Bi kịch trong chuyển dịch đất đai
Công nghiệp hóa và đô thị hóa để phát triển kinh tế là cách thức để làm cho dân giầu, nước mạnh, tìm kiếm sự giầu có cho đất nước, cho dân tộc. Đương nhiên, đó là con đường chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, làm cho thu nhập từ mức thấp lên mức cao. Con đường đó là con đường dốc, muốn tốc độ phát triển càng nhanh thì đường càng dốc, đi càng khó khăn.
Con đường mang tên chuyển dịch cơ cấu kinh tế này
được xây dựng trên nền của chuyển đổi cơ chế từ kinh tế bao cấp chỉ huy
tập trung sang kinh tế thị trường, phương tiện đi trên đường đó là các
cỗ xe chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư
với năng lượng là tri thức và công nghệ. Việc chuyển dịch cơ cấu lao
động có phần việc của hiện tại và có phần việc của tương lai. Chuyển
dịch cơ cấu lao động hiện tại luôn gắn với chuyển dịch cơ cấu sử dụng
đất. Cụ thể là việc chuyển dịch một phần đất nông nghiệp sang sử dụng
vào mục đích phi nông nghiệp có thể kéo theo việc chuyển dịch một phần
lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp.
Thực tế chuyển dịch đất đai những năm qua
Trong giai đoạn 2000 – 2010, chuyển dịch đất đai ở Việt Nam diễn ra rất sôi động, có được và cũng có chưa được, cụ thể như sau:
1. Đất ở tăng ở mức trên 24.000 ha mỗi năm, trong
đó trung bình đất ở tại nông thôn tăng gần 18.000 ha mỗi năm, đất ở tại
đô thị tăng hơn 6.000 ha mỗi năm. Đất ở nông thôn tăng do đáp ứng nhu
cầu phát triển gia đình ở nông thôn, đất ở tại đô thị tăng chủ yếu do
giao đất cho cho các dự án xây dựng kinh doanh nhà ở và do chuyển các
khu dân cư nông thôn sang đô thị theo quy hoạch. Diện tích đất xây dựng
đô thị của cả nước tăng nhanh, năm 2010 tăng gấp gần 2 lần so với năm
2000. Năm 2000, chúng ta có 629 đô thị với diện tích 990.276 ha đất với
cư dân chiếm 24% dân số cả nước; năm 2010, số lượng đô thị tăng lên 752
với 1.372.038 ha đất và 30% dân số cả nước; quy hoạch đến năm 2020 sẽ có
1.000 đô thị với khoảng 2.000.000 ha đất và 50% dân số cả nước.
2. Đất làm cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp tăng lên khoảng 19.000 ha mỗi năm. Đất khu công nghiệp tăng 77
nghìn ha và đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh riêng lẻ cũng tăng tới
78 nghìn ha.
Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu
tư (năm 1991) cho tới cuối tháng 12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết
định thành lập 267 khu công nghiệp, chiếm 72 nghìn ha đất, trong đó 46
nghìn ha làm mặt bằng sản xuất đã lấp đầy được 46%. Hệ thống các cụm
công nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm khoảng
650 cụm đã có quyết định thành lập với 28 nghìn ha đất, tỷ lệ lấp đầy
đạt 44%. Theo quy hoạch đến năm 2020, cả nước sẽ có 558 khu công
nghiệp với diện tích 200 nghìn ha, tăng 128 nghìn ha so với năm
2010. Theo quy hoạch của các tỉnh, đến năm 2020 cả nước sẽ có 1.872 cụm
công nghiệp, sử dụng 76.520 ha đất.
Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp còn quá
thấp, trong khi diện tích mặt bằng sản xuất, kinh doanh ngoài khu công
nghiệp vẫn được giao đất, cho thuê đất với một diện tích tương đương như
tổng các khu công nghiệp. Đây là một khuynh hương không tốt đang diễn
ra trên thực tế.
Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt quy hoạch
phát triển các khu công nghệ cao, khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa
khẩu, khu kinh tế – quốc phòng và đã quyết định thành lập nhiều khu
công nghệ cao, khu kinh tế. Hiện nay, cả nước có 2 khu công nghệ cao là
Khu Công nghệ cao Hòa Lạc với tổng diện tích 1.586 ha và Khu Công nghệ
cao Tp. Hồ Chí Minh với tổng diện tích 913 ha; 23 khu kinh tế cửa khẩu
đã được thành lập, đang xây dựng, hoạt động, quy hoạch đến năm 2020 tăng
lên thành 30 khu kinh tế cửa khẩu trên phạm vi cả nước; 15 khu kinh tế
ven biển đã được thành lập. Tổng diện tích đất đai chiếm trên 2 triệu
ha. Theo dư luận hiện nay, mới chỉ có một vài khu kinh tế hoạt động có
hiệu quả, hầu hết đang chiếm giữ nhiều đất nhưng triển khai chậm, không
thu hút được đầu tư, chưa tạo được động lực phát triển.
3. Đất sử dụng vào mục đích công cộng để xây dựng
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tăng lên khoảng 41.000 ha mỗi năm,
trong đó đất giao thông tăng khoảng 16.000 ha mỗi năm. Sự thực, hạ tầng
kỹ thuật nước ta đã đóng góp nhiều vào tạo cơ hội phát triển nhưng đầu
tư còn thiếu trọng tâm. Tỉnh nào cũng muốn có sân bay, tỉnh ven biển nào
cũng muốn có vài cảng nước sâu.
Về tổng diện tích đất đã thu hồi, theo báo cáo của 49
đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong giai đoạn từ 2004 tới 2009, đã thu
hồi khoảng 750.000 ha để giao hoặc cho thuê cho khoảng 29.000 dự án đầu
tư, trong đó khoảng 600.000 ha là đất nông nghiệp, 300.000 ha là đất
chuyên lúa thuộc 2 vùng kinh tế trọng điểm gắn với Hà Nội và tp. Hồ Chí
Minh. Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn này Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
đã quyết định thu hồi trung bình mỗi năm khoảng 100.000 ha đất nông
nghiệp để sử dụng vào mục đích công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quá trình
phát triển các khu đô thị và các dự án bất động sản, các khu công
nghiệp, các khu kinh tế ở Việt Nam được khắc họa như dưới đây. Con số về
diện tích đất bị thu hồi ở đây có vẻ nhiều hơn con số chuyển dịch đất
đai ở trên ghi nhận theo kết quả kiểm kê đất đai.
Những bi kịch
Pháp luật hiện hành của ta có quy định cụ thể về các cách thức làm để chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất. Cách làm thứ nhất
là chuyển dịch tự nguyện, dựa trên thương thảo trực tiếp giữa nhà đầu
tư dự án phi nông nghiệp với những người đang sử dụng đất nông nghiệp để
có đất cho dự án đầu tư thông qua nhận chuyển nhượng hoặc thuê hoặc
nhận góp vốn trong mối quan hệ dân sự. Cách làm thứ hai
là chuyển dịch bắt buộc, dựa trên quyết định hành chính của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để lấy đất của những người đang sử dụng đất nông
nghiệp giao cho nhà đầu tư để thực hiện dự án đầu tư trong mối quan hệ
hành chính, người bị Nhà nước lấy đất được bồi thường về đất và tài sản
gắn liền, được hỗ trợ để ổn định cuộc sống và sinh kế, nếu bị thu hồi
nơi ở thì được giải quyết tái định cư. Cách làm này vẫn được gọi tên là
cơ chế Nhà nước thu hồi đất.
Mỗi cách làm hiện nay đều có bi kịch riêng.
Cách làm bắt buộc được thực hiện từ
xưa cho đến nay. Trước Luật Đất đai năm 2003, doanh nghiệp chưa được
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên nhà đầu tư chỉ còn một cách
nhờ đến cậy chính quyền địa phương thu hồi đất để giao cho mình. Mặc dù
Luật Đất đai 1987 hay 1993 đều quy định rằng Nhà nước thu hồi đất khi
rất cần thiết để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công
công, quốc phòng, an ninh, nhưng Nhà nước vẫn thu hồi đất để giao cho
nhà đầu tư để thực hiện các dự án chỉ vì lợi nhuận của nhà đầu tư. Lúc
đó được giải thích rằng khuyến khích đầu tư là lợi ích quốc gia.
