Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng kinh doanh thương mại của doanh nghiệp và một số liên hệ với hoạt động ngân hàng
Nói đến hợp đồng kinh doanh thương mại, không thể không nói đến điều khoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đồng thời, cũng là các chế định của pháp luật; nó tồn tại đã lâu nhưng cũng còn nhiều bất cập mà doanh nghiệp và những người làm công tác pháp lý nói chung và luật sư nói riêng còn một số điểm phải trao đổi làm rõ.
Vấn đề này không chỉ dừng tại đó, mà còn có ảnh hưởng
đến các bên có liên quan, trực tiếp là các ngân hàng thương mại (NHTM)
và tổ chức tín dụng (TCTD) khác tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Nếu như
khách hàng bị thiệt hại do đối tác gây ra, không được bồi thường kịp
thời và giải quyết vi phạm đó kéo dài, mà giá trị hợp đồng đó có sự tài
trợ vốn, cho vay của NHTM,… thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng
nợ quá hạn, nợ khó đòi,… vì dòng tiền quay vòng không đúng dự kiến, nợ
NHTM không được trả đúng hạn. Do đó NHTM, trực tiếp là cán bộ tín dụng
cần có nhận thức đầy đủ hơn để giải quyết mối quan hệ với khách hàng
cũng như xử lý nợ khi phát sinh liên quan đến hợp đồng có tranh chấp bồi
thường. Bên cạnh đó, các TCTD cần nắm rõ vấn đề này khi giải quyết
tranh chấp, bồi thường, vi phạm với đối tác trong hoạt động của mình.
Về lý luận và khoa học pháp lý: Pháp luật quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như sau:
Theo các quy định của pháp luật hiện hành: (i) Điều
422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được
thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi
phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về
mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu
không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ
phải nộp tiền phạt vi phạm. (ii) Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối
với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm
do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần
nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301)… Bồi thường thiệt hại là việc
bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra
cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn
thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây
ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không
có hành vi vi phạm (Điều 302). (iii) Luật Xây dựng quy định: Đối với
công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá
12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị
hợp đồng bị vi phạm (Điều 110).
Chỉ với quy định tại ba luật nói trên đã thấy có
sự khác nhau về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong quan hệ hợp
đồng tùy theo đó là hợp đồng gì: Dân sự, thương mại hay xây dựng sử dụng
nguồn tiền ngân sách nhà nước. Có nghĩa là, việc đầu tiên các bên muốn
thoả thuận về phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại thì phải xác định
rõ quan hệ giữa các bên là quan hệ gì, khi có thiệt hại do hành vi vi
phạm phải bồi thường thiệt hại hay không. Loại hợp đồng thứ ba tùy thuộc
phạm vi sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, nhưng có thể vận dụng, tham
khảo, tham chiếu khi xem xét đối với hợp đồng xây dựng có vay vốn NHTM.
Trường hợp không xác định rõ loại quan hệ và pháp
luật điều chỉnh sẽ dẫn đến khó giải quyết khi có tranh chấp: Bên vi phạm
muốn áp dụng luật theo hướng bị phạt ở mức thấp và/hoặc không muốn bồi
thường thiệt hại; ngược lại, bên bị vi phạm muốn áp dụng luật theo hướng
yêu cầu phạt vi phạm và/hoặc bồi thường thiệt hại ở mức cao nhất có
thể. Chắc chắn rằng, nếu giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân
sự, vụ án sẽ kéo dài: sơ thẩm, phúc thẩm và có thể giám đốc thẩm, kèm
theo đó là ngân hàng cũng “bị vạ lây” vì doanh nghiệp chưa thu được
tiền, chưa nhận được bồi thường.
Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng đã có nhiều trường hợp như vậy.
