Chiến lược công nghiệp hoá lan toả - Chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp
Phạm Quang Diệu
Viện Kinh tế Nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trong vòng ba thập kỷ vừa qua, quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ đã biến Đông Á thành khu vực năng
động nhất trên bản đồ kinh tế toàn cầu. Trong tiến trình này, một mặt sự tích
tụ của các nguồn lực tư bản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị
công nghiệp tập trung cao độ, những thành phố toàn cầu như Tôkyô, Seoul, Thượng
Hải, Bangkok, Manila, Kuala Lumpur, Jakarta, đồng thời cũng diễn ra xu hướng
dịch chuyển đầu tư và hoạt động sản xuất công nghiệp từ các khu vực trung tâm
này ra các vùng ngoại vi, tạo nên hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình
thành các trung tâm vệ tinh công nghiệp. Đây chính là quá trình hình thành nên
hiệu ứng trung tâm-ngoại vi. Bài học của các nước Đông Á cho thấy tầm
quan trọng của mối quan hệ này trong việc định hình xu thế công nghiệp hoá của
địa phương, vùng cũng như toàn quốc gia theo hướng "lan toả"
hay "co cụm". Từ kinh nghiệm của Đông Á có thể rút ra những
bài học hữu ích đối với Việt Nam, đặc biệt là đối với các vùng kinh tế trọng
điểm.
CÔNG NGHIỆP HOÁ LAN TOẢ
Ở ĐÔNG Á
Trong vòng chỉ
một thập kỷ, có đến 90% hoạt động sản xuất công nghiệp của Hồng Kông đã dịch
chuyển sang tỉnh Quảng Đông, tạo nên một vành đai về công nghiệp và hình thành
một loạt các thành phố vệ tinh được gọi là vùng công nghiệp châu thổ sông Châu
Giang. Hai thập kỷ 80 và 90, các ngành công nghiệp Đài Loan vượt qua eo biển
vào Đại Lục đã nhanh chóng biến thủ phủ Hạ Môn của Phúc Kiến thành trung tâm
công nghiệp, góp phần trở thành động lực phát triển cho các khu vực của vành
đai ven biển phía Đông. Những xu thế này của Trung Quốc cũng đã từng xảy ra với
các thành phố của Đông Á khác như Tôkyô, Seoul, Thượng Hải, Bangkok, Manila,
Jakarta... quá trình đô thị hoá của khu vực ngoại vi sẽ làm tăng số lượng dân
cư đô thị, và đóng góp vào quá trình đô thị hoá chung của khu vực trung tâm. Dự
báo trong vòng 25 năm tới các khu vực ngoại vi của Đông Á sẽ làm tăng thêm 200
triệu cư dân đô thị, đóng góp vào 40% mức tăng dân cư đô thị của khu vực trung
tâm. Đối với Bangkok, khu vực ngoại vi đóng góp vào tăng trưởng của dân số đô
thị của khu vực trung tâm là 53%, tương tự như vậy đối với Jakarta con số là
70%.[2]
Đô thị
hoá diễn ra mạnh ở Châu Á cả trong quá khứ và tương lai

Nguồn: UN. World Urbanization Prospects: The 2001
Revision.
Thực tế của Đông Á cho thấy, khu vực ngoại vi với những lợi
thế chi phí về lao động, đất đai so với khu vực trung tâm dễ trở thành địa điểm
lựa chọn của giới đầu tư trong nước và quốc tế. Như vậy sẽ có hai luồng vốn đầu
tư là nước ngoài[3]
và từ các thành phố trung tâm đổ ra khu vực ngoại vi, dẫn đến quá trình công
nghiệp hoá lan toả, thúc đẩy tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của những khu
vực này nhanh sang công nghiệp. Bắt đầu bằng sự thu hút vốn, dịch chuyển công
nghiệp, hình thành các cụm công nghiệp, tiếp theo là di dân, phát triển các
dịch vụ phục vụ khu vực công nghiệp, chuyển đổi thị trấn thành các thành phố vệ
tinh.
|
Công
nghiệp hoá và đô thị hoá khu vực ngoại vi
Khái niệm công nghiệp hoá, đô thị hoá ngoại vi thể hiện
một tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ của
khu vực ngoại vi trong mối quan hệ với khu vực trung tâm, gồm các đặc trưng
cơ bản như:
·
Tiến trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, chuyển
đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp.
·
Tiến trình dịch chuyển cơ cấu lao động, từ
nông nghiệp sang công nghiệp. Tỷ trọng lao động công nghiệp trên 20% và tiếp
tục tăng lên.
·
Tăng trưởng nhanh của dân số và đô thị hoá.
·
Đất đai chuyển từ phục vụ sản xuất nông nghiệp
sang công nghiệp, kéo theo hiện tượng tăng giá đất.
Nguồn: Douglas Webster (2002)
|
Ở các nước Đông Á, khu vực ngoại vi có khoảng cách từ 150
km đến 300 km kể từ trung tâm công nghiệp đô thị. Nơi đây là vành đai của khu
vực trung tâm, vẫn mang đặc trưng của nông thôn với sản xuất nông nghiệp chiếm
tỷ trọng cao.[4] Trong mối quan hệ trung tâm-ngoại vi có
những yếu tố kéo và đẩy dẫn đến hình thành luồng dịch chuyển vốn,
hoạt động sản xuất công nghiệp. Về yếu tố kéo, các khu vực ngoại vi có lợi thế
chi phí so với trung tâm về lao động, đất đai, mặt bằng sản xuất. Đối với yếu
tố đẩy, kinh nghiệm của Đông Á cho thấy, sau một giai đoạn phát triển và tích
tụ đến một mức độ nhất định, các hoạt động công nghiệp ở đô thị trung tâm có xu
hướng dịch chuyển ra ngoại vi, hay quá trình "phi công nghiệp hoá" để
chuyển sang các hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá vào các
lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ. Ngoài ra, trong quá trình nâng cao
thu nhập, nhu cầu nhà ở chất lượng cao của cư dân thành phố cũng thu hút một
loạt khu dân cư, các công trình phục vụ lớn như sân bay, đại học, công viên …
ra các khu vực ngoại vi.
Như vậy, nếu những yếu tố kéo và đẩy được thông suốt sẽ dẫn
đến một tiến trình công nghiệp hoá lan toả, bắt đầu từ trung tâm sau đó
tiến ra ngoại vi, và đồng thời diễn ra sự chuyển đổi về chất trong tiến trình
công nghiệp hoá, khu vực ngoại vi tiếp nhận những hoạt động công nghiệp từ
trung tâm, trong khi khu vực trung tâm sẽ chuyển đổi lên ở tầm phát triển cao
hơn. Trong trường hợp ngược lại, khi những yếu tố kéo và đẩy
không vượt qua được những rào cản về mặt thể chế và yếu kém về cơ sở hạ tầng,
sẽ dẫn đến xu hướng công nghiệp hoá co cụm, khi đó, chỉ những khu vực đô
thị trung tâm là nơi thu hút vốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp,
trong khi các khu vực xung quanh vẫn chỉ là nông thôn và sản xuất nông nghiệp
vẫn chiếm vai trò chủ đạo, hay tình trạng "nông thôn bao vây thành thị",
quá trình công nghiệp hoá bị tắc nghẽn, chênh lệch đô thị nông thôn tăng lên và
thành phố cũng không có cơ hội để chuyển lên mức phát triển cao hơn, và không
thể trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho các địa phương
lân cận và toàn bộ nền kinh tế.
VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM -
RÚT LAO ĐỘNG KHỎI NÔNG NGHIỆP
Đối với một nước như Việt Nam, quá trình cơ bản là công nghiệp hoá để chuyển
đổi từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Trong tiến trình này, vai trò,
tương tác giữa khu vực nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp đóng vai trò cơ
bản. Sau 20 năm đổi mới, thách thức quan trọng nhất của nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam đã chuyển từ an ninh lương thực, thiếu đói sang dư thừa lao động, chia
cắt và tụt hậu với khu vực công nghiệp và bộ toàn nền kinh tế. Đây là nguy cơ
của một nền kinh tế có hai bộ mặt - “dualism”, khác nhau về năng suất, thu nhập
và trình độ phát triển. Vấn đề đặt ra là phải duy trì tăng trưởng nông nghiệp,
trong những giới hạn về vốn, đất đai, tài nguyên. Nếu công nghiệp tạo việc làm
không rút lao động ra khỏi nông thôn để tạo điều kiện cho nông nghiệp tăng năng
suất lao động và thu nhập thì khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ là gánh nặng và
trở ngại cho tiến trình công nghiệp hoá.
Vấn đề rút lao
động ra khỏi sản xuất nông nghiệp là vấn đề cơ bản đối với công cuộc công
nghiệp hoá, chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp. Kịch bản
tương lai cho tăng trưởng nông nghiệp và tiến trình công nghiệp hoá đất nước sẽ
phụ thuộc vào việc triển khai
một chiến lược công nghiệp hoá như thế nào để vừa đẩy mạnh công nghiệp tăng
trưởng, thúc đẩy năng suất và tăng thu nhập, trong khi vẫn vực dậy và kết nối
nông thôn vào tiến trình phát triển của cả nền kinh tế.
Hình I: Việt Nam và khu vực -
Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm chậm trong khi
tỷ trọng GDP nông nghiệp trong nền kinh tế giảm mạnh

Ghi chú: Xu hướng theo mốc thời gian 1981-1991-2002.
Nguồn: ADB các năm 1999 và 2004; Niên giám Thống kê các năm.
So với những nền
kinh tế ở trình độ công nghiệp cao như Đài Loan hay những nước có nền nông
nghiệp phát triển như Thái Lan thì mức độ rút lao động ra khỏi nông thôn của
Việt Nam rất đáng lo ngại. Ngay cả Trung Quốc, một nước đông dân có số lượng nông
dân khổng lồ và chênh lệch thu nhập nông thôn thành thị rất cao, cũng đang nỗ
lực thu hút lao động vào công nghiệp. Triệu chứng tắc nghẽn lao động ở Việt Nam
thể hiện một tiến trình phát triển công nghiệp và đô thị không gắn kết với phát
triển nông thôn. Kinh tế nông thôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ khó khăn là tiếp
tục tạo thêm việc làm cho khối lượng lao động đang tăng nhanh hàng năm để duy
trì sự ổn định xã hội và môi trường cho đất nước trong một thời gian khá
dài.
Trong khi các
nước đã qua thời điểm lao động trong nông nghiệp ngừng tăng về số lượng tuyệt
đối thì ở Việt Nam, lao động trong nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng lên. Thời điểm
mà lao động trong nông nghiệp giảm về mặt tuyệt đối được gọi là "điểm
ngoặt"[5], lúc đó khu vực nông nghiệp, nông thôn
bắt đầu giảm được sức ép tình trạng đất chật người đông, tạo điều kiện tăng
năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập. Đến đầu những năm 90, trừ
Philippin, những nước trong khu vực như Thái Lan, Malaisia, Inđônêxia đều đã
giảm lao động về mặt tuyệt đối. Ngay cả trường hợp của Trung Quốc có xuất phát
điểm thấp cũng đã đạt tới điểm "ngoặt" kể từ năm 2000. Suốt những năm
đầu thập kỷ 80 đến tận những năm 90 lao động của Trung Quốc luôn tăng, từ mức
300 triệu lên đến 333 triệu, nhưng kể từ năm 2000 bắt đầu giảm xuống còn 320
triệu. Lưu ý rằng, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam có cùng xuất phát điểm về
tỷ lệ lao động nông nghiệp trong nền kinh tế những năm đầu thập kỷ 80.
Nếu lấy những năm 80 làm mốc thì Thái Lan mất một thập kỷ để đạt được điểm
"bước ngoặt" lực lượng lao động trong nông nghiệp giảm; trong khi sau
hơn hai thập kỷ Việt Nam chưa làm được chuyện này.
Hình II:
Số lượng tuyệt đối lao
động nông nghiệp
Việt Nam tiếp tục tăng lên, 1981-2003 (ngàn người)

Nguồn: ADB các năm 1999; 2004.
TIẾN ĐẾN CHIẾN LƯỢC CÔNG
NGHIỆP HOÁ LAN TỎA
Trong điều kiện
của Việt Nam, nếu chỉ phát triển công nghiệp ở một vài đô thị lớn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về
sự tụt hậu của nông thôn, và nếu cũng chỉ tập trung công nghiệp hoá nông thôn
cũng khó giải quyết được vấn đề của bản thân khu vực nông
thôn mà cần phải có một hướng đi mang tính toàn diện trên bình diện tổng thể nền kinh tế.[6] Theo như các nghiên cứu của Phương Tây
đối với các vùng ngoại vi của Thái Lan, Trung Quốc hay Philipin thì vùng ngoại
vi cách trung tâm ước chừng 100 đến 200 km, tuỳ theo mức độ lan toả của các
hoạt động công nghiệp và tiến trình đô thị hoá. Đối với Việt Nam mức độ công
nghiệp hoá và đô thị hoá còn chưa cao thì vùng ngoại vi không thể có khoảng
cách xa như các nước khác. Trong một vài năm gần đây, những khu vực vành đai
của hai trung tâm kinh tế của đất nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã mọc lên
những khu công nghiệp, giúp thúc đẩy kinh tế của các địa phương theo hướng công
nghiệp hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tiến trình đô thị hoá. Như
vậy, nếu xét theo tiến trình của các nước Đông Á đi trước thì ở Việt Nam cũng
đang diễn ra những dấu hiệu manh nha cho một xu hướng công nghiệp hoá, đô thị
hoá vùng biên. Có một số vấn đề được xem xét và định hướng dựa trên những bài
học của các nước Đông Á như sau:
► Đối với Việt Nam,
nếu quá trình công nghiệp hoá ngoại vi không tiến triển mạnh sẽ chuyển sang
nguy cơ về một xu thế công nghiệp hoá co cụm, và những tình trạng ùn
tắc. Ùn tắc về vốn đầu tư không chạy vào sản xuất kinh doanh mà vào các hoạt
động đầu cơ, địa ốc, đẩy giá nhà đất đô thị lên cao, trong khi ngoại vi có
những cơ hội đầu tư lại không được khai thông để thu hút vốn. Ùn tắc về lao
động nông thôn không thoát ra khỏi sản xuất nông nghiệp. Ùn tắc về đất đai, khi
đa số dân cư chen chúc vào sống và làm việc ở nội đô chật hẹp, dẫn đến quá tải
về giao thông, dịch vụ, cơ sở hạ tầng …
► Ở những khu vực ngoại vi của Việt Nam đã hội tụ đủ các yếu tố
"kéo" và "đẩy" để hình thành nên tiến trình công nghiệp hoá
và đô thị hoá, nhưng rất cần những "cú huých" của Nhà nước
trong phát triển cơ sở hạ tầng để kéo dãn vốn đầu tư nước ngoài và dịch chuyển
hoạt động sản xuất từ trung tâm ra. Trường hợp của Philipin cho thấy tầm quan
trọng của tư nhân trong việc phát triển khu vực ngoại vi, đối với Trung Quốc
các doanh nghiệp nông thôn-hương trấn trở thành nhân tố hấp thụ đầu tư và đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá, trong khi ở Thái Lan thì Chính phủ đóng vai trò
quyết định trong định hướng phát triển.[7] Đối với Việt Nam, trong hoàn cảnh khu vực tư nhân còn yếu, không có các
doanh nghiệp nông thôn mạnh như Trung Quốc thì vai trò của Nhà nước trong việc
tạo dựng những vành đai và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá vùng biên có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng.
► Kinh nghiệm của Đông Á cho thấy sự thiếu kết nối và hợp tác khi
triển khai các chương trình phát triển các vùng vành đai làm chậm quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá. Những yếu kém bao gồm: liên kết dọc giữa chính
quyền trung ương, các Bộ ngành với địa phương và liên kết ngang giữa các chính
quyền địa phương với nhau. Một nguy cơ là khi các tỉnh đều mong muốn đẩy nhanh
công nghiệp hoá và dồn toàn lực vào xây dựng cơ sở hạ tầng, như sân bay, cầu
cảng...sẽ dẫn đến hiện tượng mang tính "phong trào" và "mạnh ai
nấy làm" không sử dụng đúng lợi thế của mình và tận dụng điều kiện của địa
phương lân cận cũng như phù hợp với chiến lược phát triển chung của quốc gia
trong dài hạn. Ví dụ như trường hợp các tỉnh cạnh nhau đều đầu tư xây dựng sân
bay và cảng biển sẽ là thiếu hiệu quả thay vì đầu tư vào các lợi thế của mình
và sử dụng của nhau.
► Trong trường hợp hội tụ đủ "yếu tố đẩy" từ trung tâm thành
phố ra, thì vấn đề lại là liệu địa phương có đủ năng lực nắm bắt cơ hội tiếp
nhận luồng tài nguyên dịch chuyển hay không? Ở đây, chính quyền địa phương đóng
vai trò quyết định. Các nhà đầu tư thường nản lòng trước những rào cản về mặt
hành chính, sự chậm chễ chuẩn bị điều kiện đầu tư và tệ tham nhũng của địa
phương. Mặt khác, năng lực của chính quyền địa phương trong việc tạo lập môi
trường kinh doanh thân thiện có ý nghĩa quyết định thu hút vốn đầu tư. Cựu thủ
tướng Singapore Lý Quang Diệu đã nhận xét các nước trong quá trình công nghiệp
hoá thường quá chú trọng đến phần cứng (cơ sở hạ tầng) mà quên mất yếu tố quan
trọng nhất là tạo lập môi trường kinh doanh thân thiện cho các nhà đầu tư.
► Một điểm quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá ngoại vi
là việc thu hút vốn đầu tư chỉ là phương tiện. Vấn đề chính nằm ở chỗ làm sao
để "địa phương" có thể thụ hưởng tiến trình này để tạo ra được thay
đổi về cơ cấu kinh tế và lao động. Một số nơi của Thái Lan đã diễn ra tình
trạng nguy cơ "ốc đảo", đó là các khu công nghiệp không tạo được liên
kết và thúc đẩy phát triển vùng, không chuyển đổi cơ cấu kinh tế, những người
kỹ sư và công nhân làm việc cho khu công nghiệp là những người nơi khác đến làm
chứ không phải dân địa phương. Trong tình trạng này, sẽ không tạo nên chuyển
biến cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hoá sẽ không dẫn đến đô thị hoá.
► Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ngoại vi, luồng vồn đầu
tư thường tạo ra quá trình chuyển đổi sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp
và đô thị hoá làm phá vỡ những "cấu trúc" cũ của địa phương và phát
sinh những thách thức mới về môi trường, và các vấn đề xã hội...Cho nên Chính
quyền địa phương không chỉ quan tâm đến những khía cạnh kinh tế mà phải chú ý
cả các vấn đề xã hội và có định hướng đối phó với thách thức mới nảy sinh.
► Về chiến lược đầu tư, cần tránh chỉ chú trọng đầu tư xây dựng cơ bản
mà không chú ý đến các vấn đề con người, an sinh xã hội. Công tác đào tạo và
dạy nghề, phát triển nguồn lao động có ý nghĩa quyết định để địa phương có thể
hưởng lợi thực sự từ quá trình công nghiệp hoá vùng biên, giúp chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, và đô thị hoá địa bàn địa phương.
► Trong tiến trình công nghiệp hoá ngoại vi, tránh tình trạng cạnh
tranh ngoại vi và "khoảng trống" tại trung tâm đô thị do dịch chuyển
công nghiệp ra ngoại vi. Các trung tâm đô thị cần phải có những chiến lược phát
triển chủ động, tạo ra những thay đổi nội tại, chuyển biến về chất để phát
triển lên tầng nấc cao hơn[8]. Như vậy, thành phố cần lựa chọn ưu thế,
các hướng phát triển mới, xây dựng đội ngũ lao động tay nghề cao, các tầng lớp
kinh doanh, dịch vụ phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ...
Tài liệu tham khảo
1. Chen
Li. 2004. Cooling Shanghai
Fever: Macroeconomic Control and Its Geopolitical Implications. China
Leadership Monitor. Stanford
University.
2. C
Peter Timmer (ed). Agriculture and the state: Growth, employment, and poverty
in developing countries. Cornell
University Press. Ithaca and London.
3. C
Peter Timmer. 2004. "The road to pro-poor growth: The Indonesian
experience in regional perspective". Center for Global Development
Working.
4. Douglas Webster, Jianming
Cai, Larissa Muller, và Binyi Luo. October 2003. Emerging Third Stage
Peri-Urbanization: Functional Specialization in the Hangzhou Peri-Urban Region Asia/Pacific
Research Center (A/PARC). Stanford
University
5. Douglas
Webster. 2002. On the Edge: Shaping the Future of Peri-urban East Asia.
Asia/Pacific Research Center (A/PARC). Stanford University.
6. Fred Gale, Hongguo Dai. Small Town
Development in China
A 21st Century Challenge. Rural America.
USDA. Vol 17, issue 1/spring 2002.
7. Gillian
Hart at al (eds). 1989. Agrarian transformations: Local processes and the state
in Southeast Asia. University of California
Press.
8. Thomas
Rohlen. 2002. Cosmopolitan
Cities and Nation States: Open Economics, Urban Dynamics, and Government in East Asia.
Asia/Pacific Research Center (A/PARC). Stanford University.
9. Thomas
P.Tomich, Peter Kilby (eds). 1995, Transforming agrarian economies:
Opportunities seized, opportunities missed. Cornell University
Press. Itacha and London.
10. Yujiro
Hayami. (ed). 1998. Toward the Rural-Based Development of Commerce and
Industry: Selectecd Experiences from East Asia.
The World Bank. Washington, D. C.
[1]
Tôi xin cảm ơn TS Đặng Kim Sơn đã có những góp ý quý báu cho bài viết này.
[2]
Douglas R. Webster. 2003.
[3]
Kinh nghiệm của các nước Đông Á cho thấy khu vực ngoại vi là nơi tiếp nhận
luồng vốn đầu tư nước ngoài rất lớn. Ví dụ vùng ven Bangkok tiếp nhận tới 90% luồng vốn FDI của
toàn thành phố.
[4]
Thomas P. Rohlen. 2002.
[5]
Xem Thomas Tomich và Peter Kilby. 1995.
[6]
Điều kiện công nghiệp hoá nông thôn của Việt Nam khó khăn hơn nhiều so với Trung
Quốc. Việt Nam
không có thị trường rộng lớn như của Trung Quốc và cũng không kế thừa được
những nguồn vốn vật chất ở khu vực nông thôn sau khi hệ thống HTX tan rã.
[7]
Đầu thập kỷ 80, Thái Lan quyết tâm xây dựng vùng Cụm cảng biển Đông (ESB) thành
vành đai công nghiệp của Bangkok.
Chính phủ Thái Lan đã xây dựng hai cảng biển quốc tế ở ESB. Năm 1997, Chính phủ
Thái Lan đầu tư 179 tỷ Yen từ nguồn vốn vay của JIBIC, chủ yếu vào cơ sở hạ
tầng như đường xá, giao thông....Thực tế cho thấy ESB là khu vực công nghiệp
hướng về xuất khẩu, có vai trò tương hỗ cho Bangkok. Nhờ đó, cuộc khủng hoảng
tài chính 1997 đã gây ra thiệt hại lớn đối với các ngành công nghiệp của Thái
Lan, nhưng khu công nghiệp ngoại vi ESB lại tăng trưởng mạnh nhờ những ngành
hướng ngoại. Ước tính, giai đoạn 1997-99, ESB đã thu hút thêm 57 ngàn lao động
công nghiệp; trong khi đó 120 ngàn lao động bị mất việc làm ở khu vực trung tâm
Bangkok.
(Douglas Webster, 2003)
[8]
Trong một vài năm gần đây, các tỉnh ven TP Hồ Chí Minh như Bình Dương, Long An
thu hút vốn đầu tư mạnh, gây áp lực canh tranh với hoạt động của thành phố, dẫn
đến nguy cơ tăng trưởng kinh tế của Sài gòn chững lại. Theo số liệu thống kê, 6
tháng đầu năm 2004, Bình Dương thu hút tới 1/3 tổng đầu tư nước ngoài của các
nước. Đặt ra thách thức cho TP Hồ Chí Minh phải tìm hướng đột phá mới, nâng lên
tầm phát triển cao hơn các vùng lân cận.
©
Thời Đại Mới - Số 4 -
Tháng 3/2005
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: