Bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận của Hoa kỳ
Là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm chỉ dẫn địa lý mới chính thức lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs). Hiệp định TRIPs không áp đặt một hình thức bảo hộ chung nào cho các quốc gia thành viên mà để cho các quốc gia tự quyết định hình thức bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý1.
Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp lý quốc
tế theo Hiệp định TRIPs, Hoa Kỳ đã lựa chọn mô hình bảo hộ chỉ dẫn địa
lý thông qua hệ thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi
và bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này.
Các sản phẩm đặc sản của Việt Nam có nhiều đặc điểm
khá tương đồng với các sản phẩm của Hoa Kỳ: ngoại trừ một số sản phẩm
đặc thù như nước mắm, các chỉ dẫn địa lý còn lại của Việt Nam không quá
đặc biệt tới mức không thể tìm thấy ở khu vực địa lý khác. Trên thực tế,
các sản phẩm mang chỉ dẫn của Hoa Kỳ mặc dù không quá đặc thù nhưng lại
khá thành công trong thương mại. Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm bảo hộ
chỉ dẫn địa lý theo hệ thống bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu
chứng nhận sẽ rất hữu ích đối với Việt Nam.
1. Khái niệm nhãn hiệu chứng nhận theo pháp luật Hoa Kỳ
Hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của Hoa Kỳ có lịch sử
lâu đời với những quy định tương đối đầy đủ, đã được thực thi trong
thời gian dài, trong đó Lanham Act và Luật nhãn hiệu Trademark Act 1905
là các đạo luật có vai trò quan trọng nhất. Bên cạnh đó, quy định của
Văn phòng quốc gia Hoa Kỳ về rượu, thuốc lá và súng (BATF) có một số
điều khoản liên quan đến các chỉ dẫn địa lý cho rượu vang và rượu mạnh.
Theo đó, chỉ dẫn địa lý có thể được bảo hộ theo ba cách: bảo hộ dưới
dạng nhãn hiêu thông thường, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể,
trong đó nhãn hiệu chứng nhận là hình thức pháp lý được xem là phù hợp
nhất với chỉ dẫn địa lý2. “Nhãn hiệu chứng nhận là bất kỳ
chữ, tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp các yếu tố đó đã được
sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong hoạt động thương mại bởi một người
không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu, được chủ sở hữu đăng ký nhằm mục
đích cho phép người khác sử dụng và nộp đơn đăng ký bảo hộ nhằm chứng
nhận rằng hàng hoá và dịch vụ mang nhãn có nguồn gốc khu vực hoặc nguồn
gốc khác, có nguyên liệu, cách thức sản xuất, chất lượng, sự chính xác
hoặc đặc tính khác của hàng hóa hay dịch vụ của người nào đó hoặc chứng
nhận quy trình và cách thức sản xuất hàng hoá và dịch vụ được thực hiện
bởi các thành viên của hiệp hội hoặc tổ chức khác” (Lanham Act, chương
15, điều 1127).
Như vậy, về cơ bản, nhãn hiệu chứng nhận của Hoa
Kỳ tương đồng với cách hiểu nhãn hiệu chứng nhận của các nước. Chủ sở
hữu nhãn hiệu sẽ được độc quyền sử dụng nhãn hiệu nếu chủ sở hữu: (i)
thực hiện việc quản lý một cách hợp pháp việc sử dụng nhãn hiệu đó cho
hàng hoá; (ii) không được từ chối chứng nhận hàng hoá đáp ứng tiêu chuẩn
chứng nhận; (iii) không sử dụng nhãn hiệu cho hàng hoá để bảo đảm tính
trung lập; (iv) không được sử dụng nhãn hiệu với mục đích nào khác việc
chứng nhận nhằm bảo đảm không gây nhầm lẫn cho công chúng về chức năng
của nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng cho một hoặc
nhiều sản phẩm và một hoặc nhiều nhà sản xuất trong một khu vực cụ thể3. Ví dụ như cam Florida, khoai tây Idaho, hành Vidalia, rượu vang Napa Valley và táo bang Washington.
