Cải cách cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Đề cập đến một nội dung cơ bản nhưng còn ít được quan tâm hiện nay là cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, tác giả đã nêu một số định hướng và giải pháp cải cách cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó, đầu tiên là phải có tư duy tổng thể để đề ra giải pháp sắp xếp lại cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Sự cải cách phải vừa đảm bảo sự
thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung, vừa tăng cường tính hiệu quả trong
việc thực hiện lĩnh vực pháp luật này nói riêng.
1.
Cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành
Cấu
trúc của hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) thể hiện ở
những nội dung sau: những loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nào quy định
về XPVPHC; VBQPPL nào có hiệu lực pháp lý cao nhất; VBQPPL nào quy định về vi
phạm hành chính cụ thể; mối quan hệ giữa các loại VBhttp://sunlaw.com.vn/website/home-page.aspxQPPL này như thế nào?
Hiện
nay, các quy phạm pháp luật về XPVPHC được thể hiện không tập trung mà rải rác
ở nhiều văn bản: luật của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH, nghị định, nghị quyết
của Chính phủ, thông tư, quyết định của bộ và cơ quan ngang bộ.
1.1.
Về luật của Quốc hội, pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
VBQPPL
quan trọng nhất về XPVPHC không phải là luật mà ở hình thức pháp lệnh (1). Hiện
nay Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 là văn bản quy định những vấn
đề cơ bản nhất có tính nguyên tắc, tạo khung pháp lý cho hệ thống pháp luật về
XPVPHC, đồng thời quy định cả vấn đề XPVPHC và các biện pháp hành chính khác.
Tuy
pháp luật về XPVPHC là lĩnh vực pháp luật cơ bản và quan trọng khi quy định về
trách nhiệm hành chính, nhưng VBQPPL quan trọng nhất của hệ thống pháp luật này
mới chỉ ở dạng pháp lệnh. Điều này không chỉ bất hợp lý mà còn bất hợp hiến
(Hiến pháp năm 1992 nêu rõ quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật
quy định, trong khi đó, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh XLVPHC)
lại quy định những vấn đề liên quan trực tiếp về quyền và nghĩa vụ của công
dân).
Ngoài
ra, Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 có tính “khung” quá cao. Nhiều vấn đề quan trọng
được ủy quyền quy định toàn bộ hoặc một phần cho Chính phủ (hành vi vi phạm
hành chính, hình thức xử phạt, thủ tục xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, tình
tiết giảm nhẹ, thủ tục trục xuất, biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính (VPHC)
hoặc đảm bảo XPVPHC, biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định XPVPHC…). Tình
trạng này khiến Pháp lệnh chậm đi vào cuộc sống và tạo cơ hội nảy sinh sự tùy
tiện của các cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh.
Một vấn
đề nữa là nội dung của Pháp lệnh còn thiếu vắng nhiều vấn đề quan trọng, cơ bản
về XPVPHC, nhiều vấn đề được quy định nửa vời, chưa toàn diện, triệt để.
Một số
luật hay pháp lệnh khác (số lượng không nhiều, hiện nay có khoảng hơn 10 văn
bản (2)) cũng có quy định về XPVPHC, nhưng vấn đề XPVPHC chỉ là một phần của
nội dung văn bản. Việc quy định theo cách thức như vậy cũng đáng lưu tâm vì
trong cùng một văn bản quy định về một lĩnh vực thì đồng thời cũng quy định về
vấn đề XPVPHC trong lĩnh vực đó. Có thể lý giải cách làm này nhằm đảm bảo thuận
tiện cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật tức là khi xây dựng một luật về một
vấn đề thì kèm theo cả các chế tài hành chính đối với các vi phạm hành chính
(VPHC). Tuy nhiên, một số luật, pháp lệnh chuyên ngành được ban hành trước hoặc
thậm chí sau Pháp lệnh XLVPHC quy định cả việc XPVPHC trong lĩnh vực đó như
nguyên tắc xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong xử phạt, thẩm quyền xử
phạt, các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, các hành vi vi
phạm bị XPVPHC (3) … có những nội dung trái với Pháp lệnh XLVPHC. Theo nguyên
tắc áp dụng pháp luật được quy định tại Điều 83 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008
và theo Điều 123 Pháp lệnh XLVPHC hiện hành thì quy định của luật sẽ được ưu
tiên áp dụng. Tình trạng này diễn ra ngày càng phổ biến dẫn đến tính thống
nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về XPVPHC bị phá vỡ nghiêm trọng. Trong
khi đó, hệ thống pháp luật quy định về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự
đã hoàn thiện hơn rất nhiều: cả hai đều đã có các bộ luật về nội dung và thủ
tục áp dụng các loại trách nhiệm này (4).
