Bình luận bài "Tranh chấp Biển Đông Nam á...."
Vấn đề Biển Đông đang ngày càng trở thành mối quan tâm an ninh chiến lược tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Biển Đông có vị trí trọng yếu trong giao thương hàng hải và có tầm chiến lược quân sự không những của riêng khu vực Đông Nam Á mà còn của Châu Á – Thái Bình Dương.
Nước nào làm chủ được Biển Đông thì sẽ chi
phối được Đông Nam Á và nắm giữ vai trò quan trọng ở Châu Á – Thái Bình
Dương. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc nâng tầm quan trọng
của Biển Đông thành an ninh quốc gia và quả quyết là “quyền lợi cốt
lõi”, tương đương như những vấn đề Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương. Với
lý do đó, một khi quyền lợi này bị đe dọa hay bị can thiệp thì Trung
Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để cưỡng đoạt. Chính những tuyên bố
và hành động cứng rắn trong thời gian gần đây của Trung Quốc đã gây quan
ngại, không chỉ với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và những
nước có quyền lợi hàng hải liên quan, mà với cả toàn thế giới, khi mà
những hành động này ảnh hưởng đến an ninh khu vực. Bài viết này sẽ thảo
luận về các giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông đã được đề xuất
trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt. Chúng tôi sẽ bàn
sâu hơn đến các vấn đề quan trọng như các nguyên tắc cho việc tìm các
giải pháp, đặc tính của các giải pháp, sự phức tạp của vấn đề tranh
chấp, đề xướng các giải pháp, …Bài viết sẽ xem xét những yếu tố trên dựa
theo chứng cứ lịch sử và công pháp quốc tế. Cuối cùng sẽ tóm lược lại
những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ
Vũ Quang Việt, đồng thời đề xuất những giải pháp bổ sung cho vấn đề
tranh chấp.
1. Sơ lược bài viết của TS Vũ Quang Việt
Công trình nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt (“Tranh chấp Biển Đông Nam Á: đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế” Thời Đại Mới
số 19, 7/2010) cho thấy đó là một công trình công phu, tác giả rất tâm
huyết với vấn đề mang tính sống còn cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
Bài viết đã thể hiện sự công tâm và tinh thần công bằng đáng trân
trọng, đồng thời thể hiện tinh thần cầu thị cao. Những đức tính đó rất
đáng quý trong việc nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông. Song, có đôi
điều chúng tôi muốn bàn luận thêm về nội dung cũng như một số khía cạnh
của bài viết.
Phạm trù của bài viết
Phần lớn Phần II, “Xem xét lại những yêu sách dựa
trên ‘chủ quyền lịch sử’ ”, và Phần III, “Bối cảnh: Đi tìm giải pháp hòa
bình và công lý” là về đảo, không phải về biển. Tất cả các tiêu đề
trong hai phần này là về đảo.
Trên thực tế, tranh chấp đảo chỉ là một cái cớ
cho vùng biển lưỡi bò, vì tranh chấp đảo không thể nào gây ra một vùng
tranh chấp rộng lớn như thế. Thậm chí, có thể nói rằng Trung Quốc dùng
tranh chấp đảo để nguỵ trang và đánh lạc hướng các bên trong cuộc tranh
chấp về đường lưỡi bò hoàn toàn vô lý của họ.
Chúng tôi cho rằng bài “Tranh chấp Biển Đông Nam Á:
đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật
pháp quốc tế” tập trung nhiều vào tranh chấp đảo, và như thế là không
phản ảnh chính xác thực tế nói trên. Có lẽ đây là một bài viết về tranh
chấp Hoàng Sa, Trường Sa hơn là về tranh chấp biển.
Bài viết nhấn mạnh từ “lịch sử”, ví dụ như trọng các
cụm từ “chứng cứ lịch sử”, “chủ quyền lịch sử”, nhưng chỉ dùng những từ
này để nói về thời đại phong kiến. Theo ý kiến của chúng tôi, dùng từ
như thế là không chính xác, vì “lịch sử” phải bao gồm tất cả những gì
trong quá khứ, ví dụ như thời đại phong kiến và hậu phong kiến. Phân
loại chứng cớ thành “lịch sử” hay “không phải lịch sử” (tức là phong
kiến hay không phải phong kiến) cũng không sát với pháp lý quốc tế vì
các phiên toà quốc tế không dùng cách phân loại đó.
Phạm trù của bình luận: tranh chấp Trường Sa
Trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, thực tế tồn tại ba loại tranh chấp khác nhau:
1. Tranh chấp các đảo Hoàng Sa.
2. Tranh chấp các đảo Trường Sa.
3. Tranh chấp biển và thềm lục địa.
Trong bài này, chúng tôi sẽ chỉ bình luận về những gì
TS Vũ Quang Việt viết liên quan đến tranh chấp các đảo Trường Sa. Với
phạm trù này, có thể tóm tắt lập luận của tác giả như sau:
1. Không có chứng cớ chứng tỏ rằng
các triều đại phong kiến Trung Quốc đã từng tuyên bố hay thực thi chủ
quyền trên quần đảo Trường Sa.
2. Năm 1951 là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.
3. Gần như không có chứng cớ chứng tỏ rằng các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.
4. Năm 1933 Pháp tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa, nhưng có một số vấn đề phức tạp về tuyên bố chủ quyền của Pháp.
5. (Tác giả cho rằng) các đảo Trường Sa chưa
chắc có nhiều quyền lợi từ biển, và nếu có thì cũng không thể thực hiện
được trước khi giải quyết tranh chấp.
6. Về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa, tác
giả đề nghị nguyên tắc “Sẽ là một giải pháp công bằng và hợp lý cho tất
cả các bên liên quan nếu bỏ sang một bên thế kỉ của chủ nghĩa đế quốc
và chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á (ĐNA)”.
