Cần hiểu đúng về chứng chỉ hành nghề
Những năm gần đây, chứng chỉ hành nghề – một trong những “giấy phép con” liên tục xuất hiện trong nền kinh tế nước ta. Ít nhất có thể kể ra: chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát; chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán; chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh; chứng chỉ hành nghề dược phẩm; chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán; chứng chỉ hành nghề luật sư; chứng chỉ hành nghề kinh doanh bất động sản, thẻ thẩm định viên về giá…
Chứng chỉ hành nghề là gì?
Khi một chứng chỉ hành nghề được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật là hàng
loạt lớp bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn để cấp chứng chỉ hành nghề được tổ
chức và không ít doanh nghiệp sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh nếu chưa có các chứng chỉ hành nghề theo quy định.Vậy chứng chỉ hành nghề
là gì? Nó có vai trò quan trọng như thế nào đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp?
Ở các nước phát triển, chứng chỉ hành nghề cũng được cấp cho khá nhiều nghề
được coi là “nhạy cảm” như ở nước ta. Song, quan niệm về chứng chỉ hành nghề ở
đó lại không như ở nước ta.
Trước hết, chứng chỉ hành nghề không phải là một “giấy chứng nhận”
về trình độ chuyên môn của người hành nghề. Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ
được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường
trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành
nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật.
Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả và
bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình
độ chuyên môn của người hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những
công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.
Thứ hai, chứng chỉ hành nghề cũng là công cụ để người hành nghề
phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuy��n môn, cập nhật những thông
tin mới về tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các quy định của pháp luật trong lĩnh
vực hành nghề của mình.Với quan niệm như trên, việc cấp chứng chỉ hành nghề ở
các nước phát triển khá đơn giản.
Một người đã qua đào tạo và được cấp bằng, sau thời gian thử việc phải đến
hội nghề nghiệp xin gia nhập hội và được hội cấp chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ
hành nghề đó là một trong những điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động chính thức.
Do quy định rất khắt khe về việc cấp chứng chỉ hành nghề nên phần lớn những
người đang hành nghề lại không có chứng chỉ hành nghề, thậm chí, không ít doanh
nghiệp không đủ “điều kiện kinh doanh” theo quy định vẫn thực hiện các hoạt
động kinh doanh.
Chứng chỉ hành nghề thường có thời hạn ngắn từ 1-3 năm tùy theo thâm niên
của người hành nghề. Người được cấp chứng chỉ hành nghề phải tuân thủ quy định
về đạo đức nghề nghiệp và hàng năm phải tham gia lớp bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, cập nhật thông tin mới trong lĩnh vực hành nghề. Nếu vi phạm một
trong những quy định đó có thể bị thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc không được
cấp lại và sẽ không được tiếp tục hành nghề.
Như vậy, có thể thấy rằng, chứng chỉ hành nghề là loại chứng chỉ cấp cho cá
nhân hành nghề, không cấp cho pháp nhân, cơ quan, tổ chức, không phải là một
điều kiện kinh doanh.
Sự nhầm lẫn và hậu quả
Ở nước ta đã có sự nhầm lẫn về chứng chỉ hành nghề và sự nhầm lẫn đó đã gây
ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới môi trường kinh doanh.
Trước hết, các cơ quan quản lý nhà nước đã biến chứng chỉ hành nghề thành
một “siêu bằng” về trình độ chuyên môn. Các lớp “tập huấn, bồi dưỡng trình độ
chuyên môn” ngắn hạn từ 1-3 tháng, các kỳ “thi tuyển” để cấp chứng chỉ hành
nghề được tổ chức. Và chỉ khi có chứng chỉ hành nghề ấy, người có nghề mới được
hành nghề bất kể người đó đã được đào tạo nghề ở đâu, được cấp bằng ở trường
đào tạo nào.
Vì vậy, rất nhiều tiến sĩ chuyên ngành về kế toán, không ít kế toán trưởng
đã có hàng chục năm công tác nhưng không được hành nghề kế toán vì chưa tham
gia học và “thi tuyển” để được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. Lẽ ra, chứng
chỉ hành nghề do hội nghề nghiệp cấp cho tất cả những người hành nghề để quản
lý, giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của họ thì chúng ta lại “thi
tuyển” để cấp chứng chỉ hành nghề.
Do đó, chỉ một số rất ít những người đang hành nghề được cấp chứng chỉ hành
nghề, đại đa số những người đang hành nghề lại không được cấp chứng chỉ hành
nghề. Do đó, những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp, sự lạc hậu về trình độ
chuyên môn của người hành nghề đã và đang xảy ra một cách phổ biến.Thứ hai,
chứng chỉ hành nghề đã trở thành một điều kiện kinh doanh – một “giấy phép con
siêu hạng”.
Chẳng hạn, điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn khi giám sát thi công xây
dựng công trình hạng 1 là: “Có ít nhất 20 người có chứng chỉ hành nghề giám sát
thi công xây dựng công trình thuộc các chuyên ngành phù hợp” hoặc đối với doanh
nghiệp dịch vụ kế toán phải “có ít nhất hai người có chứng chỉ hành nghề kế
toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp, trong đó giám đốc doanh
nghiệp phải là người có chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán
viên từ hai năm trở lên”…
Thứ ba, do quy định rất khắt khe về việc cấp chứng chỉ hành nghề nên phần
lớn những người đang hành nghề lại không có chứng chỉ hành nghề, thậm chí,
không ít doanh nghiệp không đủ “điều kiện kinh doanh” theo quy định vẫn thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Không ai xử lý những vi phạm đó. Vì vậy, những
quy định đã ban hành trở thành hình thức và là kẽ hở cho tham nhũng, sách nhiễu
phát sinh trong thực tiễn.
Sự nhầm lẫn về chứng chỉ hành nghề như nêu trên đã gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Phần lớn những người đang hành nghề không được cấp chứng chỉ hành
nghề do đó không ai quản lý. Những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp trong hành
nghề tư vấn giám sát, khám chữa bệnh, kế toán, kiểm toán, kinh doanh bất động
sản… ở nước ta đã ở trong tình trạng “báo động đỏ”.
Chứng chỉ hành nghề trở thành một trong những điều kiện kinh doanh đã và
đang trở thành một rào cản lớn đối với công dân khi gia nhập thị trường. Chẳng
hạn, với quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ kế toán tại
Thông tư số 72/2007/TT-BTC, một số doanh nghiệp dịch vụ kế toán đã phải ngừng
hoạt động. Nghiêm trọng hơn, đã có doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp – người đầu
tư vốn thành lập doanh nghiệp – hoàn toàn mất quyền điều hành doanh nghiệp và
chỉ sau vài năm, doanh nghiệp đã trên bờ vực phá sản.
Từ những phân tích trên, xin kiến nghị: cần thay đổi cơ bản nhận thức về
chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ hành nghề được cấp cho tất cả các cá nhân đã
được đào tạo chuyên môn về nghề nghiệp với những điều kiện nhất định; chấm dứt
việc “thi tuyển” để cấp chứng chỉ hành nghề; nâng cao vai trò của các hội nghề
nghiệp trong việc giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và bồi dưỡng nâng
cao kiến thức, cập nhật thông tin cho người hành nghề; chứng chỉ hành nghề không
được coi là một điều kiện kinh doanh của một doanh nghiệp.
Thiết nghĩ, đó cũng là vấn đề rất quan trọng cần được đặt ra, nghiên cứu
giải quyết trong đề án 30 (đơn giản hóa thủ tục hành chính) đang triển khai.
* * * * * * * * * *
Bất hợp lý trong việc gia hạn chứng
chỉ hành nghề
LÊ QUANG VŨ
Bài “Cần hiểu đúng về chứng chỉ hành nghề” của tác giả Vũ Xuân Tiền đăng
trên TBKTSG số 37-2009 đã mổ xẻ cách hiểu lệch lạc về chứng chỉ hành nghề. Và
đó chính là nguyên nhân gây ra nhiều phiền hà cho các doanh nghiệp.
Là người kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, hàng năm thường được tập
huấn dài ngày về thuốc bảo vệ thực vật để được gia hạn chứng chỉ hành nghề, tôi
thấy có nhiều điều rất bất hợp lý, gây tốn kém thời gian, tiền bạc nhưng chẳng
đem lại hiệu quả gì. Chẳng hạn, do coi chứng chỉ hành nghề là một điều kiện
kinh doanh nên việc tập huấn không có sự phân biệt về đối tượng.
Các cá nhân đứng tên làm chủ hay đại diện pháp lý của doanh nghiệp đã có
bằng quốc gia như trung cấp, kỹ sư thậm chí là thạc sĩ, tiến sĩ tốt nghiệp nước
ngoài vẫn buộc phải tham gia “tập huấn”. Trong khi đó, một số cá nhân không hề
biết gì về nông nghiệp đã bằng cách này, cách khác tham gia tập huấn để được
công nhận là có nâng cao kiến thức.
Sự cào bằng về chuyên môn đối với các chủ doanh nghiệp đã làm nảy sinh không
ít tiêu cực trong các khóa tập huấn. Những người có trình độ chuyên môn cao
thường né tránh vì ngại học hành, thi thố theo kiểu “múa rìu qua mắt thợ” nên
chỉ cử đại diện tham gia.
Một số khác thì do ít kiến thức chuyên ngành nên phải thuê mượn người tham
dự mặc dù ban tổ chức có quy định phải là chủ doanh nghiệp – người đứng tên
trong giấy phép kinh doanh – mới được tập huấn. Đặt trường hợp, nếu quy định
được chấp hành nghiêm chỉnh thì cơ quan quản lý đã bỏ quên một điều là người
thường xuyên trực tiếp giao dịch với khách hàng không phải là chủ doanh nghiệp
mà chính là các nhân viên của họ.
Đây lại là một ví dụ nữa về tính hình thức trong các quy định pháp luật cũng
như cách thực thi các quy định đó trên thực tế.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công
ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam
Trích dẫn từ:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/23251/
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):1900 6816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------