Về thực tiễn đàm phán ký kết thực hiện hợp đồng:
Để thấy rõ tình trạng trên, bài viết xin đưa ra một
ví dụ cụ thể. Trong một hợp đồng chế tạo, lắp đặt thiết bị, dây truyền
nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản giữa Công ty Cơ khí T với Công ty Thức
ăn thủy sản H. Trong hợp đồng, các bên thỏa thuận nếu bên lắp đặt không
thực hiện đúng hợp đồng về lắp đặt thiết bị đúng các chi tiết kỹ thuật,
hoặc không đúng tiến tiến độ thì chịu phạt và bồi thường 100% giá trị
hợp đồng, thực tế giá trị hợp đồng là 10 tỷ đồng. Quá trình thực hiện,
bên lắp đặt không thực hiện đúng tiến độ lắp đặt (theo biên bản giám
định thì tỷ lệ hoàn thành mới chỉ đạt 53% khối lượng). Vì vậy, Công ty
Thức ăn thủy sản H đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng và đòi tiền phạt và
bồi thường theo thoả thận tại hợp đồng (100% giá trị hợp đồng hay 10 tỷ
đồng). Tranh chấp được giải quyết qua hai cấp xét xử của tòa án, với
các bản án tuyên buộc Công ty cơ khí T phải trả một khoản tiền về phạt
vi phạm bằng 100% giá trị hợp đồng cho Công ty H đúng như thỏa thuận của
các bên trong hợp đồng đã ký. Trong trường hợp cụ thể này, Công ty Sản
xuất thức ăn thuỷ sản H có vay vốn một NHTM để ứng trước tiền thi công
xây lắp, nhưng bài viết không đưa số liệu cụ thể cũng như thực trạng
chất lượng khoản vay.
Tòa án đã giải quyết đúng quy định của pháp luật hay
chưa? Kinh nghiệm rút ra đối với các doanh nghiệp thông qua tranh chấp ở
đây là gì?
Xung quanh phán quyết của toà án các cấp còn có các
quan điểm khác nhau. Toà án quyết định như vậy nhưng không làm rõ bị đơn
phải trả khoản tiền đó là tiền gì: tiền bồi thường hay tiền phạt. Nếu
là tiền phạt thì mức phạt được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự
hay áp dụng theo quy định của Luật Thương mại. Trường hợp coi hợp đồng
đã ký là hợp đồng thương mại thì mức phạt không được quá 8% giá trị phần
nghĩa vụ vi phạm.
Bên cạnh đó, phải lưu ý rằng, Luật Thương mại cũng đã
quy định: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao
gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Điều 3) và hoạt động thương
mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì
áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 4). Từ đó, có ý kiến cho
rằng, hợp đồng giữa giữa công ty Cơ khí T với Công ty Thức ăn thủy sản H
là hợp đồng mua bán và lắp đặt thiết bị dây truyền nhà máy sản xuất
thức ăn thủy sản – một dạng hợp đồng thương mại, do vậy, nếu có vi phạm
toàn bộ hợp đồng cũng chỉ có thể phạt tối đa 8% x 10 tỷ đồng = 800 triệu
đồng. Quan điểm này khác, đối lập với quan điểm của tòa án chấp nhận
thoả thuận mức phạt vi phạm của các bên (100% hay 10 tỷ đồng) theo quy
định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự.
Một số ý kiến trao đổi
Có thể nói, hoạt động kinh doanh thương mại của doanh
nghiệp bao gồm nhiều quan hệ hợp đồng: từ hợp đồng giữa các thành viên
với nhau để thành lập công ty, hợp đồng giữa các thành viên với công ty,
hợp đồng giữa công ty với người thứ 3 (lao động, mua bán hàng hóa, dịch
vụ…). Một vấn đề được đặt ra là các chủ doanh nghiệp chú trọng tới đâu
trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong các hợp
đồng? Đặc biệt những hợp đồng mà chủ doanh nghiệp hay người quản lý công
ty thường quan tâm, đó là các hợp đồng ký với đối tác, trong đó có
những điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài sẽ áp
dụng nếu có xảy ra vi phạm; hợp đồng xây dựng như thế nào sẽ giảm được
chi phí tối đa cho các bên giao kết (đặc biệt liên quan tới hợp đồng ký
với đối tác nước ngoài)…
Trong phạm vi bài viết, tác giả xin tập trung vào các
chế tài thường được thoả thuận trong hợp đồng gắn với việc liên hệ đến
các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam với thực tiễn và thông lệ
phổ biến trên thế giới ra sao.
Trong thực tế, điều khoản phạt vi phạm là điều khoản
thường xuyên được các chủ thể của hợp đồng áp dụng (điều khoản ưa thích
cho hợp đồng). Tuy nhiên, các quy định của luật pháp hiện hành còn khá
cứng nhắc, mâu thuẫn… Nguyên nhân, một phần do khoa học pháp lý của nước
ta đang phát triển theo hướng thị trường, hội nhập; quá trình xây dựng
pháp luật của Việt Nam có yếu tố đặc thù, và chúng ta chưa thực hiện
rộng rãi việc công bố công khai bản án, không áp dụng hệ thống án lệ.