7. Tác giả đưa ra một giải pháp gồm ba bước, bước thứ ba có hai sự lựa chọn về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa:
i. Các đảo này là tài sản chung của các nước trong tranh chấp, hay
ii. Nước nào đang chiếm đảo nào thì chủ quyền của đảo đó thuộc về nước đó.
Trong các luận điểm trên, bài viết đã áp dụng nguyên
tắc “chứng cớ cho chủ quyền là sự tuyên bố và thực thi chủ quyền ở cấp
nhà nước” cho thời kỳ phong kiến. Đó là nguyên tắc đúng. Trong thời kỳ
hậu phong kiến, nguyên tắc đó, tuy vẫn đúng, nhưng không đủ bao quát để
đánh giá các sự kiện, và bài viết cũng không đánh giá các sự kiện đó một
cách chính đáng.
Để minh hoạ, có thể ví bài viết như một quyển sách đi
từ chương đầu tiên (áp dụng nguyên tắc pháp lý cho thời đại phong kiến)
thẳng đến chương cuối cùng (đưa ra giải pháp) mà thiếu chương giữa (áp
dụng nguyên tắc pháp lý cho thời đại hậu phong kiến). Có thể nói rằng,
không chỉ thiếu chương giữa mà trong luận điểm thứ 6 tác giả đã đề nghị
bỏ qua các sự kiện của chương giữa.
Về luận điểm thứ 4, chúng tôi sẽ phân tích chi
tiết về những vấn đề phức tạp tác giả nêu ra trong một phần sau. Qua
phân tích, chúng tôi cảm thấy rằng tác giả đã chưa có nhận định chính
xác hay chưa lý luận chặt chẽ về một số vấn đề phức tạp đó.
Về luận điểm thứ 5, chúng tôi cho rằng chúng
ta cần phải biết các đảo Trường Sa có là của Việt Nam hay không, bất kể
các đảo này có thể có nhiều hay có ít quyền lợi, và bất kể chúng ta có
thể thực hiện được quyền lợi đó hay không.
Về luận điểm thứ 6, nguyên tắc tác giả đưa ra
không phù hợp với luật quốc tế hay tập quán quốc tế. Không những thế mà
nguyên tắc này rất có lợi cho Trung Quốc và phương hại đến Việt Nam. Nếu
chúng ta phủ định tuyên bố 1933 và các hành đông liên quan của Pháp thì
trọng lượng tương đối của tuyên bố chủ quyền 1951 của Trung Quốc sẽ
tăng lên rất nhiều. Đó là lý do tại sao các học giả Trung Quốc cố gắng
bằng mọi cách để phủ định tuyên bố 1933 và các hành đông liên quan của
Pháp, cũng như các hành động thực dân, đế quốc, trong khi luật quốc tế
và tập quán quốc tế công nhận những tuyên bố và hành động như thế.
Theo ý kiến của chúng tôi, chúng ta phải áp dụng pháp
lý quốc tế, phải lý luận chặt chẽ và phải tôn trọng tất cả các chứng cớ
trong lịch sử Trường Sa (bao gồm cả thời đại phong kiến và hậu phong
kiến) trước khi có thể đi đến chương cuối về một giải pháp công bằng dựa
trên chứng cớ lịch sử và luật pháp quốc tế. Lịch sử là lịch sử, mọi
luận chứng và luận cứ lịch sử phải được đối xử như nhau, không thể chỉ
chấp nhận lịch sử phong kiến mà bỏ đi phần lịch sử trong thời kỳ thực
dân.
Về luận điểm thứ 7, hai sự lựa chọn tác giả đưa ra đều không nhất thiết là công bằng. Những lựa chọn này chỉ công bằng nếu như:
· Khi mỗi nước bắt đầu tranh chấp các đảo Trường Sa thì chúng vẫn còn là đất vô chủ, hay
· luật quốc tế không thể xác định được các đảo Trường Sa thuộc nước nào, hoặc không thuộc nước nào.
Trong bài viết, tác giả chưa chứng minh hai điều
trên, cho nên cho rằng những lựa chọn mà tác giả đưa ra là công bằng thì
thật là thiếu cơ sở. Ngay cả những vấn đề phức tạp về chủ quyền đối với
các đảo Trường Sa mà tác giả nêu ra cũng không chứng minh được hai điều
trên, tức là cũng không làm cho hai sự lựa chọn tác giả đưa ra là công
bằng. Cụ thể, nếu Trường Sa là của Việt Nam, và chúng tôi tin là như
thế, thì hai sự lựa chọn đó đều không công bằng cho Việt Nam.
Qua đó điều chúng ta cần bây giờ là giải pháp giải quyết tranh chấp biển-đảo công bằng cho các bên liên quan.
2. Giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông
a. Nguyên tắc cho việc đi tìm giải pháp tranh chấp giải quyết tranh chấp Biển Đông
Để có được giải pháp giải quyết cho các tranh chấp lãnh thổ, những yếu tố dưới đây cần được xem xét:
i. Xác định tiêu chí cho sự công bằng nằm ở đâu.
ii. Đi tìm các giải pháp.
iii. Đánh gía mỗi giải pháp qua hai tiêu chuẩn:
· Giải pháp đó nằm cách sự công bằng bao xa và chúng ta có thể chấp nhận khoảng cách đó hay không?
· Tính khả thi của giải pháp đó.
Có thể nói vị trí của sự công bằng là “đường cơ sở”
cho việc đi tìm giải pháp. Không có đường cơ sở đó, chúng ta không thể
đánh giá bất cứ giải pháp nào. Giả sử chúng ta đưa ra một giải pháp khả
thi nhưng chúng ta không biết sự công bằng nằm đâu, tức là không biết
giải pháp đó nằm ở đâu so với sự công bằng, thì chúng ta không thể biết
giải pháp đó có bất công cho chúng ta hay không, và nếu bất công thì bất
công đến mức nào. Nếu không biết thì chúng ta không thể lựa chọn, hay
thậm chí đánh giá, giải pháp đó.