Có ba loại nhãn hiệu chứng nhận: (i) nhãn hiệu chứng
nhận hàng hoá hoặc dịch vụ có nguồn gốc xuất xứ từ một khu vực địa lý
nhất định; (ii) nhãn hiệu chứng nhận hàng hoá và dịch vụ đạt tiêu chuẩn
về chất lượng, nguyên liệu sản xuất hay cách thức sản xuất; (iii) nhãn
hiệu chứng nhận cách thức cung cấp dịch vụ hoặc quy trình sản xuất hàng
hoá đáp ứng theo tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, nhãn hiệu chứng nhận
hàng hoá, dịch vụ có nguồn gốc từ khu vực địa lý có nhiều đặc điểm tương
đối gần với chỉ dẫn địa lý. Vì vậy, các chỉ dẫn địa lý của các nước
thường đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận về nguồn gốc tại
thị trường Hoa Kỳ như Parmigiano Reggiano, Roquefort, Swiss, Darjeeling…4
Một yêu cầu chung đối với nhãn hiệu chứng nhận nguồn
gốc xuất xứ là khi đăng ký phải xác định rõ khu vực sản xuất. Ví dụ,
nhãn hiệu chứng nhận Parmigiano Reggiano để chỉ loại pho mát “có nguồn
gốc từ khu vực Parma Reggio của Italy, bao gồm các vùng Parma, Reggio
Emilia, Modena và Mantua bên phải dòng sông Po và Bologne, bên trái sông
Reno”5. Hay Swiss là nhãn hiệu chứng nhận sử dụng cho sô cô
la và các sản phẩm làm từ sô cô la được sản xuất tại Thuỵ Sĩ. Tuy nhiên,
bên cạnh việc chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, nhãn hiệu chứng nhận còn
xác nhận chất lượng hoặc đặc tính của sản phẩm. Ví dụ Roquefort là nhãn
hiệu chứng nhận cho các sản phẩm pho mát làm duy nhất từ sữa cừu và được
lên men tự nhiên trong các hầm của làng Roquefort, quận Aveyron, Pháp”6.
Các dấu hiệu đăng ký làm nhãn hiệu chứng nhận không
giới hạn chỉ ở các tên địa lý. Một tên không chính thức của địa danh,
tên viết tắt, thậm chí những dấu hiệu gián tiếp đều có thể được sử dụng
như hoặc trong một nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý. “Idaho”,
“Idaho Prefered Idaho”, “Idaho Potatoes Grown in Idaho”, “Grown in
Idaho” là những ví dụ về nhãn hiệu chứng nhận được đăng ký bảo hộ cho
táo và các sản phẩm từ táo được trồng ở vùng Idaho, Hoa Kỳ7.
Bên cạnh những nhãn hiệu chứng nhận chỉ ra nguồn gốc địa lý của táo, còn
có một số nhãn cũng có chứa tên địa lý như “Idaho’s Best” hay “Idaho
Naturally”, nhưng những nhãn hiệu này không chỉ ra nguồn gốc địa lý của
sản phẩm như các nhãn hiệu nói trên mà chỉ đơn thuần xác nhận loại táo
mang nhãn đó đáp ứng yêu cầu về đặc tính, chất lượng sản phẩm nhất định.
Các sản phẩm mang nhãn hiệu “Idaho’s Best” có thể trồng ở California
hay một nơi khác và chỉ được chế biến ở Idaho nhưng vẫn đáp ứng được một
số tiêu chuẩn về chất lượng hay đặc tính mà chủ nhãn hiệu đưa ra. Đây
chính là điểm đặc biệt của nhãn hiệu chứng nhận theo pháp luật Hoa Kỳ:
sản phẩm không nhất thiết phải sản xuất ở khu vực địa lý đó, sản phẩm
vẫn có thể mang nhãn hiệu chứng nhận nếu sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của
chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra và chỉ cần một công đoạn sản xuất được thực
hiện ở khu vực địa lý đó là đủ. Do đặc điểm của các chỉ dẫn địa lý ở
Hoa Kỳ không quá đặc thù và độc đáo tới mức không thể tìm thấy các sản
phẩm tương tự ở địa phương khác, nên Hoa Kỳ đã lựa chọn hình thức bảo hộ
nhãn hiệu chứng nhận nhằm bảo đảm việc kiểm soát chất lượng các sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý mà không cần có sự can thiệp sâu của Chính phủ.
