% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 262 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 276 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 21
vụ việc trong tổng số 24 vụ việc đã thụ lý, đạt 87,5% (các Ủy ban Thẩm
phán Tòa án cấp tỉnh đã xét xử 0 vụ việc; Tòa kinh tế và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 21 vụ việc).
Trong năm 2007, Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết 136 trong số 136 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, đạt tỷ lệ 100%.
+ Công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về lao động
Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 1828 vụ việc trong tổng số 1907
vụ việc, đạt 96%, trong đó:
- Các Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết 1634 vụ việc
trong số 1709 vụ việc đã thụ lý, đạt 95,6% (các Tòa án cấp huyện đã giải
quyết 1504 vụ việc; các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 130 vụ việc);
- Các Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết 189 vụ việc
trong tổng số 193 vụ việc đã thụ lý, đạt 97,9% (các Tòa án cấp tỉnh đã
giải quyết 160 vụ việc; các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã
giải quyết 29 vụ việc);
- Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã xét xử 5 vụ
việc trong tổng số 5 vụ việc đã thụ lý, đạt 100% (toàn bộ số vụ việc
này đều do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết).
2.5. Năm 2009:
Trong năm 2009, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý
214.174 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 194.358 vụ việc, đạt tỉ lệ
90,7%. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 177,417 vụ
việc; theo thủ tục phúc thẩm 15.893 vụ việc và theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm 1.048 vụ việc. Các Tòa án nhân dân địa phương đã thụ lý
154 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản; đã ra 135 quyết định mở thủ tục phá
sản, 5 quyết định không mở thủ tục phá sản và trả lại đơn yêu cầu đối
với 4 trường hợp; 10 trường hợp còn lại đang được xem xét, giải quyết
theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là
1,55% (do nguyên nhân chủ quan là 1,42% và do nguyên nhân khách quan là
0,13%), bị sửa là 2,64% (do nguyên nhân chủ quan là 1,91% và do nguyên
nhân khách quan là 0,73%). So với năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết
định bị hủy do nguyên nhân chủ quan tăng 0,14%, bị sửa do nguyên nhân
chủ quan giảm 0,39%.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP CỦA THỰC TIỄN THI HÀNH BLTTDS
Tổng hợp Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành BLTTDS
và các văn bản hướng dẫn BLTTDS của ngành Tòa án nhân dân và các cơ quan
hữu quan, có 117 điều luật trong tổng số 418 điều của BLTTDS có vướng
mắc, bất cập. Trong đó, có những vướng mắc, bất cập đặt ra yêu cầu phải
sửa đổi, bổ sung BLTTDS; cụ thể như sau:
1. Về Phần thứ nhất – Những quy định chung
1.1. Về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 7 BLTTDS)
Tại Điều 7 BLTTDS quy định về trách nhiệm cung cấp
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, theo đó: cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Tòa án chứng cứ trong vụ án mà cá
nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương
sự, Tòa án. Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo
bằng văn bản cho đương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do của việc không
cung cấp được chứng cứ. Như vậy, BLTTDS không quy định cá nhân, cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
trung thực, đầy đủ, chính xác của chứng cứ. Thực tiễn giải quyết vụ án
của Tòa án nhân dân cho thấy cùng một vấn đề nhưng nhiều trường hợp cơ
quan có thẩm quyền có những văn bản xác nhận trái ngược nhau, ảnh hưởng
đến việc giải quyết của Tòa án, do đó, đề nghị bổ sung nội dung: cá
nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đang lưu giữ chứng cứ mà không
cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp không đầy đủ hoặc từ chối cung cấp chứng
cứ mà không có lý do chính đáng thì tùy theo mức độ vi phạm mà có thể
bị áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Điều 389 BLTTDS[1] tại
Điều này và các điều luật có liên quan trong BLTTDS.
1.2. Về sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự (Điều 21 BLTTDS)
Điều 21 BLTTDS quy định: (1) Viện kiểm sát nhân dân
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các
quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. (2)
Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà đối với những vụ án do Tòa án
thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng
nghị bản án, quyết định của Tòa án.
