Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Giống như các loại hợp đồng thương mại khác, nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại (NQTM) cũng thể hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, tuy nhiên, với những đặc thù nhất định của hoạt động NQTM nên hợp đồng NQTM có những điểm khác biệt với các loại hợp đồng khác, kể cả đối với hợp đồng đại lý.
Chủ thể của hợp đồng NQTM là các thương nhân có quyền
kinh doanh độc lập, hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lưới thống
nhất về hành động của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền, để đảm bảo
lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền khác. Các bên nhận
quyền phải tuân thủ trung thành mô hình NQTM, khai thác bí quyết một
cách nhất quán trong mạng lưới NQTM, phải trả phí khai thác lợi ích cho
bên nhượng quyền và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận
quyền (đối với các hợp đồng đại lý, bên nhận đại lý không phải thực hiện
nghĩa vụ này). Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong
việc tuân thủ trung thành mô hình NQTM (bên đại lý cũng không có quyền
kiểm soát này đối với bên nhận đại lý)1. Hoạt động của hệ
thống NQTM thường dẫn tới hệ quả phân chia thị trường và có thể gây hạn
chế cạnh tranh (HCCT) trong thỏa thuận về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở
“điều khoản về địa điểm bán hàng” (location clause); cấm bên nhận quyền
quảng cáo ngoài phạm vi của mình; mua bán độc quyền liên quan đến nhãn
hiệu hàng hóa, thương hiệu sản phẩm; quy định bán kèm. Ngoài ra, trong
hợp đồng NQTM, nhiều trường hợp còn quy định về ấn định giá bán cho các
thành viên của hệ thống NQTM và có thể có một số ràng buộc khác. Căn cứ
vào tính chất của đối tượng điều chỉnh, hợp đồng NQTM có thể được chia
thành các loại: (i) NQTM về dịch vụ, theo đó bên nhận quyền chào bán một
dịch vụ dưới tên thương mại hoặc biểu tượng và đôi khi là nhãn hiệu
thương mại của bên nhượng quyền, theo những chỉ dẫn của bên nhượng
quyền; (ii) NQTM về sản xuất, quy định bên nhận quyền sản xuất các sản
phẩm theo đúng những chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán chúng dưới nhãn
hiệu thương mại của bên nhượng quyền; (iii) NQTM về phân phối, trong đó
bên nhận quyền đơn thuần bán các sản phẩm nhất định trong một cửa hàng
mang tên thương mại hoặc biểu tượng của bên nhượng quyền. Do đó, mỗi
loại đối tượng của hợp đồng NQTM sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác nhau
tùy thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung cụ thể của hợp đồng. Chúng
thường được thể hiện dưới các dạng sau:
Thỏa thuận quy định phân chia khu vực kinh doanh
Để cân bằng lợi ích của bên nhận quyền, đảm bảo không
có sự cạnh tranh giữa các bên nhận quyền trong một khu vực địa lý nhất
định, đồng thời đạt hiệu quả kinh doanh cho cả hệ thống, bên nhượng
quyền thường quyết định số lượng cửa hàng nhượng quyền trên một khu vực
địa lý nhất định bằng việc phân chia khu vực kinh doanh cụ thể cho mỗi
bên nhận quyền. Quy định này cấm bên nhận quyền kinh doanh ngoài phạm vi
được cho phép bởi bên nhượng quyền và chỉ được khai thác một cơ sở duy
nhất do bên nhượng quyền cấp. Ví dụ, trong thỏa thuận NQTM của hệ thống
nhà hàng Burger King, Hoa Kỳ quy định: “NQTM này dành cho địa điểm được
quy định cụ thể và không cấp hoặc ngụ ý cấp bất kỳ sự độc quyền đối với
khu vực, thị trường hoặc lãnh thổ nào cho Bên nhận quyền”2.
Hay hệ thống nhượng quyền của KFC, bên nhượng quyền đồng ý bảo trợ độc
quyền trong bán kính 1,5 dặm với dân số khoảng 30.000 người3.