Trong tranh chấp lãnh thổ, có nhiều quan điểm khác
nhau về sự công bằng. Các phiên toà quốc tế phân xử tranh chấp lãnh thổ,
đều rất khách quan, khoa học và tinh tế về sự công bằng. Những phiên
toà này nói riêng và pháp lý quốc tế nói chung là thước đo khách quan
nhất, khoa học nhất, tinh tế nhất cho sự công bằng trong tranh chấp lãnh
thổ.
Vì vậy, tiên đề cho việc đi tìm giải pháp cho tranh
chấp lãnh thổ là xác định sự công bằng nằm ở đâu, và để xác định sự công
bằng nằm ở đâu thì phải đi sát với pháp lý quốc tế, sát với những
nguyên tắc trong các phiên toà quốc tế phân xử tranh chấp lãnh thổ.
Trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông,
lập luận của Trung Quốc có nhiều màu sắc loè loẹt, ví dụ như Trung Quốc
có thể viện dẫn, tuy là một cách mạo nhận và nguỵ biện, tài liệu có từ
những triều đại phong kiến cổ xưa và nổi tiếng, như Hán, Đường, Tống,
Minh. Điều này làm cho lập luận của Trung Quốc có tính quyến rũ và tính
mỵ dân rất cao. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, các phiên toà
quốc tế sẽ loại những tài liệu mơ hồ, không có tính xác lập chủ quyền
đó. Nếu đi sát với luật quốc tế thì các tuyên bố và hành động của Việt
Nam là chứng cớ mạnh hơn cho việc xác lập chủ quyền.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải bám sát luật
quốc tế: đó vừa là tiêu chuẩn khách quan nhất, khoa học nhất cho sự
công bằng, vừa là dao bén để cắt qua những lớp màu sắc loè loẹt, mỵ dân
của lập luận của Trung Quốc.
b. Các đặc tính của tranh chấp Biển Đông
Tranh chấp Biển Đông có ba đặc tính:
1. Tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với các đảo.
2. Tồn tại tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền đối với biển và thềm lục địa.
3. Các yếu tố địa – chính trị đặc thù có tác động lên tính khả thi của các giải pháp hay chiến lược khác nhau.
Đặc tính 1 và 2 nằm trong hai phạm trù pháp lý khác
nhau. Đặc tính 3 không nằm trong phạm trù pháp lý. Vì vậy, trong phân
tích, chúng ta nên tránh đan xen chúng với nhau. Cụ thể:
· Khi phân tích về pháp lý của chủ quyền
đối với các đảo thì cần tách biệt với vấn đề phạm vi của các vùng biển
thuộc mỗi đảo và realpolik.
· Khi phân tích về pháp lý của phạm vi của các vùng
biển thuộc mỗi đảo thì cần tách biệt với vấn đề chủ quyền đối với các
đảo và realpolitik.
· Khi một vấn đề nằm trong vùng xám pháp lý thì chúng ta có thể lựa chọn vị trí dựa trên những yếu tố realpolitik.
c. Sự phức tạp về chủ quyền đối với Trường Sa
Trong bài viết, TS Vũ Quang Việt đưa ra một số “vấn
đề phức tạp” liên quan đến chủ quyền đối với Trường Sa. Chúng tôi sẽ
phân tích những vấn đề đó để thấy rõ ràng rằng chúng có thực sự phức tạp
hay không.
Khu vực Trường Sa bao gồm có cả đảo đá
nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines theo Luật biển Liên Hợp
Quốc 1982. Đây là lý do Phi không thể chấp nhận tuyên bố của Pháp năm
1933. Thêm lý do nữa là khi Pháp tuyên bố chủ quyền thì Phi, Mã Lai v.v.
lại chưa phải là những nước độc lập để có tiếng nói.
Luật biển Liên Hợp Quốc (UNCLOS) 1982 chỉ quy định về
vùng biển và thềm lục địa nào có thể thuộc về vùng đất nào. UNCLOS 1982
không hề quy đinh gì về vùng đất nào (bao gồm cả đảo và đảo đá) có thể
thuộc về nước nào. Việc đảo hay đảo đá của một nước nằm trong một vùng
khép kín bên trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước khác là một điều
hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Nó không thể là lý do hợp pháp để một
nước phản đối tuyên bố chủ quyền của một nước khác đối với một đảo.
Trên thực tế, Philippines không phản đối tuyên bố chủ
quyền của Pháp đối với Trường Sa năm 1933. Khi Philippines chính thức
tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa năm 1971[1], thì Philippines cho
rằng Trường Sa là đất vô chủ[2], nhưng họ cũng không nói rằng đó là vì
tuyên bố 1933 của Pháp không hợp pháp.
(Có ý kiến cho rằng Philippines đã cho rằng sau Thế
Chiến 2 thì Trường Sa là đất vô chủ[3], ví dụ như với lý do trong Hiệp
Định San Francisco 1951 Nhật từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa
nhưng không nói là trả cho nước nào. Tuy nhiên, luận điểm cho rằng
“Trường Sa là đất vô chủ do Nhật từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với Trường
Sa, nhưng không nói là trả cho nước nào”, sẽ không hợp lý, vì khi Nhật
từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa thì chủ quyền đó sẽ thuộc về
nước đã tuyên bố chủ quyền trước khi Nhật chiếm Trường Sa.)