1.2.
Về nghị định của Chính phủ, thông tư, quyết định của bộ, cơ quan ngang bộ
Các
nghị định của Chính phủ hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh XLVPHC
có hai loại: loại hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành một số vấn đề của Pháp
lệnh; và loại quy định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước (5). Các
văn bản này được xây dựng sau Pháp lệnh, nhưng ở những thời điểm khác nhau và
cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, thay thế (6).
Các
nghị định của Chính phủ quy định về các hành vi VPHC cụ thể trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống pháp luật về XPVPHC.
Tuy nhiên tình trạng nghị định vi hiến, trái VBQPPL của cơ quan cấp trên, tình
trạng các nghị định mâu thuẫn, chồng chéo nhau đang tồn tại phổ biến, nên vô
hình trung đã vừa vi phạm nguyên tắc pháp chế, vừa xâm phạm quyền con người,
đồng thời cũng tạo nên sự không đồng bộ trong hệ thống pháp luật về XPVPHC,
khiến pháp luật khó áp dụng, thiếu khả thi và tạo cơ hội cho sự tùy tiện, tham
nhũng.
Về
thông tư, quyết định của các bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn, quy định chi tiết
thi hành Pháp lệnh XLVPHC, nghị định về XPVPHC hiện nay có khoảng hơn 100 văn
bản.
2.
Định hướng và giải pháp cải cách cấu trúc pháp luật về XPVPHC
2.1.
Định hướng
Trong
bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng, cần thiết phải pháp điển hóa pháp luật
về XPVPHC với một cấu trúc pháp luật mới hợp hiến, hợp pháp, hợp lý hơn theo
định hướng sau:
- Hệ
thống pháp luật về XPVPHC do có phạm vi điều chỉnh rộng ở nhiều lĩnh vực có đặc
thù khác nhau nên sẽ hợp lý hơn cả khi vẫn bao gồm nhiều loại VBQPPL hợp thành.
- Văn
bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là một luật quy định những vấn đề cơ bản nhất
về XPVPHC một cách hợp lý.
- Các
vi phạm hành chính và các biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể được quy định
chủ yếu trong các luật chuyên ngành nhằm đảm bảo chế tài đi kèm đạo luật.
- Vai
trò chủ yếu của các văn bản pháp quy là hướng dẫn thi hành luật quy định về
XPVPHC. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy có thể được quy định về VPHC và các
biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể nhưng sẽ bị hạn chế và kiểm soát chặt
chẽ.
Hộp
|
Luật XPVPHC sẽ
quy định những vấn đề chung nhất về XPVPHC như:
+ Nhiệm vụ của
Luật;
+ Các khái niệm
cơ bản: vi phạm hành chính; xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp khắc
phục hậu quả;
+ Thẩm quyền quy
định về vi phạm hành chính, các hình thức XPVPHC, các biện pháp khắc phục hậu
quả, thủ tục XPVPHC trong từng lĩnh vực.
+ Đối tượng bị xử
phạt VPHC;
+ Nguyên tắc xử
phạt VPHC;
+ Các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ việc XPVPHC;
+ Thời hiệu
XPVPHC;
+ Các hình thức
XPVPHC;
+ Các biện pháp
khắc phục hậu quả;
+ Các biện pháp
ngăn chặn VPHC và đảm bảo XPVPHC;
+ Thẩm quyền
XPVPHC, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả;
+ Thủ tục chung
XPVPHC và thi hành quyết định XPVPHC;
+ Các biện pháp
và thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định XPVPHC.
|
2.2.
Giải pháp
2.2.1.