Quy định về việc phân chia thị trường và HCCT giữa các bên trong hợp
đồng NQTM là một trong những đặc trưng của hoạt động NQTM nhằm bảo đảm
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Do đó, bằng sự
thỏa thuận mỗi bên nhận quyền chỉ kinh doanh một cơ sở duy nhất trong
một phạm vi nhất định, đã tạo ra vị thế độc quyền trong khu vực cho mỗi
bên nhận quyền. Thỏa thuận dọc này có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh
và khả năng phát triển của bên nhận quyền, và sẽ tạo ra sự hạn chế
(theo chiều ngang) đối với các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng lĩnh
vực ngành nghề gia nhập thị trường ở những khu vực đã được bên nhượng
quyền phân chia cho các bên nhận quyền. Đồng thời, làm hạn chế khả năng
lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ của người tiêu
dùng trong một khu vực địa lý nhất định. Tuy nhiên, không phải mọi thỏa
thuận phân chia khu vực địa lý để kinh doanh đều vi phạm cạnh tranh, để
xác định hành vi này có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không còn tùy
thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Ở châu Âu, Tòa án Tư pháp châu Âu (ECJ)4 trong vụ án 161/84 án lệ Pronuptia5
đã hướng dẫn tòa án tối cao Liên bang Đức giải quyết vụ tranh chấp từ
hợp đồng NQTM giữa Pronuptia de Paris Gmbh, Frankfurt am Main và
Pronuptia de Paris Irmgard Schillgalis, Hamburg trên cơ sở pháp luật
cạnh tranh của Liên minh châu Âu. Trong đó, bên nhượng quyền (Pronuptia
de Paris gmbh)6 kiện bên nhận quyền (bà Schillgalis) phải trả
cho bên nhượng quyền các khoản nợ phí sử dụng nhãn hiệu tính trên 10%
toàn bộ doanh số của các năm 1978 đến 1980. Căn cứ vào ba hợp đồng, bên
nhận quyền được NQTM ở ba khu vực riêng biệt Hamburg, Oldenburg và
Hanover để bán áo cưới, áo dạ hội, dự tiệc và các phụ kiện khác. Với các
thỏa thuận: bên nhượng quyền cấp NQTM cho bên nhận quyền, đối với một
lãnh thổ được xác định bằng bản đồ đính kèm theo hợp đồng, quyền độc
quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại ‘Pronuptia de Paris’ để tiêu thụ hàng
hóa và dịch vụ của mình và quyền quảng cáo; cam kết không được mở bất
kỳ cửa hàng Pronuptia trong lãnh thổ nói đến hoặc cung cấp hàng hóa hoặc
dịch vụ cho các bên thứ ba trong lãnh thổ đó. Tại Tòa phúc thẩm khu vực
tại Frankfurt am Main (Oberlandesgericht Frankfurt am Main)7,
bên nhận quyền cho rằng, hợp đồng đã vi phạm pháp luật cạnh tranh, trái
với Điều 81(1) của Hiệp ước EC và không được quy định trong phần miễn
trừ theo nhóm (block exemption) được cấp cho các loại hợp đồng kinh
doanh độc quyền nhất định theo Quy định của Ủy ban châu Âu số 67/67. Vì
bên nhượng quyền đã áp đặt cho bên nhận quyền điều kiện HCCT mà cụ thể
là ba cửa hàng tương ứng với ba địa điểm đã được xác định cụ thể tại ba
thành phố của nước Đức (Hamburg, Oldenburg và Hanover), nên bên nhận
quyền bị cấm mở cửa hàng thứ hai trong cùng một khu vực địa lý đã được
cấp quyền thương mại. Để tuân theo cam kết đó, bên nhượng quyền không
chỉ cố gắng phải hạn chế việc thiết lập cơ sở kinh doanh của mình trong
lãnh thổ đó, mà còn bắt buộc các bên nhận quyền khác đưa ra cam kết
không mở một cửa hàng thứ hai bên ngoài lãnh thổ của họ. Điều đó dẫn đến
kết quả là một sự chia sẻ thị trường giữa bên như���ng quyền và các bên
nhận quyền hoặc giữa các bên nhận quyền, và vì vậy, hạn chế sự cạnh
tranh giữa các bên trong mạng lưới nhượng quyền. Đồng thời, các điều
khoản chia sẻ thị trường giữa bên nhượng quyền và các bên nhận quyền
hoặc giữa các bên nhận quyền với nhau trong mọi trường hợp có khả năng
ảnh hưởng đến sự buôn bán giữa các quốc gia thành viên, ngay cả khi
chúng được ký kết giữa các doanh nghiệp được thành lập trong cùng một
quốc gia thành viên, tới chừng mực mà chúng ngăn chặn các bên nhận quyền
thành lập cơ sở kinh doanh của mình tại một quốc gia thành viên khác.