Khi Philippines chính thức tuyên bố chủ quyền đối với
Trường Sa vào năm 1971 thì họ cũng không dùng lý do khu vực Trường Sa
bao gồm có cả đảo đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines
theo UNCLOS 1982, đơn giản là vì vào năm 1971 thì UNCLOS 1982 và quy chế
vùng đặc quyền kinh tế của nó chưa ra đời. Philippines chỉ nói rằng
Trường Sa là đất vô chủ, vì một số đảo nằm gần Philippines, quan trọng
cho Philippines, cho nên Philippines tuyên bố chiếm hữu chúng.
Cho tới nay, Toà án Công lý Quốc tế đã phân xử nhiều
tranh chấp lãnh thổ liên quan đến những nước đã từng là thuộc địa. Khi
xét những sự kiện trong thời kỳ thuộc địa, Toà không dùng lập luận trong
thời kỳ đó nước này hay nước kia chưa phải là những nước độc lập để có
tiếng nói. Ngược lại, Toà xem các hành vi của các nhà nước thực dân liên
quan như hành vi của những nhà nước đại diện hợp pháp cho những nước
thụộc địa này.
Trong tranh chấp Trường Sa, việc Philippines,
Malaysia và Brunei chưa phải là những nước độc lập vào năm 1933 không
phải là vấn đề, vì Toà sẽ cho rằng vào thời điểm đó Mỹ đại diện cho
Philippines, Anh đại diện cho Malaysia và Brunei, và sẽ xét các hành vi
liên quan của Mỹ và Anh. Ngoài ra, vào năm 1933, Anh và Mỹ cũng không
cấm các đại diện bản xứ, ví dụ như các vị sultan, nói với Anh, Mỹ rằng
Trường Sa là của họ, nhưng các đại diện bản xứ này đã không nói điều đó.
Pháp lấy lý do Trường Sa là đất vô chủ để
tuyên bố chủ quyền năm 1933 thì điều này không hoàn toàn đúng vì Anh là
nước đã tuyên bố chủ quyền trước Pháp ở vài hòn đảo trước đó. Năm 1877,
chính quyền thuộc địa Anh ở đảo Labuan (một đảo nhỏ, phía bắc Borneo,
do Anh mua lại của Brunei năm 1846) đã cấp giấy phép cho một nhóm doanh
nhân và cho phép họ cắm cờ Vương quốc Anh lên đảo Spratly (Trường Sa) và
đảo Amboyna Cay (An Bang) để hoạt động thương mại. Hai đảo này đã được
đăng ký là lãnh thổ Vương quốc Anh trong những hồ sơ chính thức. Lúc đó
Anh không chính thức phản đối Pháp vì nhu cầu chống Nhật. Điều viết ra ở
đây chỉ nhằm nói tới sự phức tạp của vấn đề chứ không ảnh hưởng gì đến
tính hợp pháp về tuyên bố chủ quyền của Pháp.
Khi tồn tại hai nước cùng tuyên bố chủ quyền trên một
vùng lãnh thổ thì vùng lãnh thổ đó hoặc là thuộc về nước này, hoặc là
thuộc về nước kia, hoặc là nằm trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.
Theo luật quốc tế, cả ba tình trạng này đều khác với res nullius (đất vô chủ) và ở cả 3 tình trạng này đều không cho phép một nước thứ ba nhảy vào tranh chấp chủ quyền một cách hợp pháp.
Giả sử hành động của Anh năm 1877 có làm cho Trường
Sa không còn là đất vô chủ đi nữa, thì điều đó cũng không thành vấn đề.
Lý do là nếu thế thì sau khi Pháp tuyên bố chủ quyền năm 1933 Trường Sa
sẽ nằm trong một trong 3 tình trạng:
1. Hoặc là thuộc về Anh
2. Hoặc là thuộc về Pháp
3. Hoặc là tình trạng tranh chấp chủ quyền giữa Anh và Pháp
Cả ba tình trạng này đều không phải là res nullius (đất vô chủ), và không cho phép Trung Quốc hay Philippines đòi chủ quyền một cách hợp pháp.
Trên lý thuyết, nếu giả sử như Anh có tranh cãi tranh
cãi tuyên bố của Pháp, thì Malaysia có viện hành động của Anh năm 1877
như chứng cớ để đòi chủ quyền.
Nhưng trên thực tế Anh đã không hề tranh chấp Trường
Sa với Pháp. Không những Anh không có phản đối chính thức (như tác giả
viết), mà còn không có bất kỳ phản đối nào. Không những không có bất kỳ
phản đối nào mà trong nội bộ Anh còn cho rằng tuyên bố của Pháp là hợp
lý và nói rằng Anh không muốn tranh chấp chủ quyền đối với Trường Sa với
Pháp[4]. Mặc dù Anh chưa bao giờ tuyên bố cụ thể rằng họ từ bỏ tuyên bố
chủ quyền đối với Trường Sa, chắc chắn 100% là Toà cho rằng hành vi của
Anh có nghĩa nước này đã mặc nhiên công nhận trước sự khẳng định chủ
quyền của Pháp. Trên thực tế, trong 3 khả năng trên thì khả năng 1 và 3
đã bị loại ra.
Vì vậy, Anh và Malaysia không thể viện hành động của
Anh năm 1877 để đòi chủ quyền. Trung Quốc và Philippines thì lại càng
không thể viện hành động của Anh năm 1877 để đòi chủ quyền. Trên thực
tế, không có nước nào viện hành động của Anh năm 1877 để đòi chủ quyền.
Điều đó cho thấy hành động của Anh năm 1877 không làm cho khía cạnh pháp
lý của tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và Malaysia
phức tạp thêm.
Nhân tiện, chúng tôi xin nói thêm về việc nước nào
trong tranh chấp có thể viện chứng cớ nào: Hành động có thể được cho là
tuyên bố chủ quyền của Anh năm 1877 chỉ cho phép Anh hay nước thừa kế
hợp pháp là những nước duy nhất viện nó như chứng cớ để tranh chấp chủ
quyền với Pháp. Hành động đó không cho phép Trung Quốc hay Philippines
viện nó như chứng cớ trong việc đòi chủ quyền cho các nước này.