Như vậy, với hệ thống pháp luật lâu đời và hoàn thiện
về nhãn hiệu, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống bảo hộ nhãn hiệu
giúp Hoa Kỳ giảm bớt việc thiết lập một hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý
mới, tồn tại song song với hệ thống nhãn hiệu. Điều này sẽ giúp giảm chi
phí và đơn giản hoá thủ tục bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
2. Một số nguyên tắc bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận
2.1. Khẳng định quyền tư hữu đối với chỉ dẫn địa lý nhưng dưới sự giám sát của tập thể và cộng đồng
Nếu như theo quy định của châu Âu hay Pháp, quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý không thể coi là quyền tư hữu8, thì pháp luật Hoa Kỳ lại khẳng định việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua pháp luật về nhãn hiệu như một quyền tư hữu9.
Tuy nhiên, quyền tư hữu đối với chỉ dẫn địa lý của Hoa Kỳ có điểm khác
biệt ở chỗ nó vẫn bảo đảm được tính tập thể trong việc sử dụng và đầu tư
vào việc thương mại hoá các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.
Thứ nhất, tính tập thể trong bảo hộ chỉ dẫn
địa lý thông qua nhãn hiệu ở Hoa Kỳ được hiểu là cơ chế cho phép nhà sản
xuất tham gia cùng nhau, với cùng mục đích bán được sản phẩm giá cao và
mang lại lợi ích kinh tế cho họ. Để đạt được mục tiêu tập thể đó, cần
có cơ chế kiểm soát sao cho bảo đảm chất lượng sản phẩm đồng nhất. Đây
cũng là quan điểm của các nhà sản xuất chỉ dẫn địa lý ở châu Âu. Tuy
nhiên, nếu như các nhà sản xuất châu Âu luôn có xu hướng hạn chế sự tham
gia của các thành viên, tạo thế độc quyền cho các sản phẩm mang chỉ dẫn
địa lý ở thị trường, thì đối với các nhà sản xuất ở Hoa Kỳ, quan điểm
này được tiếp cận theo cả hai hướng. Quản lý tập thể mang lại lợi ích
cho các nhà sản xuất và sản phẩm và ngược lại, việc kiểm soát chất lượng
các chỉ dẫn địa lý có thể làm nảy sinh yêu cầu quản lý tập thể vì việc
kiểm soát chất lượng sản phẩm sẽ làm gia tăng giá trị cho sản phẩm và
thu hút sự tham gia của các thành viên vào tổ chức để cùng khai thác lợi
thế thương mại của tập thể cũng như của sản phẩm. Điều này thể hiện rõ
ràng trong quy định về nhãn hiệu chứng nhận.
Chủ sở hữu nhãn hiệu được quyền tự xác định tiêu
chuẩn bảo hộ cho sản phẩm sao cho đáp ứng đồng thời hai mục tiêu: bảo
đảm chất lượng sản phẩm đúng tiêu chuẩn đến tay người tiêu dùng và bảo
đảm cho các nhà sản xuất trong khu vực có thể sử dụng chỉ dẫn địa lý
hiệu quả nhất. Chính vì mục tiêu đó mà việc xác định tiêu chuẩn cho sản
phẩm quá khắt khe hoặc không chính xác đều dẫn đến những hậu quả không
tốt cho chủ sở hữu.
Nếu tiêu chuẩn xác định quá khắt khe sẽ làm hạn chế
sự tham gia của các nhà sản xuất trong khu vực. Hơn nữa, việc quy định
quá chặt chẽ cũng có thể làm giảm khả năng sáng tạo của các nhà sản
xuất. Chỉ dẫn địa lý của Hoa Kỳ chủ yếu được bảo hộ thông qua cơ chế bảo
hộ nhãn hiệu chứng nhận nhằm mục đích khuyến khích sự tham gia vào tổ
chức tập thể các nhà sản xuất. Chính sự tham gia đông đảo của các nhà
sản xuất trong khu vực sẽ xuất hiện yêu cầu cần kiểm soát chất lượng sản
phẩm bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn nhãn hiệu chứng nhận và cũng đồng thời
tạo môi trường cạnh tranh giữa chính các doanh nghiệp nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm.