Đồng ý với lập luận của bên nhận quyền, Tòa án cho rằng, bên nhượng
quyền không được hưởng quyền miễn trừ HCCT theo Điều 81(3) và như vậy có
thể kết luận: vượt xa sự cần thiết để bảo vệ bí quyết đã cung cấp
hoặc giữ gìn danh tiếng và khả năng nhận diện của mạng lưới, một số các
điều khoản nhất định hạn chế sự cạnh tranh giữa các thành viên của mạng
lưới. Điều đó đúng với các điều khoản chia sẻ thị trường giữa bên nhượng
quyền và bên nhận quyền hoặc giữa các bên nhận quyền hoặc ngăn chặn các
bên nhận quyền tham gia vào việc cạnh tranh giá với nhau8.
Do đó, điều khoản chia sẻ thị trường trong các hợp đồng của Pronuptia
đã tạo thành sự giới hạn cạnh tranh theo quy định của Điều 81(1). Tuy
nhiên, EJC cũng khuyến cáo rằng, không phải mọi sự hạn chế về địa lý
trong các thỏa thuận NQTM phân phối hàng hóa đều tương thích với Điều
81(1) mà phụ thuộc vào các điều khoản chứa trong đó và vào ngữ cảnh kinh
tế của chúng.
Các thỏa thuận phân phối và cung ứng độc quyền
Trong NQTM, đặc biệt là hình thức nhượng quyền phân
phối, bên nhận quyền chỉ được bán các sản phẩm gắn nhãn hiệu của bên
nhượng quyền tại cửa hiệu gắn tên thương mại hoặc biểu tượng của bên
nhượng quyền, do đó, bên nhận quyền phải tuyệt đối trung thành và tôn
trọng lợi ích của bên nhượng quyền. Trong hoạt động kinh doanh, bên nhận
quyền không được phép thực hiện các hành vi nhằm cố ý mang lại lợi ích
cho bên thứ ba hoặc đối thủ cạnh tranh của bên nhận quyền, và phải có
nghĩa vụ: chỉ được bán hàng hóa do bên nhượng quyền cung cấp hoặc bên
thứ ba do bên nhượng quyền chỉ định; hạn chế kinh doanh một loại hàng
hóa được chỉ rõ trừ khi hàng hóa đó được bên nhượng quyền cung cấp hoặc
bên thứ ba do bên nhượng quyền cho phép; cấm bên nhận quyền bán hàng hóa
không mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền9. Trong hợp đồng
NQTM Burger King (BKC) quy định, tất cả các món trên thực đơn mà BKC xem
là thích hợp để giành được lợi thế trọn vẹn trên thị trường tiềm năng
và đạt được sự chuẩn hóa trong Hệ thống Nhà hàng BKC sẽ được phục vụ, và
không có món nào mà không được nêu trong Sách hướng dẫn hay được cho
phép và chấp thuận bởi BKC bằng văn bản sẽ được phục vụ. Bên nhận quyền
sẽ chỉ được bán lẻ các món trên thực đơn đã được phê duyệt cho người
tiêu dùng từ và thông qua Nhà hàng NQTM, không được bán các món này để
phân phối lại hoặc bán lại và để bảo đảm sự độc quyền trong việc bán sản
phẩm, bên nhượng quyền đã ấn định bên nhận quyền phải mua tất cả nguyên
liệu, thực phẩm, bao bì, giấy gói từ bên nhượng quyền10. Để
đảm bảo rằng công chúng có thể mua được hàng hóa có cùng chất lượng từ
mỗi người nhận quyền, những thỏa thuận nhằm thiết lập sự kiểm soát này
có thể được xem là cần thiết để giữ gìn khả năng nhận diện và bảo vệ
danh tiếng của mạng lưới nhượng quyền, Pronuptia de Paris Gmbh đưa ra
