Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong bộ luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.
Chế định về các biện pháp khẩn cấp
tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt
Nam (BLTTDS), bao gồm 28 điều luật (từ Điều 99 tới Điều 126) là cơ sở
pháp lý quan trọng cho Toà án trong việc quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời để đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng
cứ, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.
Để hướng dẫn thực hiện các quy định của BLTTDS về các
biện pháp khẩn cấp tạm thời, ngày 27-4-2005 Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi
hành một số quy định tại Chương VIII của BLTTDS về vấn đề này. Tuy
nhiên, việc vận dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền
cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn bổ sung.
1. Về tính khẩn cấp của các biện pháp cần áp dụng
Điểm đột phá và tiến bộ của BLTTDS hiện nay là đã mở
rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là theo
khoản 2 Điều 99 BLTTDS thì “Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần
phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy
ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm
quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại
Điều 102 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án
đó”.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS
thì “ Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy
định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này thì sau khi nhận được đơn yêu
cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Toà án chỉ
định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48
giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu
cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người
yêu cầu biết ”.
Việc áp dụng khoản 3 Điều 117 BLTTDS trong thực
tiễn cũng đặt ra những vấn đề đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải
tiếp tục có sự nghiên cứu, hướng dẫn. Cụ thể là thời hạn 48 giờ để Thẩm
phán xem xét quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay
không trong nhiều trường hợp có lẽ là quá dài. Đặc biệt là đối với các
yêu cầu về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp như kê biên tài sản đang
tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong toả
tài khoản. Sự chậm trễ trong việc ra quyết định áp dụng các biện pháp
này dù chỉ là một khoảng thời gian hết sức ngắn cũng đủ để người bị yêu
cầu áp dụng các biện pháp này tẩu tán tài sản, thay đổi hiện trạng tài
sản hoặc rút tiền từ tài khoản nhằm trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ (1).
Trong khi đó, Điều 101 BLTTDS cũng không quy định về trách nhiệm của
người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này đối với những thiệt hại mà
nguyên đơn phải gánh chịu do việc áp dụng chậm trễ các biện pháp khẩn
cấp tạm thời. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần có những hướng dẫn
cụ thể theo hướng trong những trường hợp thực sự khẩn cấp Thẩm phán có
thể ngay lập tức quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nói
trên.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 99 và khoản 3 Điều 117 BLTTDS
hiện nay không quy định rõ ràng là trong trường hợp thực sự khẩn cấp Toà
án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào các ngày lễ hoặc
ngày nghỉ hay không. Tuy nhiên, các quy định tại khoản 2 Điều 120 BLTTDS
cho thấy trường hợp Toà án buộc bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời thực hiện biện pháp bảo đảm thì “Khoản tiền, kim khí quý, đá
quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong toả tại ngân
hàng nơi có trụ sở của Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong thời hạn do Toà án ấn định.Trong trường hợp thực hiện biện
pháp bảo đảm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi
giữ tại Toà án. Toà án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền
đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp theo”.
Các quy định tại khoản 2 Điều 99, khoản 3 Điều 117 và
khoản 2 Điều 120 BLTTDS có thể dẫn tới hai cách hiểu và vận dụng khác
nhau. Theo cách hiểu thứ nhất thì ngay cả trường hợp thực sự khẩn cấp
đương sự cũng không có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời nếu biện pháp phải thực hiện vào các ngày nghỉ, ngày lễ.
Theo cách hiểu thứ hai thì các biện pháp bảo đảm có thể thực hiện vào
ngày lễ hoặc ngày nghỉ cho nên đương nhiên có thể suy luận rằng trong
trường hợp thực sự khẩn cấp đương sự có thể yêu cầu Toà án áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời mặc dù biện pháp phải thực hiện vào các ngày
nghỉ, ngày lễ. Hiện nay, hướng dẫn tại Mục 6 Nghị quyết số
02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao thì trong trường hợp khẩn cấp việc nhận đơn yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời có thể được thực hiện ngoài giờ làm việc( kể cả
trong ngày nghỉ).