Những vấn đề này không những gây khó khăn về định hướng và áp dụng pháp
luật đối với những người làm công tác pháp lý, mà còn làm cho những chủ
doanh nghiệp khó có thể hiểu và vận dụng hiệu quả quy định của pháp luật
trong hoạt động, kinh doanh. Bản thân cán bộ tín dụng trong quan hệ với
khách hàng, với doanh nghiệp cũng chưa hiểu đúng vấn đề này.
Bộ luật Dân sự 2005 tại Điều 422 quy định phạt vi
phạm chỉ được áp dụng khi các bên thỏa thuận (không còn sự áp đặt của
nhà làm luật vào sự tự do thỏa thuận như trong các quy định trước). Bộ
luật không quy định giới hạn các bên có thể thỏa thuận (nếu hiểu một
cách thông thường thì thỏa thuận mức phạt bao nhiêu là tùy các bên). Là
một luật chuyên ngành, Luật Thương mại đặt ra tỷ lệ phạt không quá 8%
giá trị phần nghĩa vụ vi phạm. Đây là giới hạn tối đa của pháp luật
thương mại về phạt vi phạm, nó gần gũi với luật của Pháp; Phạt vi phạm
cũng được quy định trong cả hai lần ban hành Bộ luật Dân sự của nước ta.
Theo hệ thống luật Anh – Mỹ hay những chuẩn mực hợp
đồng thương mại chung của thế giới (Công ước Viên 1980) thì chế tài phạt
vi phạm không được áp dụng. Hay những điều khoản mang tính chất trừng
phạt không có hiệu lực. Nhưng những thỏa thuận về một khoản tiền ấn định
lại hoàn toàn có hiệu lực thi hành đối với các bên và tòa án ra phán
quyết buộc bồi thường theo khoản tiền mà các bên thỏa thuận. Tuy nhiên,
tòa án cân nhắc tới sự hợp lý với thiệt hại thực tế mà bên bị thiệt hại
phải gánh chịu.
Bộ luật Dân sự 2005 chưa quy định rõ giữa chế tài
phạt vi phạm và bồi thường ấn định một khoản tiền dẫn đến việc (trong vụ
án đã nêu) tòa chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường mà trong bản án không
có những chứng minh về thiệt hại của nguyên đơn (chỉ căn cứ vào thỏa
thuận các bên).
Đối với doanh nghiệp khi thỏa
thuận về những khoản bồi thường hay tiền phạt trong hợp đồng, cần thỏa
thuận rõ và tách biệt đâu là tiền bồi thường, đâu là tiền phạt. Bởi nếu
không rõ ràng hoặc mô tả rằng đó là khoản tiền phạt vi phạm mà số tiền phạt vượt quá mức quy định thì phần vượt
quá như vậy không có giá trị pháp lý. Mặt khác, nếu cho rằng đó là một
khoản tiền bồi thường mà các bên thỏa thuận trước thì cũng không phù hợp
vì Luật Dân sự và Luật Thương mại hiện hành không quy định về trường
hợp các bên được ấn định một khoản tiền bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng.
Vì còn những điểm cần lưu ý như trên nên khi thỏa
thuận ký kết hợp đồng, doanh nghiệp nên tham khảo ý kiến của chuyên gia
pháp lý, luật sư để xem xét những điều khoản mà mình thỏa thuận có hiệu
lực pháp lý hay không.
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với luật sư
Trong điều kiện nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế
một cách nhanh chóng, sâu rộng, thì hơn bao giờ hết, mối quan hệ giữa
doanh nghiệp với luật sư như là một sự đồng hành, cán bộ tín dụng NHTM
cũng cần có sự nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này. Nói cách khác, sự
thành công của doanh nghiệp luôn có “bóng dáng” của luật sư. Ngược lại,
luật sư chỉ có thể khẳng định mình khi có ngày càng nhiều các doanh
nghiệp “thân chủ” kinh doanh hiệu quả, an toàn.
Đã đến lúc cả hai bên phải tiến về phía nhau, cùng
nhau hợp tác, chia sẻ và thành công trong tất cả các hoạt động của doanh
nghiệp, phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần tạo sự lành mạnh,
an toàn cho môi trường hoạt động tín dụng ngân hàng.
SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 21/2010 - TS. LÊ VĂN LUYỆN – Học viện Ngân hàngTHS. & THS. ĐÀO NGỌC CHUYỀN – Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------