điều khoản áp đặt bên nhận quyền phải mua từ bên nhượng quyền 80% số áo
cưới và các phụ kiện, cùng với một phần váy dạ hội và dự tiệc được đặt
bởi chính bên nhận quyền, và mua phần còn lại chỉ từ các nhà cung cấp
được phê duyệt bởi bên nhượng quyền. Trong án lệ Pronuptia, các bên
không tranh chấp về vấn đề này và thực chất đối tượng của hợp đồng
nhượng quyền này là phân phối độc quyền áo cưới và các phụ kiện, do đó,
tòa án cho rằng, trong trường hợp này không tạo thành những HCCT vì mục
đích của Điều 81(1). Mục đích của những thỏa thuận trong hợp đồng NQTM
là bên nhượng quyền hoặc nhà cung ứng được bên nhượng quyền chỉ định
đồng ý hạn chế và cấm các nhà phân phối khác (đối thủ của mình) bán hàng
hóa trong khu vực địa lý hoặc ít nhất là đối với bên nhận quyền của
mình. Do đó, các thỏa thuận phân phối và cung ứng độc quyền thường gây
ra những vấn đề nhất định đối với chính sách cạnh tranh, bởi chúng
thường xuyên ảnh hưởng đến cạnh tranh giữa các nhãn hàng (theo chiều
ngang). Trong cạnh tranh giữa các nhãn hiệu, những thỏa thuận này ngăn
cản nhà cung cấp chỉ định nhà phân phối khác trong khu vực địa lý đó,
hay nói cách khác, chỉ được bán hàng trực tiếp trong khu vực địa lý dành
riêng đó.
Các thỏa thuận mua bán cả gói
Thỏa thuận này thường được áp dụng trong hình thức
NQTM dịch vụ về lĩnh vực ăn uống, nhà hàng, khách sạn. Bên nhận quyền
khai thác dịch vụ có thể bị áp đặt các thỏa thuận độc quyền trong việc
cung ứng những thiết bị, hàng hóa đi kèm. Một ràng buộc bán kèm được
hiểu là một hành vi trong đó một nhà cung cấp hàng hóa, như một điều
kiện để cung cấp hàng hóa đó (hàng hóa “ràng buộc”), yêu cầu khách hàng
phải: (i) mua lại một hàng hóa khác từ nhà cung cấp hoặc người do nhà
cung cấp chỉ định; hoặc (ii) hạn chế sử dụng hoặc phân phối, cùng với
hàng hóa ràng buộc, một hàng hóa khác không thuộc nhãn hiệu do nhà cung
cấp hoặc người được nhà cung cấp chỉ định nêu rõ, và một hành vi trong
đó nhà cung cấp hàng hóa lôi kéo khách hàng đáp ứng một yêu cầu đặt ra
trong (i) hoặc (ii) bằng cách đề nghị cung cấp hàng hóa đó cho khách
hàng đó với những điều kiện hay điều khoản ưu đãi hơn nếu khách hàng đó
đồng ý đáp ứng một trong những điều kiện trên11. Hay nói cách
khác, khi bên bán sẽ bán một sản phẩm chính với điều kiện bên mua đồng ý
mua một sản phẩm khác hoặc/và phải mua sản phẩm được bán kèm từ một
doanh nghiệp khác do bên nhượng quyền chỉ định hoặc ít nhất đồng ý không
mua sản phẩm được bán kèm từ một doanh nghiệp khác. Ví dụ, hệ thống nhà
hàng Burger King quy định: “Tất cả thực phẩm, đồ uống và các món khác
sẽ được phục vụ và bán trong bao bì đáp ứng các quy cách của BKC. Chỉ có
thực phẩm, nguồn cung ứng, các sản phẩm giấy và bao bì từ các nguồn đã
được phê duyệt bởi BKC sẽ được sử dụng tại Nhà hàng NQTM”12.