Luật Đất đai 2003 đã đưa ra quy định thu hẹp cơ chế
chuyển dịch đất đai bắt buộc lại. Nhà nước chỉ thu hồi đất để giao cho
các dự án vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và
các dự án phát triển kinh tế trong một số trường hợp như các dự án có
xây dựng hạ tầng sử dụng chung, các dự án có vốn đầu tư lớn thuộc nhóm A
và các dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đây là những quy định làm
rõ thế nào mới thực là lợi ích quốc gia, thế nào là lợi ích của nhà đầu
tư, cần làm rõ cho dân hiểu.
Cơ chế Nhà nước thu hồi đất luôn chứa các bi kịch sau đây:
Bi kịch 1: Các địa phương hay thị
vào quyền lực hành chính, đưa quyết định thu hồi đất xuống dân như một
mệnh lệnh, người dân bàng hoàng nên không đồng thuận. Nhiều người bực
mình không bàn giao đất, thế là cưỡng chế xẩy ra. Có nơi không chỉ cưỡng
chế thi hành mà còn ghép cho tội chống người thi hành công vụ, thế là
vào khung hình sự. Đang là chuyện phát triển kinh tế cho dân giầu, nước
mạnh mà có người lại phải vào cảnh khốn cùng.
Bi kịch 2: Thu hồi đất thì phải bồi
thường cho người bị thu hồi. Giá đất để tính bồi thường thường thấp hơn
rất nhiều so với giá mà người bị thu hồi đất có thể chuyển nhượng được.
Mất tài sản, mất tiền nên sót của. Có người mất cả nhà cửa mà không tìm
được nơi ở mới. Sinh kế cũ không còn, nghề nghiệp cũ không còn, nơi ở cũ
không còn, cũng là bức bách.
Bi kịch 3: Người dân đang sống yên
lành mà bị đảo lộn, bồi thường không đáng so với tài sản bị mất đành đi
khiếu kiện. Việc khiếu kiện dân đâu có muốn nhưng oan khuất thì phải kêu
lên trên. Huyện im lặng, tỉnh im lặng thì phải lên Trung ương, Trung
ương lại trả về tỉnh, tỉnh lại trả về huyện. Vòng quay lên đến vài năm
vẫn chưa được quan tâm là bao nhiêu.
Bi kịch 4: Người dân cầm tiền bồi
thường một lần, dẫu ít cũng được món quá nhiều so với mức kiếm được
trước đó. Làm gì với số tiền này để khôi phục sinh kế, ổn định cửa nhà
cũng là một bài toán khó. Buông thả một chút thì có thể lấy tiền đó để
sống cho sung túc một thời gian, mua đồ đắt tiền, ăn nhậu, thậm chí cờ
bạc…. Thế là tiêu tan tất cả.
Cách làm tự nguyện mới được quy định
trong pháp luật từ Luật Đất đai năm 2003. Trước đó không được thực hiện
vì doanh nghiệp chưa được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp
pháp. Một số nhà đầu tư năng động đã thương thảo với người đang sử dụng
đất để nhận chuyển nhượng không hợp pháp. Người đang sử dụng đất nhận
được tiền nhiều hơn tiền được bồi thường nên rất vui. Nhà đầu tư đã có
đất, đến nói với chính quyền địa phương để xin được thuê đất, thủ tục
xong sớm nên cũng rất vui. Cả hai bên đều mong muốn chính thức hóa cơ
chế tự nguyện.
Luật Đất đai 2003 đã có quy định về cơ chế chuyển
dịch đất đai tự nguyện. Khi có cơ chế rồi thì người đang sử dụng đất lúc
này có cơ "lên mặt" để đòi giá cao hơn cả thị trường. Nghiệp đời vẫn
vậy. Bi kịch trong cơ chế này dành cho nhà đầu tư.
Bi kịch 5: Nhiều người đang sử dụng
đất trong cơ chế tự nguyện lại muốn lợi ích cho mình nhiều hơn, ép nhà
đầu tư phải tự nguyện với giá đất rất cao. Đa số các dự án loại này đều
gặp phải trường hợp đã thỏa thuận được khoảng 70 – 80% đất đai nhưng
phần còn lại không thể thỏa thuận nổi. Đi cũng dở vì tiền đã đọng ở phần
đất đai đã thỏa thuận rồi, ở cũng không xong vì không thể thỏa thuận
được phần đất đai còn lại.
Làm gì cho bi kịch hạ màn
Tất cả những bi kịch nêu trên đều có nguyên nhân từ
việc chuyển dịch đất đai mà chúng ta đều phải làm vì một ngày mai tốt
đẹp cho cả dân tộc. Cũng đã có khá nhiều người có ý kiến rằng hãy quay
về chỉ một cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc để tạo công bằng giữa
những người bị thu hồi đất. Không thể làm như vậy vì nhiều lý do có lý.
Thứ nhất, trước Luật Đất đai 2003, chúng ta đã chỉ áp dụng một cơ chế
Nhà nước thu hồi đất và những bất cập nẩy sinh đã buộc chúng ta phải đổi
mới theo hướng hạn chế phạm vi áp dụng của cơ chế này. Thứ hai, chúng
ta hãy nghĩ tới sự công bằng giữa mọi người, đừng chỉ nghĩ tới công bằng
giữa những người bị thu hồi đất và chúng ta hãy nghĩ xem mình sẽ làm gì
khi bị rơi vào hoàn cảnh bị thu hồi đất. Thứ ba, chúng ta không thể bỏ
đi 1 bi kịch mà nhà đầu tư gặp phải trong cơ chế tự nguyện để tiếp tục
chấp nhận 4 bị kịch mà người bị thu hồi đất gặp phải trong cơ chế Nhà
nước thu hồi đất, đó mới là bất công bằng giữa nhà đầu tư và người bị
thu hồi đất. Thứ tư, sự can thiệp hành chính của cơ chế Nhà nước thu hồi
đất luôn chứa đựng nguy cơ lãng phí và tham nhũng. Bốn lý do này cho
thấy lời giải cần đi theo hướng khác.
Bản chất của 5 bi kịch nêu trên đều có nguồn gốc từ
lợi ích của các dự án đầu tư. Lời giải phải bắt đầu từ việc xem xét chia
sẻ lợi ích này sao cho công bằng. Trước hết nhà đầu tư có lợi thì họ
mới đầu tư, vậy để tạo môi trường đầu tư thuận lợi thì phải xem xét toàn
diện các mặt của môi trường đầu tư, không chỉ đặt vào ưu đãi về đất
đai. Thứ hai, đất đai là một nguồn nội lực cho đầu tư, đừng để mất thế
mạnh về nguồn nội lực này. Thứ ba, bài toán đầu tư phải được xem xét sao
cho phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, không
nên ưu ái tất cả các dự án đầu tư, như thế sẽ làm tăng vốn đầu tư ở
những ngành kinh tế không cần ưu tiên phát triển. Thứ tư, mọi quan hệ
kinh tế giữa các bên tham gia vào quá trình chuyển dịch đất đai phải
được giải quyết trên cơ sở đồng thuận xã hội.
Bài toán chia sẻ lợi ích sẽ diễn ra tốt đẹp hơn nếu chúng ta cải thiện theo những giải pháp sau đây:
1. Các doanh nghiệp thực hiện cơ chế chuyển dịch đất
đai tự nguyện phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức
thuê dịch vụ định giá đất. Khi nhà đầu tư đã thương thảo được với những
người đang sử dụng đất để nhận được trên 80% diện tích đất cho dự án và
đạt được đồng thuận của trên 80% người đang sử dụng đất thuộc phạm vi dự
án mà không thể tiếp tục thương thảo thành công thì Nhà nước áp dụng cơ
chế thu hồi đất đối với phần đất còn lại.
2. Khi áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc,
cần bảo đảm các yêu cầu: (1) giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư phải do một Hội đồng định giá độc lập với bộ máy hành chính
quyết định trên cơ sở hồ sơ ��ịnh giá đất do một hoặc vài tổ chức cung
cấp dịch vụ định giá đất thực hiện; (2) toàn bộ quá trình thu hồi đất,
định giá đất đai và tài sản, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư phải được thực hiện công khai, minh bạch và có sự tham gia của
cộng đồng nơi có đất.
3. Ranh giới giữa hai cơ chế chuyển dịch đất đai tự
nguyện và bắt buộc cần được xác định lại theo nguyên tắc: (1) Nhà nước
chỉ thu hồi đất theo dự án đầu tư đối với các dự án thực sự vì lợi ích
quốc gia, lợi ích công công, quốc phòng, an ninh, không áp dụng đối với
các dự án vì lợi ích của nhà đầu tư; (2) Cơ chế Nhà nước thu hồi đất
được áp dụng đối với phần đất còn lại thương thảo không thành công khi
nhà đầu tư đã áp dụng cơ chế tự nguyện; (3) Nhà nước áp dụng chủ yếu cơ
chế thu hồi đất theo quy hoạch và tiến hành công khai giới thiệu địa
điểm đầu tư, đấu giá đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất. Có thể
thành lập các tổng công ty phát triển quỹ đất quốc gia hoặc theo vùng để
thực hiện cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch.
4. Để tạo bình đẳng trong áp dụng cơ chế chuyển dịch
đất đai tự nguyện, cần đìều chỉnh lại quy định về quyền của các nhà đầu
tư trong nước và nước ngoài sao cho công bằng. Nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài đều được thuê đất của Nhà nước trả tiền một lần hoặc trả tiền
hàng năm, có thời hạn, kể cả đối với đất ở. Tiền thuê trả theo loại đất
nhưng mọi loại dự án đầu tư chỉ được thực hiện có thời hạn. Nhà đầu tư
nước ngoài cũng được nhận quyền sử dụng đất từ hộ gia đình, cá nhân
thông qua chuyển nhượng, thuê hoặc nhận góp vốn trong phạm vi dự án. Nếu
đất nhận được thuộc loại đất mà hộ gia đình, cá nhân sử dụng không thời
hạn thì hết thời hạn thực hiện dự án, nhà đầu tư được nhận lại giá trị
đất đó thông qua chuyển nhượng cho người khác hoặc nhận bồi thường khi
Nhà nước thu hồi.
5. Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là một
nội dung quan trọng nhất khi thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất.
Không áp dụng cơ chế bồi thường bằng tiền một lần, bồi thường xong coi
như nhà đầu tư cũng như Nhà nước hết trách nhiệm với người bị thu hồi
đất. Phải đa dạng hóa cách thức thực hiện bồi thường, có thể bằng đất
cùng loại, bằng đất khác loại hoặc bằng tiền. Quá trình có thể diễn ra
dài ngày. Nhà đầu tư có trách nhiệm hỗ trợ cho cộng đồng từ lợi ích thu
được của dự án đầu tư trong cải thiện cuộc sống, nâng cấp hạ tầng, hưởng
sản phẩm của dự án với giá ưu đãi, v.v. Thu hồi đất để phát triển hoặc
chỉnh trang khu dân cư cần kết hợp với quy hoạch khu dân cư để bồi
thường bằng đất sau quy hoạch. Không được ưu tiên lợi ích của nhà đầu
tư, xem nhẹ lợi ích của người bị thu hồi đất.
6. Việc giải quyết các bức xúc, khiếu nại của người
bị thiệt hại do dự án gây ra phải được giải quyết đúng và nhanh. Nhà đầu
tư dự án cũng phải cung cấp chi phí để trợ giúp, hướng dẫn người bị
thiệt hại thực hiện quyền khiếu nại của mình sao cho phù hợp với quy
định của pháp luật. Việc trợ giúp ở mức dự án là một bộ lọc tốt để làm
giảm lượng bức xúc, khiếu kiện của người bị thiệt hại.
Hy vọng vào ngày mai
Những giải pháp trên đã được thực hiện ở nhiều nước,
được các tổ chức phát triển quốc tế nghiên cứu và kiến nghị áp dụng.
Thực hiện sáu giải pháp này sẽ mang lại sự bình yên hơn trên con đường
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đầy sôi động và phức tạp. Các bi kịch sẽ được
hạ màn. Cái đích chúng ta cần đi đến là một xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất cũng cần bảo đảm các tiêu chí của
dân chủ, công bằng, văn minh.
SOURCE: BÁO TUẦN VIỆT NAM ĐIỆN TỬ - ĐẶNG HÙNG VÕ
Trích dẫn từ: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-09-28-bi-kich-trong-chuyen-dich-dat-dai
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)