Pháp chỉ ghi có 6 đảo, đá ở Trường Sa
trong tuyên bố chủ quyền năm 1933. Thực chất là Trường Sa có đến khoảng
170 điểm tự nhiên, với 36 đảo, đá nhỏ tí nhô lên mặt nước, và các bãi
cát, v.v. nên ngay việc định nghĩa và xác định nơi cụ thể đã có vấn đề.
Vậy chỉ một tuyên bố, liệu Pháp có quyền làm chủ cả những nơi họ chưa
biết tới?
Đây là một nghi vấn hợp lý. Chúng ta cần xác định khi
mỗi nước tuyên bố về quần đảo Trường Sa ở một thời điểm nào đó thì quần
đảo Trường Sa trong tuyên bố đó, vào thời điểm đó, bao gồm những đảo
nào, đảo đá nào.
Pháp cũng không có xác định thực hiện
chủ quyền trên một vùng biển rộng lớn như thế cho nên Pháp chỉ có thể
kiểm soát được đảo Itu Aba là đảo lớn nhất vào năm 1938, sau đó đảo này
bị Nhật chiếm, rồi được Nhật trao lại cho Chính phủ Trung Hoa Dân quốc
(bây giờ là Đài Loan).
Việc Nhật chiếm Trường Sa là tranh chấp giữa Nhật và
Pháp. Nó chỉ có thể hoặc là có, hoặc là không có khả năng làm cho Trường
Sa thuộc về Nhật. Nó không hề làm cho Trường Sa thành đất vô chủ hơn,
hay thành của Trung Quốc hơn, hay thành của Philippines hơn, hay thành
của Malaysia hơn.
Nếu, và chỉ nếu, việc Nhật chiếm đóng và chủ quyền
của Nhật ở Trường Sa được công nhận là hợp pháp thì nó mới có thể làm
cho Trường Sa thành đất vô chủ hơn (trong trường hợp Nhật từ bỏ chủ
quyền hợp pháp của họ mà không nói là cho ai), hay thành của Trung Quốc
hơn, hay thành của Philippines hơn, hay thành của Malaysia hơn (nếu như
Nhật trao chủ quyền hợp pháp của họ cho những nước này). Đằng này, việc
Nhật chiếm Trường Sa không hề được nước nào hay trọng tài quốc tế nào
công nhận là hợp pháp. Ngược lại,
- Pháp luôn luôn phản đối Nhật;
- việc Nhật chiếm Trường Sa là một phần của hành vi
bị thế giới lên án, và thế giới đã bắt buộc Nhật phải từ bỏ mọi yêu
sách, hay quyền, hay chủ quyền đối với Trường Sa trong Hiệp Định San
Francisco.
Vì vậy, việc Nhật chiếm Trường Sa từ Pháp không có
giá trị pháp lý để làm cho chủ quyền của Nhật vững hơn, hay làm cho
Trường Sa trở thành đất vô chủ, hay làm cho Trường Sa bớt thuộc về Pháp,
hay làm cho Trường Sa thuộc về Trung Quốc, hay Philippines, hay
Malaysia. Tóm lại, việc Nhật chiếm Trường Sa từ Pháp không làm cho khía
cạnh pháp lý của vấn đề phức tạp thêm.
Ngược lại, việc Nhật tuyên bố chủ quyền và sau đó
chiếm Trường Sa mà chỉ có Pháp phản đối, trong khi Trung Quốc, Mỹ và Anh
không hề phản đối, là chứng cớ rằng cho tới ít nhất trước khi Thế Chiến
2 chấm dứt, Trung Quốc, Mỹ và Anh không có tuyên bố hay hành động để
khẳng định chủ quyền. Đó là một chứng cớ ủng hộ chủ quyền của Pháp, đại
diện cho Việt Nam.
Câu “Nhật trao lại cho Chính phủ Trung Hoa Dân quốc (bây giờ là Đài Loan)” là một lỗi nghiêm trọng.
Trong một bài viết về chủ quyền, từ “trao” không được
giới hạn chặt chẽ và rõ ràng thường có nghĩa trao chủ quyền. Nhưng sự
thật là không có chuyện Nhật trao Trường Sa hay Hoàng Sa cho Trung Hoa
Dân quốc. Không nên lẫn lộn, ngộ nhận hay mạo nhận việc lính Trung Hoa
Dân quốc đến đảo Phú Lâm và Ba Bình là Nhật trao Trường Sa hay Hoàng Sa
cho Trung Hoa Dân quốc, nhất là nếu từ “trao” không được giới hạn chặt
chẽ và rõ ràng. Nếu có sự lẫn lộn, ngộ nhận hay mạo nhận thì nó sẽ giống
như lẫn lộn, ngộ nhận hay mạo nhận việc lính Anh đến miền Nam sau Thế
Chiến 2 là Nhật trao chủ quyền đối với miền Nam cho Anh.
Trên thực tế, hoàn toàn không có chứng cớ rằng Nhật
đã trao chủ quyền đối với Hoàng Sa hay Trường Sa cho bất cứ chính phủ
nào của Trung Quốc trước Hiệp ��ịnh San Francisco 1951. Thêm vào đó, có
thể lý luận rằng vì Nhật chưa trao chủ quyền đối với Hoàng Sa hay Trường
Sa cho nước khác trước Hiệp Định San Francisco 1951 cho nên Nhật mới có
thể và mới phải bỏ mọi yêu sách, hay quyền, hay chủ quyền đối với hai
quần đảo này trong hiệp định đó.
Vì Nhật đã từ bỏ mọi yêu sách, hay quyền, hay chủ
quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong Hiệp Định San Francisco. Cho
nên sau hiệp định đó không còn bất cứ quyền gì để trao Hoàng Sa hay
Trường Sa cho bất cứ nước nào khác. Có thể kết luận rằng không thể có
chuyện Nhật trao chủ quyền đối với Hoàng Sa hay Trường Sa cho Trung Quốc
(như Trung Quốc mạo nhận).
Cũng xin nói thêm rằng phía Trung Quốc cũng nói rằng
Nhật trao Trường Sa lại cho Trung Quốc và hay dùng những thủ đoạn ngôn
ngữ tương tự để ngấm ngầm gieo rắc những tư duy sai vào tâm lý người
đọc.
Các đảo đá quá nhỏ (trừ Itu Aba) nên bỏ ngỏ.
Không chiếm cứ không có nghĩa là bỏ ngỏ. Việt Nam
không chiếm cứ tất cả các đảo lân cận đảo Côn Đảo, không có nghĩa là
Việt Nam bỏ ngỏ những đảo mình không chiếm cứ. Chỉ khi nào có nước khác
tới chiếm đảo nào mà Pháp không phản đối thì mới có thể có lý do để nói
là Pháp bỏ ngỏ.
Không những thế, từ bỏ ngỏ cho đến bỏ chủ quyền còn
một quãng đường xa. Ví dụ GS Chemillier-Gendreau cho rằng để chứng minh
bỏ ngỏ là từ bỏ chủ quyền, cần phải chứng minh là tồn tại ý định từ bỏ
chủ quyền của mình[5].
Sau khi Pháp thua trận ở Điện Biên phủ,
Việt Nam Cộng hòa được Pháp chính thức giao lại Hoàng Sa vào tháng 4 năm
1956. Còn Trường Sa cho đến nay Pháp vẫn chưa chính thức trao trả.
Tuy nhiên Việt Nam Cộng Hòa coi mình có quyền tiếp nối chủ quyền của
Pháp nên cùng thời gian trên gửi quân chiếm một số đảo ở Trường Sa. Các
nước khác trong vùng ĐNA cũng tuyên bố chủ quyền và ra sức chiếm những
nơi không người.
Năm 1933 Pháp sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Như
vậy chủ quyền đối với Trường Sa mặc định đi kèm theo chủ quyền đối với
tỉnh Bà Rịa. Điều không ai có thể tranh cãi là khi Pháp công nhận sự độc
lập của Việt Nam thì chủ quyền đối với tỉnh Bà Rịa thuộc về Việt Nam.
Câu hỏi chính đáng là trước khi Pháp công nhận sự độc lập của Việt Nam
thì Pháp có tách Trường Sa ra khỏi Bà Rịa hay không? Hay khi Pháp công
nhận sự độc lập của Việt Nam thì Pháp có bảo lưu chủ quyền của mình đối
với Trường Sa hay không? Câu trả lời cho hai câu hỏi này là “Không” và “Không”. Như vậy không tồn tại gì để thay đổi việc chủ quyền đối với Trường Sa mặc định đi kèm theo chủ quyền đối với tỉnh Bà Rịa. Vì vậy chủ quyền đối với Trường Sa mặc định thuộc về Việt Nam, không cần Pháp phải nói cụ thể rằng họ trao Trường Sa cho Việt Nam.
Đó cũng là tập quán quốc tế trong giai đoạn giành độc
lập của các nước thuộc địa. Trong giai đoạn cai trị một nước như thuộc
địa, nước thực dân thường chiếm hữu thêm lãnh thổ và sáp nhập vào thuộc
địa của mình. Khi nước thuộc địa trở thành độc lập thì vùng lãnh thổ mới
này mặc định thuộc về nước đó. Nếu không có hành động để tách vùng lãnh
thổ mới này ra khỏi nước đó thì vị trí mặc định là vị trí áp dụng.
Việc chiếm đóng lãnh thổ mà nước khác đã tuyên bố chủ
quyền trước không bao giờ được Toà công nhận là có giá trị trong lập
luận pháp lý về chủ quyền, cho nên những sự chiếm đóng như TS Vũ Quang
Việt đề cập đến không làm cho khía cạnh pháp lý trở nên phức tạp thêm.
Trung Quốc là nước duy nhất dùng bạo lực để chiếm đảo của Việt Nam vào năm 1988.
Việc chiếm đóng lãnh thổ mà nước khác đã tuyên bố chủ
quyền trước không bao giờ được Toà công nhận là có giá trị trong lập
luận pháp lý về chủ quyền, cho nên sự chiếm đóng này không làm cho khía
cánh pháp lý phức tạp thêm.
Liệu một đế quốc hùng mạnh như Pháp có
sức đe dọa nhiều nước kém phát triển ở ĐNA đang bị cai trị mà chỉ một
câu tuyên bố chủ quyền ở một vùng đất vô chủ là có thể làm chủ tất cả
các hòn đảo ở Biển ĐNA, dù chính Pháp không đủ sức thực hiện quyền làm
chủ chúng ở mọi nơi, và lại bị Nhật phản đối?
Pháp và Việt Nam không đòi hỏi làm chủ tất cả các đảo ở Biển Đông Nam Á.
Tuyên bố chủ quyền của Nhật làm cho Trường Sa nằm trong một trong 3 tình trạng:
1. Hoặc là thuộc về Pháp
2. Hoặc là thuộc về Nhật
3. Hoặc là tình trạng tranh chấp chủ quyền giữa Pháp và Nhật
Cả 3 tình trạng này đều không phải là res nullius
(đất vô chủ), và không cho phép Trung Quốc hay Philippines hay Malaysia
đòi chủ quyền một cách hợp pháp. Vì vậy, tuyên bố chủ quyền của Nhật
không làm cho khía cạnh pháp lý của tranh chấp giữa Việt Nam, Trung
Quốc, Philippines và Malaysia phức tạp thêm. Thêm vào đó, việc nhật từ
bỏ yêu sách đối với Trường Sa trong Hiệp Định San Francisco 1951 đã loại
khả năng 2 và khả năng 3 ra khỏi 3 khả năng trên.