Trường hợp ngược lại, nếu tiêu chuẩn chứng nhận không
đúng với chất lượng của sản phẩm, người tiêu dùng sẽ mất niềm tin ở
chất lượng và danh tiếng sản phẩm, nhãn hiệu đó sẽ không mang lại lợi
ích thương mại, thậm chí không tồn tại lâu dài và sẽ không thu hút được
các nhà sản xuất sử dụng nhãn hiệu.
Điều này đặt ra cho chủ sở hữu trách nhiệm xác định
đúng, hợp lý chất lượng sản phẩm cũng như quy trình kiểm soát, chứng
nhận sản phẩm sao cho đáp ứng mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, việc đánh giá
các tiêu chí chất lượng dựa trên các bộ tiêu chuẩn đang được áp dụng
trên thế giới, thực hiện trên nguyên tắc quản lý từ bên ngoài và theo
cách thức công nhận cũng sẽ làm tăng hiệu quả kiểm soát chất lượng sản
phẩm.
Thứ hai, tính tập thể trong bảo hộ nhãn hiệu
chứng nhận của Hoa Kỳ còn nhằm mục đích khuyến khích mối liên hệ hợp
tác giữa chủ sở hữu nhãn hiệu và những người sản xuất địa phương. Sự hợp
tác này được thể hiện ở điểm khi nhãn hiệu chứng nhận có chứa chỉ dẫn
địa lý thì trong phần lớn các trường hợp, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc là
một cơ quan Chính phủ, hoặc một tổ chức được Chính phủ uỷ quyền hoặc cho
phép, thay mặt cho các nhà sản xuất trong khu vực đăng ký và phát triển
sản phẩm. Chủ sở hữu làm gia tăng giá trị của sản phẩm mang nhãn thông
qua việc chứng nhận một đặc tính riêng biệt của sản phẩm và kiểm soát
việc sử dụng nhãn hiệu đó trên hàng hoá để chứng nhận đặc tính. Tuy
nhiên, thành công chỉ có được khi các nhà sản xuất tham gia và sẵn sàng
sử dụng nhãn hiệu chứng nhận để làm gia tăng giá trị cho sản phẩm. Chính
giá trị gia tăng cho sản phẩm nhờ việc kiểm soát mang lại cho các sản
phẩm của địa phương, thúc đẩy tính tập thể các nhà sản xuất trong khu
vực đó.
Mặt khác, dù quyền đối với nhãn hiệu chứng nhận là
quyền tư hữu nhưng để bảo vệ các nhãn hiệu chứng nhận chỉ dẫn địa lý,
bất kỳ bên thứ ba liên quan nào đều có thể phản đối việc đăng ký hoặc
yêu cầu huỷ bỏ đăng ký theo các thủ tục như đối với nhãn hiệu thông
thường. Do đó, nếu cho rằng cơ quan chứng nhận không tuân thủ các tiêu
chuẩn đã đưa ra hoặc từ chối không có lý do chính đáng việc sử dụng nhãn
hiệu chứng nhận của một tổ chức, cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn, tổ chức,
cá nhân liên quan có thể nộp đơn phản đối hoặc yêu cầu huỷ nhãn hiệu
chứng nhận đó hoặc kiện lên Toà án liên bang.
2.2. Xây dựng quan điểm kiểm soát chất lượng hiện đại
Cách tiếp cận về khái niệm chất lượng của Hoa Kỳ theo
quan điểm hiện đại, dựa trên hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đang được
triển khai hiệu quả tại quốc gia này. Điều quan trọng nhất đối với mọi
tiêu chuẩn chất lượng là thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy,
quan điểm về chất lượng của Hoa Kỳ được tiếp cận trên hai góc độ, từ sản
phẩm và từ chính doanh nghiệp10.
Đứng dưới góc độ doanh nghiệp, “quản lý chất lượng”
hay “bảo đảm chất lượng” phải mang lại niềm tin cho người tiêu dùng. Với
mục đích này thì các doanh nghiệp thường áp dụng hai hệ thống quản lý
là ISO 9001 (phiên bản 2000) về hệ thống quản lý chất lượng doanh nghiệp
và ISO 14000 về hệ thống quản lý môi trường. Cả hai hệ thống quản lý
này đều hoạt động dựa trên nguyên tắc độc lập, quản lý từ bên ngoài và
theo cách thức công nhận (theo tiêu chuẩn 45011). Chủ sở hữu hệ thống
quản lý sẽ thực hiện việc kiểm tra sổ sách và chứng nhận sự phù hợp của
hệ thống quản lý với các tiêu chuẩn (9001 hoặc 14000) hoặc chứng nhận sự
phù hợp của doanh nghiệp với các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định (như
sinh thái, nông nghiệp…). Mục tiêu của chứng nhận doanh nghiệp là đem
lại sự tin cậy và cho người tiêu dùng.
