Bất động sản mua trước hôn nhân là tài sản riêng của người đó ?
"Đối với quyền sử dụng đất thì chỉ khi vợ chồng bạn thỏa thuận (bằng văn bản) là tài sản chung thì nó mới trở thành tài sản chung; còn nếu không nó vẫn là tài sản riêng của chồng bạn", luật sư Vũ Tiến Vinh tư vấn cho Ngọc Mai.
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Tài
sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng
cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài
sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi
kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thỏa
thuận”.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì ngôi nhà hiện nay được
hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ
chồng. Về nguyên tắc là chia đôi, mỗi người một nửa.
Còn đối với quyền sử dụng đất thì chỉ khi vợ chồng bạn thỏa
thuận (bằng văn bản) là tài sản chung thì nó mới trở thành tài sản chung; còn
nếu không nó vẫn là tài sản riêng của chồng bạn.
Đối với số tiền bảo hiểm được bồi thường thì đây không phải là
tài sản chung của vợ chồng vì nó không hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Số
tiền bảo hiểm này chỉ có khi chồng bạn chết, đồng nghĩa với việc chấm dứt thời
kỳ hôn nhân. Nếu trong Hợp đồng bảo hiểm, chồng bạn là người được bảo hiểm đồng
thời là người thụ hưởng thì số tiền bảo hiểm được bồi thường được xác định là
di sản thừa kế của anh ấy.
Hơn nữa, Điều 578 Bộ luật Dân sự cũng quy định: “Trong trường
hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả
tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ;
nếu bên được bảo hiểm chết thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên
được bảo hiểm”
Về vấn đề hộ khẩu, việc đăng ký hộ khẩu không có ý nghĩa trong
việc xác định quyền sở hữu tài sản tại địa điểm đăng ký. Do vậy, việc 2 người
em của chồng bạn có tên trong hộ khẩu không phải là căn cứ xác lập quyền sở hữu
nhà hay quyền sử dụng đất của họ đối với diện tích nhà đất của vợ chồng bạn.
Như vậy, trong những tài sản mà bạn đề cập thì di sản thừa kế
của chồng bạn gồm: một phần hai giá trị quyền sử dụng đất (nếu vợ chồng bạn có
thỏa thuận là tài sản chung vợ chồng như chúng tôi đã giải thích ở phần trên)
hoặc toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất (nếu vợ chồng bạn không có thỏa thuận),
một phần hai giá trị ngôi nhà hiện nay và số tiền công ty bảo hiểm bồi thường
cho gia đình bạn.
Nay chồng bạn qua đời mà không để lại di chúc thì phần di sản
của anh ấy sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, cha đẻ, mẹ đẻ,
cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của anh ấy. Trong trường hợp bạn đã có thai
trước khi anh ấy qua đời thì khi cháu bé được sinh ra và còn sống, cháu bé cũng
được thừa kế như mọi người ở hàng thừa kế thứ nhất (Điều 635 Bộ luật Dân sự)
Luật sư Vũ Tiến Vinh - Công ty Luật Bảo An
Theo VnExpress
http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/Tu-van/2010/04/3BA19F19/