Vấn đề “Pháp không đủ sức thực hiện quyền làm chủ
chúng ở mọi nơi” không phải là vấn đề. Luật quốc tế không đòi hỏi đủ sức
thực hiện quyền làm chủ ở mọi nơi. Vấn đề là Pháp có làm đủ trình tự
pháp lý cho việc xác lập chủ quyền hợp pháp hay không? có làm nhiều hơn
các nước khác hay không?
Trả lời câu hỏi thứ nhất, GS Chemillier-Grendreau cho là đủ.
Để trả lời câu hỏi thứ nhì, từ 1933 cho đến sau Thế
Chiến 2, Pháp làm nhiều hơn Trung Quốc, Anh, Mỹ – các nước này không hề
làm gì. Pháp đã làm nhiều hơn các nước này và phản đối tuyên bố và sự
xâm chiếm của Nhật trong khi các nước này không phản đối.
Chỉ có Nhật là có thể tuyên bố và hành động để cạnh
tranh chủ quyền với Pháp, nhưng Hiệp Định San Francisco đã loại Nhật ra
khỏi vòng tranh chấp.
Lợi ích sẽ được định như thế nào trên
một khu vực rộng lớn mà kết cấu hầu hết là đá? Ngay cả Itu Aba cũng chưa
chắc đã đủ tư cách pháp lý để được coi là đảo. Và dù được coi là đảo,
dựa vào các tiền lệ xử án của Tòa án Quốc tế đảo này cũng có thể sẽ
không có hoặc bị hạn chế quyền có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa. Vậy thì dù có chủ quyền, lợi ích có thể có ở các đảo đá này cũng có
thể rất nhỏ. Và trước hết, lợi ích này cũng không thể thực hiện được
khi chưa có giải pháp.
Lợi ích từ biển thuộc đảo và chủ quyền đối với đảo là
hai vấn đề khác nhau. Bất kể lợi ích từ biển thuộc đảo là lớn hay nhỏ,
chúng ta cũng cần phải biết chủ quyền đối với đảo thuộc về ai. Bất kể
hiện nay chúng ta có thể gặt hái lợi ích từ biển thuộc đảo, dù lớn hay
nhỏ, hay không, chúng ta cũng cần phải biết chủ quyền đối với đảo thuộc
về ai. Vì vậy, chúng ta không nên xem vấn đề lợi ích từ biển thuộc đảo
là lớn hay nhỏ và vấn đề có thực hiện được lợi ích đó hay không như
những yếu tố làm giảm giá trị của việc xác định chủ quyền đối với đảo.
d. Giải pháp cho chủ quyền đối với Trường Sa
Về chủ quyền đối với Trường Sa, TS Vũ Quang Việt đề nghị
Sẽ là một giải pháp công bằng và hợp lý
cho tất cả các bên liên quan nếu bỏ sang một bên thế kỉ của chủ nghĩa đế
quốc và chủ nghĩa thực dân ở ĐNA.
Trong luật quốc tế, khi phân xử tranh chấp lãnh thổ
liên quan đến các nước đã từng là thuộc địa, Toà án Công lý Quốc tế công
nhận những hành vi phù hợp với luật pháp vào thời điểm đó của các nhà
nước thực dân. Đó cũng là tập quán quốc tế: biên giới của các nước trước
đây là thuộc địa thường là biên giới do các hành vi của các nhà nước
thực dân trong thời kỳ thuộc địa.
Đề nghị “bỏ sang một bên thế kỉ của chủ nghĩa đế quốc
và chủ nghĩa thực dân ở ĐNA” đi ngược với luật quốc tế và tập quán quốc
tế, đồng thời cũng bỏ qua mất giai đoạn lịch sử quan trọng. Trên nguyên
tắc, khó có thể nói rằng đề nghị này sẽ dẫn đến một giải pháp công
bằng. Trên thực tế, đề nghị đó không những đi ngược với luật quốc tế hay
tập quán quốc tế mà còn bất lợi
cho Việt Nam, vì nó sẽ phủ định một số lập luận phù hợp với luật quốc
tế của Việt Nam. Các học giả Trung Quốc cũng cố tình phủ định các hành
vi của Pháp ở Trường Sa với cớ là “chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân”, vì phủ định như thế rất có lợi cho lập luận của Trung Quốc.
Nói chung, lập luận của phía Trung Quốc rất mang tính
mỵ dân, tuyên truyền cho giới bình dân bởi tính tính quyến rũ và huyền
thoại, nhưng, theo hiểu biết hạn hẹp của chúng tôi, lập luận của Việt
Nam đi sát với pháp lý quốc tế và có nhiều lợi thế hơn. Có học giả Trung
Quốc, có lẽ do nhận thấy ưu thế của phía Việt Nam trong pháp lý quốc
tế, phản biện rằng luật quốc tế về chủ quyền là luật của chủ nghĩa thực
dân, không thể áp dụng cho khu vực.