Dưới góc độ sản phẩm, sự đa dạng của sản phẩm có thể
được thể hiện dưới nhiều hình thức như các tính chất sản phẩm (màu sắc,
mùi vị….), hay bao gói sản phẩm… Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nhằm
đáp ứng kỳ vọng của người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin về
sản phẩm, các đặc tính nổi trội hay các chỉ số mang tính xã hội (tuân
thủ các quy định về môi trường, chế độ nuôi dưỡng động vật…). Các tiêu
chí chất lượng này thường được chia thành hai nhóm:
- Tiêu chuẩn chất lượng chung: liên quan đến sức khoẻ hay dinh dưỡng, được áp dụng cho tất cả các sản phẩm và doanh nghiêp.
- Tiêu chuẩn đặc biệt: (bổ sung cho tiêu chuẩn chung,
không mang tính bắt buộc) được xác định thông qua các chỉ tiêu chất
lượng và thể hiện thông qua các công cụ như nhãn hiệu chứng nhận.
Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua nhãn hiệu chứng
nhận của Hoa Kỳ luôn dựa trên nền tảng tiêu chuẩn chất lượng chung và bổ
sung một số tiêu chuẩn đặc biệt. Các tiêu chuẩn đặc biệt của sản phẩm
có được nhờ nguồn gốc địa lý được mô tả dưới các chỉ tiêu định tính và
định lượng bên cạnh các bộ tiêu chuẩn chung sẵn có. Vì vậy, quá trình
đăng ký các sản phẩm dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận hoặc nhãn hiệu tập
thể được thực hiện đơn giản hơn rất nhiều so với các quy định của châu
Âu.
Hiện nay, ở Việt Nam, một trong những khó khăn của
các địa phương có các sản phẩm đặc sản là thiếu kinh nghiệm và kinh phí
cho việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Vì vậy, việc xây dựng các tiêu
chuẩn chất lượng sản phẩm đặc thù dựa trên các bộ tiêu chuẩn quốc tế
đang áp dụng trên thế giới cũng là một hướng mà chúng ta cần xem xét.
Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc thương mại hoá các sản phẩm của Việt
Nam ở thị trường nước ngoài, đồng thời giảm bớt thủ tục về mặt hành
chính đối với hoạt động xác lập quyền ở Việt Nam.
2.3. Chính sách quản lý phù hợp đối với các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
Việc quản lý hợp lý chỉ dẫn địa lý cần được xem xét.
Kiểm soát quá chặt hoặc đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn nghiêm ngặt có thể
làm hạn chế đổi mới, sáng tạo, không khuyến khích người khác tham gia
tập thể. Quản lý lỏng lẻo có thể dẫn đến uy tín và chất lượng của nhãn
hiệu bị ảnh hưởng.
Đối với một số quốc gia, các nhà sản xuất dựa vào sự
quản lý của Chính phủ trong việc thành lập tổ chức tập thể, xác định
tiêu chuẩn, chính sách sản xuất, kiểm tra, kiểm soát sản lượng và sau đó
kiểm soát thực thi bảo vệ chỉ dẫn địa lý khỏi việc sử dụng trái phép.
Điều này trong ngắn hạn có thể có tác dụng nhưng về lâu dài, việc kiểm
soát chỉ dẫn địa lý quá chặt chẽ bởi chủ sở hữu và cơ quan nhà nước có
thể dẫn đến việc làm giảm tính sáng tạo của các nhà sản xuất, họ không
có quyền đổi mới nhằm xây dựng bản sắc riêng cho sản phẩm của họ và tham
gia một cách hạn chế vào việc kiểm soát, ngăn ngừa việc sử dụng trái
phép bởi đối thủ cạnh tranh.
Việc kiểm soát chất lượng thông qua hệ thống nhãn
hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ tạo ra một cơ chế kiểm soát với sự đồng thuận
của chính các nhà sản xuất. Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận xây dựng
quy trình sản xuất hoặc tiêu chuẩn chất lượng với một cơ chế cấp phép
thích hợp để bảo đảm cho các nhà sản xuất có thể khai thác lợi thế
thương mại từ nhãn hiệu đó và đồng thời cũng mang lại lợi ích cho chính
chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận.
Nếu các nhà sản xuất không có lợi từ việc sử dụng
nhãn hiệu chứng nhận do nhãn hiệu đó không làm gia tăng giá trị hàng
hoá, họ sẽ không tham gia. Hơn nữa, khi cơ chế cấp nhãn hiệu chứng nhận
tạo sự phân biệt đối xử cho các nhà sản xuất, hoặc bằng cách đưa ra các
tiêu chuẩn quá khắt khe để nhiều nhà sản xuất không thể đáp ứng các tiêu
chuẩn chứng nhận, hoặc áp dụng các tiêu chuẩn một cách tuỳ tiện, không
nhất quán, nó cũng không khuyến khích nhà sản xuất sử dụng nhãn hiệu.
Nếu điều đó xảy ra, một bên liên quan thứ ba có thể kiện chủ sở hữu nhãn
hiệu về sự phân biệt đối xử và hậu quả là nhãn hiệu sẽ bị huỷ bỏ, gây
thiệt hại cho tất cả các bên.
Bên cạnh đó, nhãn hiệu chứng nhận còn được sử dụng để
ngăn chặn việc gây nhầm lẫn cho công chúng. Chức năng của nhãn hiệu
chứng nhận là chứng nhận nguồn gốc, các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ.
Vì vậy, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận phải có nhiệm vụ giám sát hoạt
động của những người sử dụng nhãn nhằm bảo đảm sự tuân thủ với các tiêu
chuẩn chứng nhận. Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận thường là hiệp hội hay
tổ chức phi lợi nhuận có nhiệm vụ thay mặt cho sản xuất trong khu vực
thúc đẩy phát triển sản phẩm. Thông thường, lệ phí cấp giấy chứng nhận
được sử dụng để trang trải các chi phí quản lý chương trình và thúc đẩy
việc sử dụng hệ thống chứng nhận. Ngay cả khi nhãn hiệu chứng nhận thuộc
sở hữu của một cơ quan Chính phủ, chẳng hạn một Bộ Nông nghiệp, thì các cơ quan này vẫn thường yêu cầu người sử dụng nhãn phải trả tiền lệ phí
cấp giấy chứng nhận (ví dụ: một khoản thuế dựa trên số lượng của hàng
hoá được chứng nhận) và ký thỏa thuận cấp phép sử dụng nhãn hiệu trên
hàng hoá, ngay cả khi pháp luật của các bang đã quy định tiêu chuẩn
chứng nhận.
Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận phải có trách nhiệm
tiến hành các biện pháp hợp lý kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu cho hàng
hoá nhằm mục đích ngăn chặn việc gây nhầm lẫn cho công chúng. Ví dụ:
chủ sở hữu nhãn hiệu phải tiến hành thanh tra, kiểm soát xem tất cả các
chai rượu có được chứng nhận có được làm đúng từ loại nho được trồng
trên loại đất đặc trưng của khu vực địa lý không hay yêu cầu kiểm tra
mẫu của tất cả các bao gạo xem có đặc tính đúng như tiêu chuẩn chứng
nhận không. Theo các toà án của Hoa Kỳ, biện pháp kiểm soát hợp lý mà
chủ sở hữu nhãn hiệu phải thực hiện để chứng nhận một số lượng lớn và
chủng loại đa dạng hàng hoá là chỉ cần lấy mẫu đại điện để kiểm tra. Quy
trình này được làm rất nghiêm túc. Chính vì vậy, mặc dù không phải bất
kỳ sản phẩm nào trước khi mang nhãn hiệu chứng nhận cũng được kiểm tra
nhưng việc lấy mẫu ngẫu nhiên để kiểm tra buộc các nhà sản xuất phải tự
mình thực hiện việc kiểm tra đó tại chính cơ sở sản xuất ngay từ ban
đầu.
Tóm lại, là một quốc gia không ủng hộ bảo hộ chỉ dẫn
địa lý ở mức độ cao như Liên minh châu Âu nhưng thực tiễn cho thấy các
chỉ dẫn địa lý của Hoa Kỳ được bảo hộ theo pháp luật nhãn hiệu nói chung
và dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận nói riêng tỏ ra khá hiệu quả.
Đến nay, Hoa Kỳ đã có 42 chỉ dẫn được bảo hộ cho các sản phẩm nông sản
dưới các hình thức nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể11.
Điều này có được là nhờ Hoa Kỳ đã xây dựng được quan điểm chất lượng và
kiểm soát chất lượng sản phẩm phù hợp. Hơn nữa, việc bảo hộ chỉ dẫn địa
lý dưới hình thức pháp lý này vừa phát huy tính tập thể trong việc sử
dụng chỉ dẫn địa lý, vừa bảo đảm khả năng thành công trong thương mại
cao cho các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 có một phần
riêng quy định về bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo cách tiếp cận của Pháp và
các nước thuộc liên minh châu Âu. Vì vậy, các sản phẩm đặc sắc của địa
phương thường chủ yếu được đăng ký bảo hộ dưới hình thức chỉ dẫn địa lý
mà chưa có quy định tương ứng đối với hình thức đăng ký nhãn hiệu chứng
nhận. Trên thực tế, ngoài việc công nhận một cái tên đã tồn tại từ lâu
cho những sản phẩm đặc sắc của Việt Nam, hoạt động bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý hầu như chưa đạt hiệu quả. Trong lần
sửa đổi thứ nhất năm 2009, Luật Sở hữu trí tuệ đã bổ sung quyền đăng ký
nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý (Điều 87 Khoản 4) cho các đặc sản
địa phương. Tuy nhiên, quy định này cũng mới chỉ mang tính nền tảng mà
chưa có hướng dẫn triển khai trên thực tế. Vì vậy, nghiên cứu kinh
nghiệm của Hoa Kỳ trong bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức nhãn hiệu
chứng nhận thực sự hữu ích đối với Việt Nam.
Chú thích:
(1) Bảo hộ chỉ dẫn địa lý thường được các quốc
gia thực hiện theo ba cách: xây dựng hệ thống riêng về bảo hộ chỉ dẫn
địa lý, bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua pháp luật nhãn hiệu hoặc thông
qua pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh.
(2)Coerper, M.G, The protection of geographical
indications in the United States of America, with particular reference
to certifications marks, xem tại http://www.iprsonline.org/ictsd/docs.
(3)Bruce A Babcock & Roxanne Clemens,
“Geographical Indications and Property Rights: Protecting Value-Added
Agriculture Products”, Matrict briefing paper, Iowa State University,
2004, pp 3.
(4) Grevers, F ; Topical issues of the protection of geographical indication, WIPO, 1999.
(5)Đăng ký nhãn hiệu Hoa Kỳ số 1754410, tra cứu tại Website của Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ: http://www.uspto.gov
(6) Đăng ký nhãn hiệu Hoa Kỳ số 571798, ngày
13/3/1953, tra cứu tại Website của Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ:
http://www.uspto.gov
(7) Bernard O’Conor, The Laws of Geographical Indications, Cameron and May, London, 2003.
(8)Quyết định của Toà phúc thẩm Angers ngày
5/9/1989 và Toà thượng thẩm ngày 17/12/1991 và 24/03/1992 liên quan đến
nhãn hiệu Chateau de la Roche aux Moines của Pháp, nguồn: Bernard
O’Conor, The Laws of Geographical Indications, Cameron and May, London,
2003.
(9) Rangnekar Dwijen, “Geographic Indications – A
Review of Proposals at the TRIPS Council: Extending Article 23 to
Products other than Wines and Spirits”, UNCTAD/ICTSD Capacity Building
Project on IPR and Subtainable Development, 2003, pp. 36.
(10)Amy Cotton and David Morfesi, Key Ingredients
for Geographical Indications: Collectivization and Control, Nguồn:
http://www.uspto.gov/web/offices/dcom/olia/globalip/gi_protection_wipo.htm.
(11) Thống kê và tra cứu tại Website của Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ: http://www.uspto.gov
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp
Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/bao-ho-chi-dan-111ia-ly-duoi-hinh-thuc-nhan-hieu-chung-nhan-cua-hoa-ky