Tuy nhiên, thực tế giải quyết các vụ việc dân sự tại
Tòa án cho thấy: Đối với việc dân sự đơn giản (khoản 2 Điều 313) thì
Viện kiểm sát lại tham gia, những vụ việc phức tạp như tranh chấp về đất
đai, thừa kế… là những việc phức tạp thì Viện kiểm sát lại không tham
gia, như vậy là bất hợp lý nhưng khi lấy ý kiến về vấn đề này còn nhiều
quan điểm khác nhau có quan điểm cho rằng cần sửa đổi theo hướng Viện
kiểm sát tham gia những vụ việc phức tạp, có quan điểm khác lại cho rằng
cần sửa đổi khoản 2 Điều 21 theo hướng Kiểm sát viên tham gia tất cả
các phiên tòa dân sự để đảm bảo tính khách quan trong quá trình xét xử,
giảm bớt thiếu sót, khuyết điểm do Tòa án trực tiếp thụ lý, điều tra,
xét xử như hiện nay, giống quy định như trước khi có BLTTDS và cũng có
quan điểm cho rằng không nên giao Viện kiểm sát tham gia xét xử vụ việc
dân sự hay có quan điểm cho rằng cần bỏ quy định Viện kiểm sát tham gia
phiên toà đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có
khiếu nại, chỉ quy định Viện kiểm sát tham gia những vụ việc dân sự mà
đối tượng tranh chấp là tài sản của nhà nước hoặc một bên đương sự là
người yếu thế như người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô
đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu
số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn… và
tham gia tất cả các vụ việc dân sự ở cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm.
Về Thẩm quyền của Toà án đối với quyết định của cơ quan, tổ chức khác.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây có quy định “Khi
xét xử vụ án dân sự, Toà án có quyền huỷ quyết định rõ ràng trái pháp
luật của cơ quan, tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp của đương sự
trong vụ án mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết”. Nhưng kể từ khi có
BLTTDS thì quy định này không còn, trong thực tế nhiều trường hợp Tòa án
kiến nghị các cơ quan chuyên môn đã không thực hiện hoặc thực hiện
không đ��ng quyết định Tòa án dẫn đến việc tuân thủ bản án quyết định của
Tòa án không nghiêm. Mặt khác, việc không quy định này dẫn đến các cơ
quan chuyên môn lại thêm một thủ tục nữa làm mất nhiều thời gian của
người dân, tốn tiền bạc cơ quan nhà nước. do vậy, có ý kiến cho rằng cần
quy định thêm điều luật này vào BLTTDS.
1.3. Về trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án (Điều 22 BLTTDS)
Điều 22 BLTTDS quy định trách nhiệm chuyển giao tài
liệu, giấy tờ của Tòa án. Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp
hoặc qua bưu điện bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các
giấy tờ khác của Tòa án liên quan đến người tham gia tố tụng dân sự.
Trong trường hợp Tòa án chuyển giao trực tiếp không được hoặc qua bưu
điện không có kết quả thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (Uỷ ban
nhân dân cấp xã) nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan,
tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc có trách nhiệm chuyển
giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác
của Tòa án liên quan đến người tham gia tố tụng dân sự khi có yêu cầu
của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án
biết.
Theo quy định nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp xã phải
thông báo kết quả chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy
mời và các giấy tờ khác của Tòa án liên quan đến người tham gia tố tụng
dân sự cho Tòa án biết. Nhưng qua phản ánh của nhiều Tòa án, trên thực
tế nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ
gây khó khăn cho hoạt động xét xử của Tòa án. Việc chuyển giao tài liệu,
giấy tờ của Tòa án trong tố tụng đặc biệt là tố tụng dân sự đóng vai
trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
cũng như góp phần đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án đúng thời hạn mà
pháp luật quy định. Vì vậy, có nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ thời hạn
Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo kết quả cho Tòa án biết kể từ
ngày hoàn thành việc chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập và
các giấy tờ khác của Tòa án liên quan đến người tham gia tố tụng dân sự
và quy định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao và Chính phủ
hướng dẫn thi hành nội dung này hoặc song song với việc xây dựng BLTTDS
sửa đổi thì Tòa án nhân dân tối cao phải phối hợp với các cơ quan ban
ngành xây dựng các văn bản hướng dẫn BLTTDS sửa đổi, đảm bảo việc thi
hành đúng các quy định của pháp luật.
1.4. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án (Điều 25 BLTTDS)
Điều 25 BLTTDS quy định theo hướng liệt kê các tranh
chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tuy nhiên thực
tiễn áp dụng các Tòa án cho rằng quy định tại khoản 3 Điều 25 BLTTDS quy
định “tranh chấp về hợp đồng dân sự” là chưa phù hợp, vì khái niệm “hợp đồng dân sự” chưa bao hàm hết được các tranh chấp trong dân sự mà phải dùng khái niệm “giao dịch dân sự” mới bao hàm hết được; do đó, đề nghị sửa “hợp đồng dân sự” thành “giao dịch dân sự”. Các Tòa án cũng cho rằng nếu sửa khoản 3 như nêu trên thì phải sửa khoản 4 thành “Tranh chấp về thừa kế tài sản theo pháp luật” mới thống nhất phù hợp với việc sửa khoản 3.
Ngoài ra, trong thực tế giải quyết tranh chấp về
quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 6 còn phát sinh nhiều trường
hợp các bên đương sự tranh chấp tài sản gắn liền với đất, do đó đề nghị bổ sung tranh chấp loại này vào khoản 6.
1.5. Về những tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (khoản 2 Điều 27 BLTTDS)
Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 BLTTDS thì chỉ
những tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân mới là những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp
sau khi ly hôn, các đương sự mới tranh chấp tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân. Vậy, Tòa án thụ lý vụ án dân sự hay vụ án hôn
nhân và gia đình. Do đó, nhiều Tòa án kiến nghị cần quy định rõ thêm
trường hợp tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
cũng thuộc những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án và cần bổ sung vào khoản 2 Điều 27 vấn đề này.
1.6. Về thẩm quyền của Tòa án (Chương III BLTTDS)
1.6.1. Về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại (Điều 29 BLTTDS).
- Về quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS:
Khoản 1 Điều 29 BLTTDS quy định: “Tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có
đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: a)
Mua bán hàng hoá; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Đại diện, đại
lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn, kỹ
thuật; i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ,
đường thuỷ nội địa; k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng
không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
khác; m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm dò, khai
thác”.
Nhưng tại điểm b tiểu mục 1.1 Mục I về thẩm quyền của
Tòa án trong Nghị quyết số 01/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao có hướng dẫn: “Tòa kinh tế có nhiệm vụ quyền hạn giải
quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại
Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại
mà một trong các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích
lợi nhuận”.
Như vậy, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31.3.2005
nêu trên hướng dẫn mở rộng hơn quy định của BLTTDS, ở chỗ: BLTTDS quy
định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại phải gồm 2 tiêu chí: (1)
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh; (2) đều có mục đích lợi nhuận. Nghị
quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31.3.2005 thì chỉ cần: “một trong hai bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận” đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân (TAND) cấp tỉnh (Tòa kinh tế).
Hướng dẫn này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong
quá trình áp dụng. Một số quan điểm cho rằng hướng dẫn này mâu thuẫn
với khoản 1 Điều 29 BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh
chấp và yêu cầu về kinh doanh thương mại của Tòa kinh tế Tòa án cấp
tỉnh. Vậy, Tòa án cấp huyện có được giải quyết: “các tranh chấp về kinh
doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh,
nhưng đều có mục đích lợi nhuận” không? Ý kiến này kiến nghị là cần
giao thẩm quyền này cho Tòa án cấp huyện. Một số ý kiến khác lại cho
rằng hướng dẫn tại Nghị quyết là phù hợp với chức năng của Tòa án cấp
tỉnh (Tòa Kinh tế), mặt khác cũng nhằm giảm bớt việc