Vì vậy, và vì tinh thần “Luật quốc tế là thước đo
khách quan nhất, khoa học nhất, và tinh tế nhất cho sự công bằng trong
giải quyết tranh chấp lãnh thổ”, chúng tôi cho rằng các nhà nghiên cứu
Việt Nam nên đi sát với luật quốc tế, tìm cách tận dụng luật quốc tế, và
đặc biệt không bỏ qua những ưu thế có từ luật quốc tế.
e. Lối thoát cho bước thứ 3 của giải pháp (của TS Vũ Quang Việt)
i. Bài của TS Vũ Quang Việt chưa chứng minh được rằng hai lựa chọn được đưa ra cho lối thoát là công bằng
Về bước thứ ba của giải pháp cho chủ quyền đối với Trường Sa, tác giả viết như sau:
Một lối thoát trong bước 3 để giải quyết vấn đề chủ quyền đối với các đảo nhỏ, đảo đá… ở biển ĐNA bao gồm 2 lựa chọn:
1. Tất cả các đảo nhỏ, đảo đá… ở biển ĐNA nên được
xem là tài sản chung của tất cả các quốc gia có bờ biển giáp với biển
ĐNA. Nguồn thu nhập ròng từ tài nguyên trong biển ĐNA nên được phân chia
theo tỷ lệ tương ứng với quy mô của đường cơ sở thẳng ven biển của mỗi
quốc gia.
2. Các nước có chủ quyền đối với những điểm mà họ đang chiếm giữ, nhưng chỉ có đảo đá và đảo nhỏ có vùng lãnh hải 12 hải lý.
Hai lựa chọn trên không công bằng. Nếu pháp lý quốc
tế xác định Trường Sa không phải là của ai, hay nếu pháp lý quốc tế
không có khả năng xác định Trường Sa là của ai, thì 2 lựa chọn đó sẽ
được cho là công bằng. Nếu, theo pháp lý quốc tế, Trường Sa là của Việt
Nam thì 2 lựa chọn đó sẽ không công bằng đối với Việt Nam.
Bài viết này chưa phân tích chặt chẽ và sát với pháp
lý quốc tế những vấn đề mà tác giả cho là phức tạp liên quan đến chủ
quyền đối với Trường Sa. Thậm chí, bài viết có vẻ có nhận định không
chính xác và thiếu cơ sở về những vấn đề đó. Do đó, khó có thể cho rằng
tác giả đã xác định, hay xác định một cách chính xác, vị trí của sự công
bằng để làm đường cơ sở cho việc đánh giá 2 lựa chọn trên.
ii. Có những lựa chọn khác
Nếu vùng biển thuộc các đảo Trường Sa được xác định
là không rộng lớn thì điều đó sẽ giảm nhiệt của tranh chấp rất nhiều.
Nếu vùng biển thuộc các đảo Trường Sa là nhỏ thì quyền lợi chiến lược và
kinh tế thuộc các đảo này cũng nhỏ đi. Quyền lợi chiến lược và kinh tế
thuộc các đảo nhỏ đi thì Trung Quốc sẽ bớt hung hăng về khẳng định mạnh
mẽ chủ quyền của các đảo này. Ít nhất, nếu các nước ĐNA trong tranh
chấp, các nước có quyền lợi liên đới và các cường quốc hàng hải trong
việc bảo vệ quyền lợi và an ninh toàn cầu đồng ý rằng các đảo Trường Sa
chỉ có thể được ít biển thì điều đó cũng kìm hãm sự hung hăng của Trung
Quốc.
Với những lý do đã trình bày ở trên, Việt Nam nên tập
trung vào bước thứ nhất và bước thứ 2 thay vì lựa chọn một trong 2 lựa
chọn trên (đều không nhất thiết là công bằng cho Việt Nam) cho bước thứ
3.
Nếu thực hiện được phần nào của bước thứ nhất và bước
thứ 2, kìm hãm phần nào sự hung hăng của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ có
thêm thời gian và cơ hội để tìm kiếm lựa chọn công bằng hơn (ngoài 2
lựa chọn mà tác giả đưa ra) cho bước thứ 3, ví dụ như lựa chọn thứ 3:
Các nước trong tranh chấp yêu cầu Toà án Công lý Quốc tế phân xử vấn đề
chủ quyền đối với đảo.
Khả năng là lựa chọn này sẽ công bằng hơn lựa chọn 1 và 2.
Theo thiển ý của chúng tôi, rủi ro chính trong một
phiên toà về chủ quyền đối với đảo là từ công hàm của Phạm Văn Đồng chứ
không phải từ những “vấn đề phức tạp” mà tác giả đưa ra. Trước khi
nghiên cứu tới nơi tới chốn, hay kỹ lưỡng nhất có thể, về các rủi ro thì
Việt Nam cũng chưa nên chọn lựa chọn 3.
Nếu Việt Nam đã nghiên cứu tới nơi tới chốn và đủ tự
tin thì nên yêu cầu các nước chọn lựa chọn 3; nếu chưa nghiên cứu tới
nơi tới chốn, hay không tự tin, hay có nước trong tranh chấp chưa chấp
nhận để cho Toà phân xử thì Việt Nam nên chọn lựa chọn thứ 4: Tiếp tục
tranh chấp chủ quyền đối với các đảo (nhưng không đòi nhiều biển cho mỗi
đảo). Các nước có quyền lợi liên quan ký hiệp định ràng buộc không sử
dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực, không chiếm đóng thêm, không dùng những
biện pháp cương hay nhu nhằm chiếm đoạt, v.v.
...............Chi tiết (http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/12/16/bnh-lu%E1%BA%ADn-bi-tranh-ch%E1%BA%A5p-bi%E1%BB%83n-dng-nam-di-tm-gi%E1%BA%A3i-php-ha-bnh-v-cng-l/)
[2] International Court of Justice, Rules of Court
(1978).
http://www.icj-cij.org/documents/index.php?p1=4&p2=3&p3=0. Coi
điều 56, 57, 58.
SOURCE: TẠP CHÍ THỜI ĐẠI MỚI SỐ 20 – THÁNG 11/2010 - DƯƠNG DANH HUY & HOÀNG ANH TUẤN KIỆT
Trích dẫn từ: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai20/201020_DuongDanhHuy.htm
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời
điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến
luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)