Theo pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ, Điều 1 đạo luật Sherman, một thỏa
thuận ràng buộc bán kèm vi phạm luật cạnh tranh nếu người bán có năng
lực thị trường mạnh trên thị trường sản phẩm chính và nếu thỏa thuận
ràng buộc đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại trên thị trường sản
phẩm được bán kèm13. Và việc chứng minh một thỏa thuận bán
kèm HCCT, phải thỏa mãn các điều kiện: (i) sản phẩm chính và sản phẩm
được bán kèm là hai sản phẩm riêng biệt; (ii) bên bán đã thực sự ép buộc
bên mua. Trong án lệ Siegel v Chicken Delight, Inc14, chuỗi
nhà hàng bán thức ăn nhanh Chicken Delight quy định bên nhận quyền phải
mua các bếp nấu hoặc chảo rán, sản phẩm bao bì, và các hỗn
hợp thực phẩm và những vật liệu đi kèm khác từ bên nhượng quyền với
giá cao hơn giá các sản phẩm cùng loại do nhà cung cấp khác bán ra. Dấu
hiệu phân biệt sự bán kèm đó là việc cấm các đối thủ cạnh tranh tiếp cận
thị trường sản phẩm bị ràng buộc, không phải vì bên áp đặt thỏa thuận
có một sản phẩm siêu hạng trong thị trường đó, mà vì quyền lực hoặc ảnh
hưởng được áp dụng bởi sản phẩm ràng buộc. Các nguyên tắc điều chỉnh
thỏa thuận ràng buộc được thiết kế để nhắm vào, không chỉ là sự kết hợp
của các đồ vật có thể chia tách về mặt vật chất, mà còn vào việc sử dụng
một sản phẩm mong muốn chi phối để bắt ép mua một mặt hàng riêng biệt
thứ hai. Trong thực tế, việc bị ép buộc mua một sản phẩm bị ràng buộc
thứ hai là một điều kiện để được áp dụng cho việc mua một sản phẩm ràng
buộc chi phối. Bằng việc ngăn cản các đối thủ cạnh tranh xâm nhập thị
trường sản phẩm bị ràng buộc, các thỏa thuận ràng buộc hầu như không thể
sử dụng cho bất kỳ mục đích nào không phải là sự triệt tiêu cạnh tranh15.
Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận bán kèm đều vi
phạm pháp luật cạnh tranh. Một số trường hợp khác như án lệ Kentucky
Fried Chicken v Diversified Packing16, các bên thỏa thuận bên
nhận quyền phải mua các thiết bị và nguyên liệu từ bên nhượng quyền
hoặc từ nhà cung cấp khác nếu đảm bảo chất lượng và được bên nhượng
quyền đồng ý. Tòa án phúc thẩm liên bang Mỹ cho rằng, thỏa thuận này
không vi phạm pháp luật cạnh tranh. Do đó, một thỏa thuận bán hàng có
ràng buộc bán kèm được coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh phải được xem
xét trong ngữ cảnh chung “người bán có năng lực thị trường mạnh trên
thị trường sản phẩm chính và nếu thỏa thuận ràng buộc đó ảnh hưởng lớn
đến hoạt động thương mại trên thị trường sản phẩm được bán kèm” và nội
dung thỏa thuận cụ thể của hợp đồng.
Thỏa thuận giá bán lại
Việc thỏa thuận áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ nhằm
ấn định một mức giá trần hoặc mức giá sàn hoặc một mức giá đề nghị
không mang tính chất ràng buộc hoặc bất kỳ mức giá đề nghị nào được
quảng cáo bởi bên nhượng quyền. Theo đó, bên nhận quyền có nghĩa vụ
không bán hàng hóa dưới mức giá bán lẻ tối thiểu, là mức giá sàn được
thỏa thuận để giá không thể xuống thấp hơn, hay mức giá bán lại tối đa,
là mức giá trần được thỏa thuận để giá bán không được cao hơn hoặc chỉ
bán hàng hóa theo mức giá đã ấn định17. Trong hợp đồng của
Pronuptia de Paris GmbH, giá cả được đề nghị bởi bên nhượng quyền về giá
bán lẻ, mà không phương hại đến quyền quy định giá bán riêng của bên
nhận quyền18, nhưng rất khó có thể đưa ra một giá thấp hơn
giá mà bên nhượng quyền khuyến nghị vì chi phí đầu vào đã quá cao do
những điều kiện ràng buộc khác được quy định bởi bên nhượng quyền. Trong
nhiều trường hợp, bên nhượng quyền không ấn định giá bán trong hợp đồng
mà chỉ đưa ra đề nghị giá bán lẻ, về mặt hình thức thì thỏa thuận này
nhằm tạo quyền tự chủ cho bên nhận quyền, không HCCT nhưng thực tế thì
khó có bên nhận quyền nào có thể đưa ra mức giá cao hơn hoặc thấp hơn.
Ví dụ một số hệ thống NQTM tại Việt Nam hiện nay như Highland Coffee,
KFC…, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy giá bán lẻ tại các cửa hàng nhận
quyền cùng một hệ thống nhượng quyền này hầu như không khác nhau, và
như vậy trong trường hợp này, có thể gọi đây là các thỏa thuận ngầm giữa
các bên được thể hiện thông qua hành vi thông đồng về giá. Trước đây,
trong chuỗi cửa hàng phở 24 tại Việt Nam công khai ấn định giá của cả hệ
thống là 24 ngàn đồng một tô phở, đến nay, tuy không công khai nhưng
tất cả các cửa hàng đều bán theo giá đồng nhất tùy theo mỗi thời điểm
khác nhau.
Do đó, những thỏa thuận nhằm duy trì giá bán lại có
thể dẫn đến những hệ quả phản cạnh tranh, nếu duy trì mức giá bán lại
tối đa có thể có lợi cho công chúng và thường được miễn trừ trong luật
cạnh tranh của các nước, nhưng thỏa thuận đó trên thực tế có thể khiến
các công ty nhỏ, không có lợi thế về kinh tế bị loại khỏi thị trường,
bởi họ muốn đưa ra mức giá cao hơn mức giá trần đã được qui định để
tránh lỗ. Đối với hệ thống NQTM, việc duy trì giá bán lại ở mức tối đa
sẽ dẫn tới hình thành mức giá phổ biến trên thị trường và như vậy sẽ
loại bỏ cạnh tranh về giá. Mặt khác, nếu duy trì giá bán lại tối thiểu
sẽ dẫn đến hạn chế mức độ cạnh tranh giữa các bên nhận quyền về giá,
thỏa thuận này làm thui chột sự sáng tạo linh hoạt (hạn chế sự cạnh
tranh) trong hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền và làm gia tăng khả
năng thông đồng về giá.
Kiểm soát số lượng đầu vào, đầu ra của sản phẩm
Đối với hình thức NQTM sản xuất, bên nhượng quyền cho
phép bên nhận quyền sản xuất và bán các sản phẩm gắn nhãn hiệu của bên
nhượng quyền, theo sự chỉ đạo của bên nhượng quyền. Theo đó, bên nhận
quyền là các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất đầu ra bị cấm không được
mua bán với các doanh nghiệp hay những nhà phân phối cạnh tranh với
doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất đầu vào, ví dụ sản xuất thuốc, nước
ngọt…. Để thu lợi nhuận tối đa, thực hiện chiến lược kinh doanh, bên
nhượng quyền thường đưa ra những điều khoản trong hợp đồng để kiểm soát,
hạn chế số lượng hàng hóa phân phối ra thị trường nhằm đạt những lợi
ích nhất định, như tạo sự khan hiếm giả, nâng giá nhằm thao túng thị
trường.
Ngoài những thỏa thuận có khả năng tạo ra HCCT như đã
phân tích trên, vì lý do đảm bảo cho chuẩn mực và tính đồng bộ của hệ
thống nhượng quyền, cũng như những lợi ích của bên nhượng quyền, các hợp
đồng NQTM còn tiềm ẩn những thỏa thuận HCCT như: đảm bảo sự quảng cáo
độc quyền của bên nhượng quyền; cấm bên nhận quyền được cạnh tranh với
các bên nhượng quyền khác trong cùng một hệ thống19. Ngay cả
những đề xuất từ bên nhận quyền để cải thiện các yếu tố của Hệ thống
nhượng quyền về các sản phẩm, thiết bị, đồng phục, cơ sở vật chất, hình
thức, dịch vụ và quảng cáo… được khuyến khích nhưng có thể được hoặc
không được xem xét bởi bên nhượng quyền. Bên nhận quyền phải công nhận
rằng bất kỳ đề xuất nào do bên nhận quyền đưa ra theo Hợp đồng sẽ thuộc
quyền sở hữu độc quyền của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền không có
nghĩa vụ phải sử dụng những đề xuất và không có nghĩa vụ chi trả khoản
đền bù cho bất kỳ đề xuất nào. Bên nhận quyền không được phép sử dụng
bất kỳ đề xuất nào trong hoạt động kinh doanh của mình mà không có sự
đồng ý trước bằng văn bản của bên nhượng quyền20. Do đó, còn
rất nhiều những thỏa thuận có thể dẫn đến HCCT cần phải được làm rõ hơn
để có biện pháp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp
đồng NQTM cũng như lợi ích công cộng khác.
Chú thích:
(1) ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH v Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986,[1986]ECR 353. đoạn 33.
(2) www.burgerkingfranchiser.com
(3) www. yumfranchises.com
(4) Treaty establishing a European Economic Community (EEC) (1957), Article 177.
(5) ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH v Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986,[1986]ECR 353
(6) Pronuptia de Paris gmbh, Frankfurt am Main
tại Cộng hòa Liên bang Đức là công ty con của Pronuptia de Paris mẹ có
trụ sở tại Pháp, có quyền ký hợp đồng nhượng quyền thương mại dưới tên
thương hiệu của công ty mẹ “Pronuptia de Paris”.
(7) Do bên nhận quyền đã không trả phí sử dụng
nhãn hiệu, nên bên nhượng quyền đã khởi kiện bên nhận quyền. Bản án sơ
thẩm đã tuyên đối với bên nhận quyền số tiền là 158.502 của các khoản nợ
phí sử dụng nhãn hiệu tính trên doanh số của bên nhận quyền trong các
năm 1978 đến 1980; bên nhận quyền đã kháng cáo lên Tòa phúc thẩm.
(8) ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH v Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986,[1986]ECR 353, đoạn 23; 24; 26
(9) Hằng Nga, Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2009, tr. 57.
(10) www.burgerkingfranchiser.com
(11) Luật Cạnh tranh Canađa.
(12) www.burgerkingfranchiser.com
(13) Eastman Kodak v Image Technical Services,
504 U.S. 451, 461-462 (1992); Northern Pacific Railway Company v US, 356
U.S. 1, 5-6 (1958); Forter Enterprises, Inc v. US Steel Corp., 394 U.S.
495, 503 (1969).
(14) Siegel v Chicken Delight, Inc., 448 F.2d 43 (9th Cir. 1971), cert. denied 405 U.S. 955 (1972).
(15) Standard Oil Co. v. United States, 337 U.S. 293, 305-306, 69 S.Ct. 1051, 93 L.Ed. 1371 (1949)
(16) Kentuckey Fried Chicken v Diversified Packing, 549 F.2d 368, 375-378 (5th Cir. 1977).
(17) Xem Nguyễn Thị Thanh Huyền, Luận văn thạc sỹ
luật học “Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh Việt Nam và Liên minh châu
Âu”, trường Đại học Luật TP. HCM, 2009.
(18) ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH v Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986,[1986]ECR 353, đoạn 6(d); 25.
(19) ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH v Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986,[1986]ECR 353, đoạn 6.
(20)www.burgerkingfranchiser.com
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN – Đại học Quốc gia TPHCM
Trích dẫn từ:
http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/cac-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-trong-hop-111ong-nhuong-quyen-thuong-mai