Có thể nhận xét rằng, các quy định nói trên về thủ
tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời thể hiện một sự chuyển biến
lớn trong nhận thức về việc xây dựng một nền tố tụng dân chủ mà ở đó
quyền lợi hợp pháp của người dân phải được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên,
từ các quy định này, có thể hiểu trong trường hợp thực sự khẩn cấp,
đương sự có thể nộp đơn yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày (kể cả sau 22 giờ đêm) hay
không ? Đơn yêu cầu sẽ được nộp cho Chánh án Toà án, Thẩm phán hay thư
ký Toà án và có thể nộp tại nhà riêng của những người tiến hành tố tụng
nói trên hay không ? Chúng tôi cho rằng để bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp
pháp của đương sự các cơ quan có thẩm quyền có thể hướng dẫn áp dụng
các quy định của BLTTDS theo hướng trong trường hợp cấp bách thì ngoài
giờ làmviệc, kể cả ngày lễ, ngày nghỉ đương sự có thể yêu cầu Toà án áp
dụng ngay các biện pháp khẩn cấp. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này
không thể không tính đến tính thực tế của nó vì đôi khi phải thay đổi cả
một lề lối làm việc. Do vậy, nếu hướng dẫn bổ sung theo định hướng này
thì trong thực tiễn chúng ta phải xây dựng được một cơ chế đảm bảo. Có
nghĩa là phải có những Thẩm phán trực vào các ngày nghỉ, ngày lễ và
ngoài giờ làm việc (2).
Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của một số
nước trên thế giới cho thấy rằng thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời còn có thể được áp dụng trước khi khởi kiện vụ án. Theo các nhà
lý thuyết về pháp luật tố tụng dân sự của một số nước theo hệ thống
Châu Âu lục địa thì cần phải trao cho Toà án thẩm quyền ban hành lệnh áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách “kịp thời và có hiệu
quả”. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các quy định cụ thể về thủ
tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo đó, thủ tục về các
biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng một cách độc lập trước khi
khởi kiện mà không phụ thuộc vào vụ kiện chính(3).
Hiện nay các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy
định trong BLTTDS là những biện pháp nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi
hành án. Chúng tôi cho rằng để đáp ứng được những đòi hỏi của thực
tiễn, về lâu dài trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam
có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường
hợp khẩn cấp có thể quyết định áp dụng ngay lập tức các biện pháp khẩn
cấp nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự trước khi khởi kiện vụ
án. Sau khi áp dụng biện pháp khẩn cấp, theo yêu cầu của đương sự, nếu
xét thấy vụ việc cần được xét xử ngay Thẩm phán có thể quyết định đưa vụ
việc ra xét xử để xem xét về nội dung tranh chấp trong một thời hạn
ngắn. Tuy nhiên, việc xây dựng các quy định theo hướng này cũng đòi hỏi
phải có một sự nghiên cứu kỹ lưỡng, công phu.
2. Về việc nộp các khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng
Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có
quyền yêu cầu, các nhà lập pháp đã xây dựng trong BLTTDS những quy định
về biện pháp bảo đảm buộc người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ
trị giá bằng tiền vào một tài khoản phong toả tại Ngân hàng. Đây là một
điểm tiến bộ của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước đó. Theo
khoản 1 Điều 120 BLTTDS thì “ Ngưòi yêu cầu Toà án áp dụng một trong các
biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11
Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý
hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản
mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu”.