Xây dựng Luật Xử phạt vi phạm hành chính
Tại một
số quốc gia (Nga, Kazakhstan,
Belarus, Trung Quốc, Đức),
cơ quan lập pháp ban hành một đạo luật, pháp lệnh riêng về xử phạt /xử lý VPHC
nói chung (tương tự như ở Việt Nam
hiện nay). Trong đó, chia thành hai xu hướng khác nhau: một số nước ban hành Bộ
luật XPVPHC, trong đó quy định cả hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực cụ thể,
hình thức xử phạt, thẩm quyền và thủ tục xử phạt, nguyên tắc xử phạt như Nga,
Kazakhstan, Belarus; có nước chỉ ban hành đạo luật quy định các vấn đề chung,
cơ bản liên quan đến nguyên tắc, hình thức, thẩm quyền, thủ tục xử phạt mà
không quy định cụ thể về hành vi vi phạm thành một phần riêng của Luật XPVPHC
như Trung Quốc, Đức.
Đối với
nước ta, vấn đề cấp thiết là cần xây dựng Luật XPVPHC trong đó không quy định
các biện pháp xử lý hành chính khác. Bộ luật XPVPHC năm 2001 của Nga và Luật
XPVPHC năm 1996 của Trung Quốc đều không quy định vấn đề tương tự như biện pháp
xử lý hành chính khác của Việt Nam. Các biện pháp hành chính khác (hay còn gọi
là các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt) về cơ bản không phải là biện
pháp xử lý vi phạm hành chính mà có bản chất rất khác nhau, đa phần trong số đó
là các biện pháp tư pháp hình sự. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã có một số
biện pháp tương tự. Bởi đối tượng áp dụng các biện pháp này không chủ yếu là
đối tượng VPHC. Việc Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và Pháp lệnh hiện hành quy định
các biện pháp hành chính khác là gượng ép và bất hợp lý.
Luật
XPVPHC cần tránh mang tính “khung” quá lớn như các Pháp lệnh trước đây. Tuy
nhiên, Luật cũng không nên quá chi tiết. Cần kết hợp hài hòa giữa việc ban hành
luật chi tiết với việc ban hành luật khung. Luật khung chỉ được ban hành khi có
sự cần thiết khách quan. Những điều kiện để xác định sự cần thiết phải ban hành
luật khung: (i) Dự luật động chạm đến một vấn đề có nội dung phức tạp; (ii) Dự
luật có nhiều đối tượng và nhiều hành vi bị điều chỉnh; (iii) Dự luật được áp
dụng với những điều kiện khác nhau rất lớn của các vùng miền; (iv) Sự thay đổi
diễn ra nhanh chóng (7). Đối chiếu với những điều kiện đó, Luật XPVPHC nên mang
tính chất khung, tất nhiên ở mức độ hợp lý. Nếu cần thiết phải ban hành luật
khung thì cần áp đặt một quy trình chặt chẽ và các tiêu chuẩn rõ ràng cho việc
ban hành các văn bản dưới luật và các quyết định hành chính. Làm được như vậy
sẽ vừa phát huy được tính năng động, sáng tạo tích cực vừa phòng tránh sự tuỳ
tiện, lạm quyền.
2.2.2.
Các vi phạm hành chính cũng như các biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể
không quy định trong Luật XPVPHC mà ở chủ yếu ở các luật, pháp lệnh chuyên
ngành và một phần nhỏ ở các nghị định của Chính phủ và nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh.

Đây là
vấn đề quan trọng và gây khá nhiều tranh cãi với các quan điểm khác nhau.
Quan
điểm 1: Những người đề nghị theo cách làm truyền thống, tức là các VPHC và các
biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể không thể được quy định ở Luật XPVPHC
vì số lượng hành vi quá nhiều, thường xuyên thay đổi, do đó vẫn cần các nghị
định quy định về XPVPHC trong từng lĩnh vực.
Quan
điểm 2: Những người ủng hộ quan điểm 1 và đề nghị cần cho phép Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh có quyền quy định VPHC và các biện pháp trách nhiệm hành chính phù
hợp với địa phương (giống như Pháp lệnh XPVPHC năm 1989);
Quan
điểm 3: Những người đề nghị tiếp thu mô hình của Nga, tức là ban hành Bộ luật
XPVPHC trong đó quy định mọi vấn đề về XPVPHC bao gồm cả các VPHC và các biện
pháp trách nhiệm hành chính cụ thể.
Chúng
tôi thấy rằng, cả ba quan điểm trên đều có những điểm hợp lý và chưa hợp lý, có
thể kết hợp thành một phương án khả dĩ nhất như sau:
Thứ
nhất, vi phạm hành chính cũng như biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể không
nên được quy định trong Luật XPVPHC mà ở chủ yếu ở luật, pháp lệnh chuyên
ngành.
Theo tư
duy pháp lý cũng như lý thuyết lập pháp phổ biến trên thế giới, các đạo luật
cần giải quyết triệt để những vấn đề thuộc đối tượng điều chỉnh của nó. Tức là
đạo luật cần chứa đựng các quy phạm có đầy đủ ba yếu tố cấu thành là giả định,
quy định và chế tài. ở nhiều nước, đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên biệt
của đời sống kinh tế, xã hội có quy định khá chi tiết các biện pháp chế tài dân
sự, hành chính, thậm chí cả hình sự (8). Nước ta cũng đã có một số đạo luật
chuyên ngành quy định các chế tài hành chính - tuy mới chỉ là ngoại lệ (9).
Từ
trước đến nay ở nước ta, các luật, pháp lệnh chuyên ngành thường không quy định
chế tài áp dụng đối với các vi phạm (10). Đây là một thông lệ trong quá trình
xây dựng pháp luật. Thông lệ ấy chi phối không chỉ công tác xây dựng, áp dụng
pháp luật mà cả công tác nghiên cứu, tìm hiểu, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật. Có thể nói, việc các biện pháp chế tài chỉ được tập trung quy định
vào một số đạo luật như đã kể trên có những ích lợi nhất định là phòng ngừa sự
lạm dụng trong việc quy định các biện pháp chế tài và đơn giản hoá công tác xây
dựng pháp luật. Tuy nhiên, cách xây dựng các đạo luật như vậy cũng có nhiều
điểm bất lợi. Thứ nhất là sự thiếu kịp thời trong cơ chế điều chỉnh pháp luật.
Thứ hai là không cho phép các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên biệt của
đời sống xã hội được quyền quy định các biện pháp chế tài có tính chất đặc thù,
tương xứng với những đặc điểm riêng có của lĩnh vực mà đạo luật đó điều chỉnh.
Thứ ba là gây khó khăn cho công tác tìm hiểu pháp luật của người dân, doanh
nghiệp và các tổ chức khác (11).
Các
luật, pháp lệnh chuyên ngành quy định các vi phạm hành chính cũng như các biện
pháp trách nhiệm hành chính cụ thể vừa là sự tiếp thu những kinh nghiệm hay của
thế giới vừa đảm bảo nguyên tắc vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính do
luật quy định. Cách thức làm luật này phổ biến trên thế giới nhưng đang khá xa
lạ ở Việt Nam.
Cần có một tư duy lập pháp mới và đòi hỏi việc cải cách pháp luật về XPVPHC
cũng đồng thời cải cách những lĩnh vực pháp luật khác. Và như vậy, cần xác định
lại mối quan hệ giữa Luật XPVPHC và các luật, pháp lệnh chuyên ngành quy định
về XPVPHC.
Các
luật chuyên ngành (ví dụ Luật Hải quan, Luật Cạnh tranh, Luật Giao thông đường
bộ, Luật Giáo dục) quy định chuyên sâu về các lĩnh vực quản lý nhà nước đó.
Nhưng trong lĩnh vực XPVPHC, Luật XPVPHC là luật chuyên ngành có giá trị pháp
lý cao nhất. Vì vậy, các luật chuyên ngành về một lĩnh vực quản lý nhà nước quy
định về XPVPHC dù ban hành trước hay sau Luật XPVPHC cũng không được trái với
Luật XPVPHC và nếu trái thì ưu tiên áp dụng Luật XPVPHC. Đó là giải pháp để
giải quyết các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật quốc gia. Vấn đề này
cần được quy định rõ ràng, đầy đủ trong Luật Ban hành CBQPPL. Tuy nhiên, cách
thức giải quyết của Luật Ban hành CBQPPL năm 2008 đã tỏ ra không hợp lý khi quy
định tại Điều 83 về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật: “Trong trường hợp các
văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác
nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau”.
Theo tinh thần điều luật này thì nếu một luật chuyên ngành ban hành sau Luật
XPVPHC có quy định về XPVPHC trong một lĩnh vực cụ thể trái với Luật XPVPHC thì
sẽ áp dụng luật chuyên ngành đó. Điều này là bất hợp lý và phải sửa đổi.
Luật
XPVPHC sẽ quy định một khuôn khổ pháp lý về XPVPHC và dựa trên cơ sở đó, các
luật chuyên ngành quy định những VPHC và các biện pháp trách nhiệm hành chính
cụ thể. Vấn đề cần phải giải quyết là phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý hợp lý,
không quá rộng cũng không quá chật. Luật XPVPHC cần chia nhỏ các lĩnh vực quản
lý nhà nước và xếp theo những nhóm tương đồng, mỗi nhóm được áp dụng các biện
pháp trách nhiệm hành chính nào và trong định khung tối thiểu và tối đa. Thực
tế đã cho thấy, mỗi lĩnh vực quản lý nhà nước đều có đặc thù riêng và cần có
cách xử lý riêng. Pháp lệnh XLVPHC hiện hành mới chỉ quy định mức phạt tiền tối
đa đối với nhóm lĩnh vực quản lý nhà nước và việc chia nhóm vẫn chưa cụ thể.
Thứ
hai, VPHC cũng như biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể còn được quy định ở
nghị định của Chính phủ.
Khi ban
hành Luật XPVPHC, có thể có một số lượng khá lớn các luật, pháp lệnh chuyên
ngành chưa thể đồng thời thay đổi được. Điều này đòi hỏi phải có giải pháp hợp
lý trong giai đoạn mới ban hành Luật XPVPHC như sau:
- Trong
một thời gian ngắn vẫn áp dụng những điều khoản của các nghị định về XPVPHC
trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đã ban hành theo Pháp lệnh XLVPHC năm 2002
mà không trái với Luật XPVPHC.
- Đối
với những luật, pháp lệnh chuyên ngành sẽ được sửa đổi, bổ sung ngay sau khi
ban hành Luật XPVPHC thì phải xây dựng các quy định về XPVPHC trong lĩnh vực đó
theo đúng tinh thần của Luật XPVPHC.
- Đối
với những luật, pháp lệnh chuyên ngành chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay sau khi
ban hành Luật XPVPHC, có thể cho phép Chính phủ ban hành nghị định quy định về
XPVPHC trong lĩnh vực đó theo đúng tinh thần của Luật XPVPHC.
Như
vậy, trong một chừng mực nào đó, chúng ta vẫn cho phép nghị định quy định về
XPVPHC. Hiện nay, nhiều quan điểm phản đối việc quy định các VPHC và biện pháp
trách nhiệm hành chính cụ thể trong nghị định. Họ nêu ra lý do: XPVPHC ảnh
hưởng đến quyền của công dân trong khi Hiến pháp Điều 51 quy định “Quyền và
nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” nên vấn đề XPVPHC phải
được quy định bởi luật. Điều này cần có sự suy xét thấu đáo hơn. Điểm mấu chốt
ở đây là cần phải giải thích điều khoản trong Hiến pháp “Quyền và nghĩa vụ của công
dân do Hiến pháp và luật quy định” là như thế nào. Cho đến nay, vẫn chưa có một
sự giải thích một cách chính thức. Nhiều người hiểu là: chỉ có Hiến pháp và
luật mới được quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Chúng tôi cho rằng
cách hiểu đó không đúng. Thứ nhất, khi xây dựng Hiến pháp năm 1992 (việc sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980 thành Hiến pháp năm 1992 được tiến hành từ năm
1988 đến 1992), thời gian này, các nước phương Tây dồn dập quy kết Việt Nam (cả
Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam á) vi phạm nhân quyền. Để phủ nhận ý
kiến đó và khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các công ước quốc tế về quyền con
người đã gia nhập, nên Quốc hội đã định chế “Quyền và nghĩa vụ của công dân do
Hiến pháp và luật quy định” vào Hiến pháp. Do vậy, việc định chế này tại thời
điểm năm 1992 dường như nhằm mục đích chính trị đó hơn là đảm bảo tính khả thi.
Nói cách khác, trong thời gian này chúng ta chưa thực sự sẵn sàng cho việc tổ
chức thực hiện (12). Và “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy
định” không có nghĩa là chỉ có Hiến pháp và luật mới được quy định về quyền và
nghĩa vụ của công dân. Hai là, theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, liên quan
đến quyền và nghĩa vụ của công dân, luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ
bản thuộc quyền và nghĩa vụ của công dân và Nghị định của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành luật và quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện quyền,
nghĩa vụ của công dân (13). Điều đó có nghĩa là luật của Quốc hội và nghị định
của Chính phủ đều có thể quy định những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ
công dân ở những phương thức, mức độ khác nhau (14). Ba là, từ lý thuyết về
quyền lập quy của Chính phủ (15) có thể kết luận rằng, việc Chính phủ ban hành
nghị định quy định về XPVPHC trên cơ sở để thi hành Luật XPVPHC là hợp pháp.
Thực tế cho thấy, hầu hết các nghị định của Chính phủ, thậm chí các văn bản cấp
dưới nữa đều ít nhiều quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhưng việc
quy định đó không phải là quy định một quyền hay nghĩa vụ mới mà là quy định
chi tiết một quyền, nghĩa vụ đã được Hiến pháp và luật quy định. Thực ra, hiện
nay nhiều ý kiến phê phán việc Chính phủ ban hành nghị định quy định về XPVPHC
trên cơ sở để thi hành Pháp lệnh XLVPHC chủ yếu ở tính bất hợp lý của nó (mâu
thuẫn luật, pháp lệnh, chồng chéo, cục bộ...). Như vậy, việc hạn chế dần các
nghị định quy định về VPHC và biện pháp trách nhiệm hành chính không phải bởi
tính bất hợp pháp mà ở tính bất hợp lý (như đã nói ở trên, hợp lý nhất là VPHC
và biện pháp trách nhiệm hành chính được quy định ở các luật chuyên ngành). Nếu
có cơ chế tốt, chúng ta vẫn có thể có những nghị định tốt (16).
Thứ ba,
các VPHC cũng như các biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể trong những lĩnh
vực có tính đặc thù địa phương cao có thể được quy định ở các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh.
Việc
cho phép chính quyền địa phương quy định về VPHC cũng là vấn đề gây nhiều tranh
cãi. Nhiều quan điểm không đồng ý vì cho rằng các địa phương sẽ quy định tùy
tiện. Điều này cũng có cơ sở vì thời gian Pháp lệnh XPVPHC năm 1989 có hiệu lực
(cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định về XPVPHC), tình trạng tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương ban hành những VBQPPL về XPVPHC trái với Pháp
lệnh xảy ra khá phổ biến. Khi Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và 2002 không cho phép
chính quyền địa phương quy định về XPVPHC, nhưng thực tế vẫn xảy ra tình trạng
“xé rào” (17).
Tất
nhiên, tình trạng này xảy ra ở chính quyền cấp tỉnh là trái pháp luật nhưng cần
tìm hiểu nguyên nhân thực sự của hiện tượng này để đưa ra giải pháp đúng đắn.
Chúng ta thấy rằng, nhu cầu ban hành văn bản về XPVPHC ở mỗi địa phương là có
thật và chính đáng do có một số lĩnh vực có tính đặc thù cao. Chẳng hạn như ở
các đô thị lớn có lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, vệ sinh, an toàn thực
phẩm, dịch tễ, xây dựng, môi trường. Để phù hợp với tình hình địa phương, việc
XPVPHC trong những lĩnh vực đó thường phải nghiêm khắc hơn so với các vùng khác
thì mới đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Do đó, việc thiết kế một cơ chế hợp
lý để cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định về XPVPHC là điều cần phải
đặt ra. Việc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được phép quy định về XPVPHC mang tính
chất đặc thù nhưng vẫn trong phạm vi Luật XPVPHC cho phép là không trái với
Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 (18). Như
vậy, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được phép quy định về XPVPHC mang tính chất đặc
thù là hợp pháp và hợp lý nhưng đòi hỏi một sự kiểm soát chặt chẽ. Luật XPVPHC
cần xác định rõ những lĩnh vực có tính đặc thù địa phương và những điều kiện
cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định về XPVPHC.
(1) Được duy trì từ năm 1989 cho đến
nay.
(2) Luật Cạnh tranh 2004, Luật Bảo vệ
môi trường năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006, Luật Quản lý thuế năm 2006.
(3) Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định
thẩm quyền XPVPHC của Hội đồng Cạnh tranh; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Quản
lý thuế năm 2006 cũng có quy định về XPVPHC không thống nhất với tinh thần của
Pháp lệnh XLVPHC năm 2002.
(4) Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004.
(5) Đây là loại có số lượng văn bản
lớn nhất tạo nên sự đồ sộ của hệ thống pháp luật về XPVPHC với việc quy định
hàng chục nghìn vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt và biện pháp khắc
phục hậu quả cụ thể.
(6) Hiện nay có khoảng hơn 90 văn bản
thuộc loại này.
(7) Nguyễn Sĩ Dũng (2007), Thế sự -
Một góc nhìn, NXB Tri thức, Hà Nội, tr. 107.
(8) Điều L122 -7 Bộ luật Bảo vệ người
tiêu dùng của Pháp quy định: “thương nhân không hoàn trả lại tiền đã giữ của
người tiêu dùng khi người tiêu dùng hoàn trả lại hàng hóa không đạt yêu cầu thì
bị phạt tiền đến 30.000 quan và bị phạt tù đến 1 năm. Điều L335 -28 Bộ luật Sở
hữu trí tuệ của Pháp quy định: người nào sao chụp và phát hành ra công chúng
các chương trình biểu diễn nghệ thuật mà không được phép thì bị phạt tù đến 2
năm và bị phạt tiền đến 150.000 euro. Trong lĩnh vực kiểm soát độc quyền, Mỹ có
Luật Sherman quy định: người nào cấu kết với nhau để bóp nghẹt, cản trở hoạt
động thương mại thì bị phạt tiền đến 10.000.000 USD nếu người vi phạm là công
ty, bị phạt tiền đến 350.000 USD nếu người vi phạm là cá nhân, hoặc bị phạt tù
đến 3 năm hoặc bị áp dụng cả hai loại hình phạt. [Nguyễn Văn Cương (2008), “Đạo
luật thiếu chế tài: Bàn về một thông lệ xây dựng luật ở nước ta hiện nay, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp (2), tr. 30].
(9) Điều 117, 118 Luật Cạnh tranh năm
năm 2004.
(10) Khoản 1 Điều 165 Luật Doanh
nghiệp năm 2005.
(11) Nguyễn Văn Cương (2008), “Đạo
luật thiếu chế tài: Bàn về một thông lệ xây dựng luật ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp (2), tr. 28,29.
(12) Vũ Văn Nhiêm (2007), “Bàn về
hình thức văn bản và thẩm quyền quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân”,
Tạp chí Khoa học pháp lý (5), tr. 8,9.
(13) Điều 11 Luật Ban hành VBQPPL năm
2008.
(14) Nếu Luật XPVPHC quy định công
dân, tổ chức có nghĩa vụ phải chịu các biện pháp trách nhiệm hành chính khi vi
phạm hành chính thì nghĩa là Luật đã quy định các vấn đề cơ bản thuộc quyền và
nghĩa vụ của công dân; sau đó các nghị định quy định chi tiết các vi phạm hành
chính và các biện pháp trách nhiệm hành chính cụ thể phù hợp với Luật XPVPHC
thì nghĩa là nghị định đã quy định chi tiết thi hành luật và quy định các biện
pháp cụ thể để thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân. Chính vì thế, từ trước
đến nay, các nghị định quy định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
không trái Hiến pháp và luật.
(15) Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn
chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 512. Ngoài ra,
Điều 34 Hiến pháp năm 1958 của Pháp còn quy định ranh giới về những vấn đề do
Quốc hội và Chính phủ quy định, tức phân biệt giữa lập pháp và lập quy.
(16) Bùi Ngọc Sơn (2006), Những góc
nhìn lập pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 82,84.
(17) Công văn số 2770/BC-BTP ngày
16/9/2005 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chỉnh phủ về kết quả kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định
về xử lý vi phạm hành chính.
(18) Điều 2, Luật Ban hành VBQPPL của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nh©n d©n n¨m 2004.
Th.S Bùi Tiến Đạt,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------