Thực tiễn vận dụng các quy định nêu trên của BLTTDS đã đặt ra những vấn
đề sau đây:
Theo tinh thần của Điều luật này thì mặc dù trong
“…tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả
nghiêm trọng có thể xảy ra…” theo khoản 2 Điều 99 BLTTDS mà người yêu
cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa thực hiện biện pháp
bảo đảm thì Toà án vẫn không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời. Hiện nay, theo hướng dẫn tại mục 5.3 Nghị quyết số
02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao thì Thẩm phán chỉ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời sau khi người yêu cầu xuất trình chứng cứ đã thực hiện biện pháp
bảo đảm. Như vậy, việc vận dụng các quy định về buộc thực hiện biện pháp
bảo đảm này trong thực tiễn trong nhiều trường hợp không bảo đảm được
quyền lợi chính đáng của nguyên đơn. Mặt khác, bị đơn có thể lợi dụng
các quy định của pháp luật để tẩu tán tài sản, đặc biệt là đối với các
vụ án mà nguyên đơn là người nghèo không có tiền, kim khí quý, đá quý
hoặc giấy tờ có giá để gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng nơi có
trụ sở của Toà án.
Trong quá trình xây dựng các quy định về buộc thực
hiện biện pháp bảo đảm cũng đã có ý kiến cho rằng cần phải nghiên cứu
thêm về vấn đề này để các quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
không hạn chế người nghèo yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời khi khởi kiện(4). Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần
sớm có những nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể để các quy định về buộc thực
hiện biện pháp bảo đảm khi vận dụng trong thực tiễn có thể đảm bảo được
sự công bằng và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
3. Về giá trị của các
khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá mà người yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp
Theo khoản 1 Điều 120 BLTTDS thì ngưòi yêu cầu Toà án
áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, cấm
chuyển dịch, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả
tài khoản, tài sản của người có nghĩa vụ sẽ phải gửi một khoản tiền, kim
khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá “do Toà án ấn định tương đương với
nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện” để bảo vệ lợi ích
của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm
dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có
quyền yêu cầu. Vậy cần phải hiểu khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá “do Toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà
người có nghĩa vụ phải thực hiện” là như thế nào?
Xét về logic ngôn ngữ tại khoản 1 Điều 120 thì “nghĩa
vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện” phải được hiểu là nghĩa
vụ tài sản của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời(5).
Và nếu theo logic này thì phải chăng khoản tiền, kim khí quý, đá quý
hoặc giấy tờ có giá mà nguyên đơn phải nộp khi yêu cầu Toà án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có giá trị ngang bằng với nghĩa vụ tài
sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện? Nếu
hiểu và vận dụng khoản 1 Điều 120 BLTTDS theo hướng này thì có lẽ sẽ hết
sức khó khăn cho nguyên đơn khi yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời và dường như điều kiện này đã hạn chế quyền yêu cầu Toà án
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của nguyên đơn. Đó là chưa tính đến
trường hợp nguyên đơn là những người nghèo như đã phân tích ở trên.
Chẳng hạn, theo logic của điều luật này có thể dẫn tới cách hiểu là nếu
nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn thanh toán số tiền là 500 triệu và có
yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp phong toả tài khoản, tài sản của bị
đơn thì nguyên đơn sẽ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá tương đương 500 triệu vào tài khoản phong toả tại ngân
hàng nơi có trụ sở của Toà án. Trường hợp nguyên đơn có tranh chấp với
bị đơn về một tài sản có giá trị 500 triệu nếu nguyên đơn yêu cầu Toà án
áp dụng biện pháp kê biên, cấm chuyển dịch, cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp đó thì nguyên đơn cũng phải gửi một khoản tiền, kim
khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương 500 triệu vào tài khoản
phong toả tại ngân hàng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện
pháp này.
Hiện nay, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao thì “Nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại
thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba
do việc yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng. Mặt khác, theo Nghị quyết này
thì “ Người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng
BPKKTT không đúng. Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT là
người đại diện theo uỷ quyền của đương sự thì người có nghĩa vụ phải
thực hiện là đương sự… Cách giải thích này là phù hợp với bản chất của
biện pháp bảo đảm theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế
giới và phù hợp với thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, xét về logic ngôn ngữ
thì dường như cách giải thích này không đúng với tinh thần của Điều 120
BLTTDS.
Chúng tôi cho rằng việc buộc người yêu cầu Toà án áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm là
nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và
ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
từ phía người có quyền yêu cầu. Trong trường hợp nguyên đơn yêu cầu Toà
án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, cấm chuyển dịch,
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài khoản,
tài sản của người có nghĩa vụ không đúng thì thiệt hại xảy ra cũng không
thể tính ngang bằng với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực
hiện. Trong các ví dụ nêu trên nếu nguyên đơn yêu cầu Toà án tiến hành
các biện pháp phong toả tài khoản, tài sản của bị đơn trong vụ kiện đòi
nợ mà không đúng thì thiệt hại có thể xảy ra chỉ là các thiệt hại phát
sinh từ việc tài sản đó không thể tham gia lưu thông do bị phong toả.
Còn trong trường hợp Toà án áp dụng các biện pháp kê biên, cấm chuyển
dịch tài sản đang tranh chấp thì thiệt hại có thể xảy ra đối với người
bị áp dụng các biện pháp này có thể là các thiệt hại phát sinh từ việc
tài sản tranh chấp không thể tham gia lưu thông hoặc không thể sử dụng
do bị kê biên, cấm chuyển dịch như thiệt hại về trượt giá, do không khai
thác được công dụng của tài sản .v.v.
Do vậy, theo chúng tôi sẽ là hợp lý hơn nếu quan niệm
rằng tuỳ trường hợp mà Toà án có thể ấn định một khoản tiền, kim khí
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương ứng (chứ không phải là
tương đương hoặc ngang bằng) với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ
phải thực hiện để buộc ngưòi yêu cầu Toà án áp dụng một trong các biện
pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi vào một tài khoản phong toả tại ngân
hàng. Nghiên cứu các quy định về việc tạm thi hành từ Điều 514 đến Điều
526 của BLTTDS Pháp năm 1807, đặc biệt là Điều 517 thì các quy định này
cũng chỉ thể hiện rằng “Việc tạm thi hành có thể phụ thuộc vào chế định
bảo lãnh hoặc đảm bảo bằng tài sản, đủ để đáp ứng các yêu cầu về hoàn
trả hoặc bồi thường thiệt hại” chứ không quy định tài sản bảo đảm phải
có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ tài sản
phải thực hiện.
Hiện nay, các hướng dẫn tại Mục 8 Nghị quyết số
02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao là một giải pháp để khắc phục những khó khăn trong việc áp dụng
các quy định tại khoản 1 Điều 120 BLTTDS. Tuy nhiên, theo chúng tôi, vấn
đề sẽ trở nên đơn giản nếu về lâu dài chúng ta sửa đổi quy định tại
khoản 1 Điều 120 BLTTDS như sau : “ Ngưòi yêu cầu Toà án áp dụng một
trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10
và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá
quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định tương ứng với thiệt hại có thể xảy ra do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu ”
Trên đây là một số ý kiến rút ra từ việc nghiên cứu
các quy định của BLTTDS về các biện pháp khẩn cấp tạm thời và những vấn
đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng . Rất mong các cơ quan chức năng lưu
tâm tham khảo trong việc hướng dẫn hoàn thiện các quy định của pháp luật
về vấn đề này.
Chú thích:
(1), (2) Xem Trần Anh Tuấn – Chế định biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, Tạp chí Luật học –
ĐH Luật Hà nội, 4/2004, tr. 89
(3) Xem Jean Vincent et Serge Guinchard, Procộdure civile, Nxb DALLOZ, 2001 ,tr. 612,622;
(4) Xem Luật sư Lê Kim Quế – Một số vấn đề cần nghiên
cứu thêm về Dự thảo Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tạp chí TAND tháng 4
/2004(số 7), tr. 24
(5) Xem Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà nội, Nxb Tư pháp, năm 2005, tr. 187
SOURCE : TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT, số 12(165) năm 2005 - THS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội