Chính sách đất đai ở Việt Nam trong thời ký đổi mới
Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”(1)
I. Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trong 25 năm (1981 – 2005)
Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong
đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay.
Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là
tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước. Nó đáp
ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất
nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại
thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã
hội khủng hoảng nghiêm trọng.
Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật
đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của
Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích là khoán sản phẩm
đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông
nghiệp. Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia
đình là đơn vị kinh tế tự chủ.
Luật Đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban
hành, đồng thời, qui định và điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội theo hướng
dài hạn.
Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những
thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Tuy nhiên, chính sách đất đai mới chủ yếu điều chỉnh các quan hệ kinh tế –
xã hội và ruộng đất trong nông nghiệp nông thôn. Trong khi nền kinh tế thị
trường hiện đại đòi hỏi chính sách đất đai bao quát rộng và toàn diện trên các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư, du lịch, qui hoạch, giao thông, kinh
doanh bất động sản… chứ không bó hẹp trong nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy,
trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nhu cầu sử
dụng, chuyển nhượng, kinh doanh đất đai ở các lĩnh vực, các vùng ngày càng lớn
đã phát sinh nhiều vấn đề mà chính sách đất đai khó giải quyết. Đặc biệt, thị
trường bất động sản trong thời gian qua biến động khó lường gây lúng túng nhiều
phía từ các tầng lớp dân cư, nhà đầu tư và cả những người làm chính sách. Vì
sao vậy? Có phải chăng là do cơ chế thị trường biến động hay là kết quả tất yếu
của nền kinh tế đang trở mình phát triển nhưng bị ràng buộc bởi cơ chế đất đai
không phù hợp?
Tình hình trên đã được các cấp chính quyền địa phương (tùy theo tình hình cụ
thể) đưa ra cách giải quyết khác nhau, thậm chí tùy tiện gây bất bình trong dư
luận. Nhìn chung, các giải pháp đó chỉ mang tính tình thế. Trước tình hình đó,
Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo, ban hành và chỉnh sửa các điều khoản của Luật Đất
đai (Luật Đất đai sửa đổi năm 1998, 2001); và các văn bản dưới luật khác cho
phù hợp.
Vấn đề đặt ra là đã đến lúc cần đánh giá nghiêm túc và toàn diện vai trò, ý
nghĩa của chính sách đất đai trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế, làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách đất
đai phù hợp với thời kỳ chuyển đổi kinh tế sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam.
II. Thực trạng chính sách đất đai thời kỳ đổi mới kinh tế 1981 –
2005
1. Các quan điểm, chính sách đất đai của Đảng và Nhà Nước
• Giai đoạn (1981 – 1992): triển khai về chính sách đất đai
Đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung bao cấp bộc lộ một cách toàn diện
mặt tiêu cực của nó, mà hậu quả là cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc vào
cuối những năm 70 đầu những năm 80. Đầu thập niên 1980, sản xuất lương thực
không đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân, hàng năm vẫn phải nhập trên 1
triệu tấn lương thực.
Trong khó khăn, một số địa phương đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ và làm thử
cách quản lý mới. Ngày 27-06-1980, Thành ủy Hải Phòng ra Nghị quyết 24-NQ/TƯ
làm thử hình thức khoán việc và khoán sản phẩm cho xã viên và nhóm xã viên. Các
thí điểm khác ở Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh cũng chứng minh hình thức đó chính là giải
pháp tốt thúc đẩy tăng năng suất, sản phẩm, phát huy tính tích cực lao động,
nâng cao ý thức tiết kiệm chi phí sản xuất, khai thác thêm một phần vật tư của
gia đình xã viên. Căn cứ vào thực tế đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng cho phép
các địa phương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các thí điểm, ngày 13
tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương đ���ng khóa V đã ra Chỉ thị số 100/CT-TƯ về
công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100). Chỉ thị 100 đã hướng dẫn
các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động;
xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt
khoán. Chỉ thị 100 là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã có tác dụng ngăn chặn
sự xa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Từ đó nền
nông nghiệp bước đầu có khởi sắc, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 14,4
triệu tấn năm 1980 tăng lên 18,4 triệu tấn năm 1986, bình quân mỗi năm tăng gần
70 vạn tấn, gấp 3 lần mức tăng trước đó. Năng suất 5 tấn lúa/ha của Thái Bình
đã có nhiều địa phương vượt qua vươn tới mô hình 10 tấn/ha. Mặc dù vậy, cơ chế
“Khoán 100” cũng không thể tháo gỡ hết những khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp. Ngày 05-04-1988, Nghị quyết 10/NQ- TW về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”): Nghị quyết 10 đề ra cơ
chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình
xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với hợp tác xã. Như vậy, lần đầu
tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Nghị quyết 10
đã được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưa lại
nhiều chuyển biến rõ rệt: sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ
19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm 2 triệu
tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục
chưa từng có. Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu
cho nhân dân; tháng 6 năm 1989, với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã
rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực
của Việt Nam. Tuy nhiên, “Khoán 10" chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất
cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã mới.
Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh
thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987. Sau Luật Đất đai năm
1987, Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày 18-12-1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục
Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn
trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia
đình. Với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân không
hạn chế.
Ngày 15-07-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 327/CT chính
sách sử dụng ruộng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước với nội
dung: lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất rừng, giao đất bãi bồi
với những điều kiện rộng rãi: mỗi hộ được giao đất rừng tùy khả năng trong đó có
5000 m2 kinh tế vườn (nếu là đất rừng), 300 m2 (nếu là đất trồng cây công
nghiệp), 700 m2 (nếu là đất bãi bồi). Nhà nước dành 60% vốn dự án để xây dựng
kết cấu hạ tầng, 40% còn lại cho hộ gia đình vay không lấy lãi. Những hộ chuyển
vùng đến khu kinh tế mới được phép chuyển quyền sử dụng đất canh tác, đất thổ
cư để lấy tiền làm vốn. Trong Quyết định này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng
khuyến khích các doanh nghiệp, các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ
vốn đầu tư dưới hình thức đồn điền, trang trại2. Như vậy chính sách
đất đai giai đoạn 1981-1992 chủ yếu: (1) Thể hiện tinh thần đổi mới nhưng
rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu là mang tính
thăm dò, thí điểm; (2) Chủ yếu là điều chỉnh trong nông nghiệp và các
đơn vị tập thể như nông, lâm trường, hợp tác xã và (3)
Quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của cá nhân vẫn chưa được thừa
nhận.
• Giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chính sách đất đai (1993 đến nay)
Trước những kết quả khả quan của “Khoán 100” và “Khoán 10”, Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới và
phát triển kinh tế-xã hội nông thôn. Nghị quyết là cơ sở cho việc thông
qua Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội
khóa IX ngày 14-07- năm 1993. Luật Đất đai 1993 thực chất là thể chế hóa chính
sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế-xã hội đặt ra.
Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ và các bộ, ngành đã có văn
bản triển khai Luật này. Nghị định 64/CP ngày27-9-1993 về đất nông nghiệp. Nghị
định 88/CP ngày 17-8-1994 về đất đô thị. Nghị định 02/CP ngày 15-1-1994 về đất
lâm nghiệp.
Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và
nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân.
Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển
đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm
tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những
người sử dụng đất.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nên
phức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và mua bán quyền sử dụng đất (thực chất là mua
bán đất đai) trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mà Luật Đất
đai năm 1993 khó giải quyết. Vì thế, ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật
Đất đai được ban hành và Ngày 01-10-2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của
Luật Đất đai. Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của
đất đai và vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai. Điều
đó được thể hiện bởi những qui định về khung giá các loại đất, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà nước bồi
thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất…
Ngày 10-12-2003 Luật Đất đai năm 2003 lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ban hành và có hiệu lực
ngày 01-07- 2004, thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật Đất đai đã thừa
nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Như vậy, chính
sách đất đai giai đoạn 1993 đến nay: (1) Về ưu điểm: quyền sử dụng
đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và đảm bảo thực hiện; đồng thời, có
sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn; (2) Về khuyết điểm:
chính sách thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dài hạn, thay đổi
thường xuyên thể hiện tính đối phó và xử lý tình huống.
2. Tác động của chính sách đất đai đến phát triển kinh tế – xã hội thời
kỳ đổi mới kinh tế
2.1. Tác động của chính sách đất đai đối với sự chuyển biến quan hệ
ruộng đất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn
a. Tác động tích cực
Một trong những thành tựu nổi bật, khởi sắc của nông nghiệp Việt Nam trong thập
kỷ vừa qua là sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đã thực sự được giải
phóng. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn có nhịp độ tăng trưởng khá: giai đoạn
1986 – 2004, nông nghiệp tăng trưởng 3,905%, đặc biệt giai đoạn 1996-2000 tăng
trưởng cao 4,47% là mức tăng trưởng lý tưởng để đảm bảo kinh tế phát triển và
bảo đảm an ninh lương thực của đất nước. Nhiều vùng nông thôn bước đầu đã được
đổi mới, đời sống nhân dân được cải thiện. Mức sống về vật chất tăng lên và các
điều kiện sinh hoạt như nhà ở của hộ gia đình gần như xấp xỉ 99,95%. Đồ dùng
gia đình, kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn như giao thông: năm 1998 có 91,6%
số xã có đường giao thông tới trung tâm xã, đến năm 2000 có 94,6%; năm 1998:
82,9% số xã có điện, đến năm 2000 là 89,1%; năm 2000: 98,7% số xã thuộc khu vực
nông thôn có trạm xá, 98,9% số xã có trường học tiểu học; thủy lợi, bưu điện… ở
một số vùng được phát triển mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm từ 29% năm
1990 đến năm 2004 còn 11% (theo tiêu chí của Việt Nam). Tăng tỷ lệ thời gian
lao động ở khu vực nông thôn từ 72,46% giai đoạn 1996 – 2000 lên 76,58% giai
đoạn 2001- 2004. Hiện có 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, thu hút trên 10
triệu lao động, góp phần cải thiện đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn.
Sự biến đổi về quan hệ ruộng đất cũng đã tạo ra cơ sở và động lực cho sự tự
chủ của người nông dân và trên cơ sở đó góp phần dân chủ hóa đời sống kinh
tế-xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
b. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những mặt tích cực nói trên, chính sách đất đai cũng làm nảy sinh
những tiêu cực mới:
Thứ nhất, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và manh
mún, quản lý sử dụng kém hiệu quả.
Với tốc độ tăng dân số bình quân từ năm 1990 đến năm 2004 là 1,6%/năm làm
đất canh tác ở các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại. Theo Niên
giám thống kê năm 2003, tổng diện tích đất đai Việt Nam năm 2002 là 32929,7 nghìn ha,
nhưng đất đã giao và cho thuê là 24519,9 nghìn ha, chiếm tỷ trọng 74,46%. Trong
đó, đất nông nghiệp đã giao và cho thuê (nghĩa là được sử dụng) là 9406,8 nghìn
ha, chiếm 28,57% diện tích đất cả nước. Trong khi đó năm 2002 có 25,5725 triệu lao
động làm việc trong ngành nông nghiệp. Như vậy, bình quân mỗi một nông dân có
0,3678 ha đất canh tác, thuộc loại thấp nhất thế giới. Nếu chia bình quân đầu
người cho mỗi đơn vị đất đai được sử dụng để sinh sống thì khoảng 0,3 ha/người.
Các khu vực trong cả nước đất cũng phân bổ rất manh mún: ở đồng bằng sông Hồng
bình quân đất nông nghiệp/người là 0,0585ha, thấp nhất cả nước, kế đến là Bắc
Trung Bộ 0,71 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ: 0,0796 ha. Cao nhất là Tây Nguyên
0,282 ha, đồng bằng sông Cửu Long 0,175 ha.
Bảng 2.2.1: Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương
|
Phân theo vùng
|
Dân số năm
2003 (nghìn người)
|
Tổng diện tích
đất đai (nghìn ha)
|
Đất nông nghiệp (nghìn ha)
|
Bình quân đất
/người
|
Bình quân đất nông nghiệp/người
|
|
Cả nước
|
80902,4
|
32929,7
|
9406,8
|
0,407
|
0,116
|
|
Đồng bằng sông
Hồng
|
17648,7
|
1480,6
|
855,2
|
0,0839
|
0,0485
|
|
Đông Bắc
|
9220,1
|
6532,8
|
916,3
|
0,709
|
0,099
|
|
Tây Bắc
|
2390,2
|
3563,7
|
413,6
|
1,491
|
0,173
|
|
Bắc Trung Bộ
|
10410
|
5151,3
|
736,3
|
0,495
|
0,071
|
|
Duyên hải Nam
Trung Bộ
|
6899,8
|
3306,6
|
549,4
|
0,479
|
0,0796
|
|
Tây Nguyên
|
4570,5
|
5447,5
|
1287,9
|
1,192
|
0,282
|
|
Đông Nam
Bộ
|
128815
|
3473,8
|
1686,6
|
0,0269
|
0,131
|
|
Đồng bằng sông
Cửu Long
|
16881,6
|
3973,4
|
2961,5
|
0,235
|
0,175
|
Nguồn: Tính toán của tác giả từ Niêm giám thống kê Việt Nam năm 2003
Thứ hai, việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
và đang đựơc triển khai trong cả nước nhưng một số nơi
tiến hành còn chậm. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến lãng phí nguồn lực
đất đai. Có đến 9404,7 nghìn ha đất chưa sử dụng (năm 2002) chiếm 28,56% diện
tích đất đai cả nước, tương đương với đất nông nghiệp đã giao và cho thuê
9406,8 nghìn ha. Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 535,7 nghìn ha, chiếm
1,627% diện tích đất cả nước; đặc biệt đất đồi núi chưa sử dụng 7136,5 nghìn
ha, chiếm 21,67% diện tích cả nước; đất có mặt nước chưa sử dụng 150,3 nghìn
ha, chiếm 0,46%; sông suối 748,9 nghìn ha, chiếm 2,27%; núi đá không có rừng
cây 618,3 nghìn ha, chiếm 1,88%; đất chưa sử dụng khác 215 nghìn ha, chiếm
0,65%.
Thứ ba, các hợp tác xã kiểu cũ đến nay không còn thích hợp với nền kinh
tế thị trường cần phải có những thay đổi. Theo số liệu của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã có 17,4% số hợp tác xã tự giải thể. Trong số
còn lại, 10% đã thay đổi phương thức và nội dung hoạt động: dịch vụ hỗ trợ sản
xuất cho hộ xã viên có kết quả, 90% đang lúng túng, hoạt động cầm chừng, khoảng
một nửa chỉ tồn tại trên hình thức. Một số hợp tác xã đang là lực cản đối với
sự phát triển kinh tế hộ và xây dựng nông thôn, cụ thể trên một số mặt: thu quỹ
theo đầu sào, nhập nhằng về tài chính và công nợ, vi phạm về quản lý đất đai…
Thứ tư, việc cụ thể hóa 5 quyền sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thế chấp và thừa kế cho đến nay chưa thông suốt. Do
đó, làm hạn chế xu hướng vận động của yếu tố đất đai trong môi trường sản xuất
hàng hóa.
Thứ năm, tiêu cực của cán bộ nhà nước trong quản lý và thực
hiện chính sách đất đai
Một số cán bộ trong bộ máy quản lý và thực hiện chính sách đất đai bị thoái
hóa, lợi dụng thông tin và quyền hạn đã đầu cơ đất gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả chính sách.
2.2. Tác động của chính sách đất đối với sự hình thành thị trường
bất động sản ở Việt Nam
• Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển thị trường
bất động sản ở Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, vốn, sức lao động, bất động sản là những yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất. Thậm chí, bất động sản chiếm tỷ trọng rất
lớn trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Thị trường bất động sản có mối quan hệ
chặt chẽ với các loại thị trường khác, đặc biệt là thị trường vốn. Khi sản xuất
phát triển, qui mô, số lượng và các loại hình giao dịch về bất động sản ngày
càng phong phú và đa dạng: mua bán, cho thuê, thế chấp, góp vốn liên doanh… đòi
hỏi phải có thị trường bất động sản phát triển, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu
giao dịch của nền kinh tế.
Sự gia tăng dân số, mức sống ngày càng tăng của dân cư, quá trình đô thị hóa
nhanh chóng trong thời gian qua dẫn đến nhu cầu giao dịch bất động sản tăng
nhanh là tất yếu.
Ngoài ra, quá trình hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng cả chiều rộng lẫn
chiều sâu đòi hỏi thị trường bất động sản phát triển nhằm phục vụ các hoạt động
hợp tác kinh tế quốc tế. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đất đai là
một nguồn vốn quan trọng để liên doanh với các đối tác nước ngoài.
Có thể khái quát quá trình hình thành thị trường bất động sản ở Việt Nam như sau:
• Thị trường bất động sản Việt Nam trước năm 1993
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980, đất đai và bất động sản ở
Việt Nam thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng… do đó, hoạt động giao dịch mua
bán, thuê mướn, cầm cố đất đai, nhà cửa diễn ra bình thường. Sau cải cách ruộng
đất và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, đất đai và bất
động sản được phân phối lại, các giao dịch về bất động sản trên thực tế vẫn
được thực hiện nhưng không phổ biến. Các bên tham gia giao dịch theo cách thức
tự tìm đến nhau và tự thỏa thuận giá cả. Trong giai đoạn này, mặc dù Nhà nước
chưa có văn bản pháp luật về giao dịch bất động sản, nhưng Nhà nước vẫn thừa
nhận hợp thức hóa các thủ tục giao dịch mua bán, thuê mướn… và thu lệ phí trước
bạ (thuế trước bạ) khi đăng ký quyền sở hữu nhà, đất.
Đặc điểm chủ yếu của thị trường bất động sản trong giai đoạn này là một thị
trường tự phát; Nhà nước chưa có khung pháp lý cho thị trường bất động sản;
chưa xuất hiện các tổ chức kinh doanh, môi giới, dịch vụ bất động sản.
Hiến pháp năm 1980 qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nghiêm cấm việc
mua bán đất đai. Vì vậy, Nhà nước không ban hành các văn bản pháp luật cho thị
trường bất động sản. Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, đăng ký quyền sử dụng
đất cũng không được thực hiện, vì theo logic đất đai thuộc sở hữu toàn dân và
được giao cho khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã. Quan hệ chuyển
dịch mua bán đất đai, thuê mướn, cầm cố không được thừa nhận.
Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 1980 đến đầu thập kỷ 90, thị trường bất
động sản ở Việt Nam là thị trường ngầm và hình thành một cách tự phát.
• Thị trường bất động sản ở Việt Nam từ năm 1993 đến nay
Hiến pháp năm 1992 qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống
nhất quản lý toàn bộ đất đai theo qui hoạch và theo pháp luật, bảo đảm sử dụng
đúng mục đích và có hiệu quả. Trên cơ sở hiến pháp, Điều 1 Luật Đất đai năm
1993 lại khẳng định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý", đồng thời, Nhà nước bảo vệ lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất. Điều 3, Luật Đất đai năm 1993: “Nhà nước
bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất cho thuê đất,
nhận quyền sử dụng đất từ người khác có các quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất theo qui định của Luật này và các qui định khác
của pháp luật. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất
có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất; các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất chỉ được thực
hiện trong thời hạn giao đất, thuê đất và đúng mục đích sử dụng của đất
được giao, được thuê theo qui định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật”. Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có qui định
về các điều kiện, nội dung hợp đồng mua bán tài sản, về chuyển đổi, cho thuê,
thế chấp quyền sử dụng đất. Đây là sự thay đổi mang tính đột phá, tạo cơ sở pháp
lý cho sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản.
Tuy mới hình thành, nhưng thị trường bất động sản đã từng bước góp phần cải
thiện điều kiện sống của nhân dân, tăng cường hiệu quả sử dụng và kinh doanh
đất đai, nhà xưởng, bước đầu biến bất động sản trở thành nguồn lực quan trọng
trong việc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, đến nay thị trường bất động sản ở Việt Nam vẫn còn trong giai
đoạn manh nha, còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết cả về công tác quản lý nhà nước và
hoạt động của thị trường. Thực tế hiện nay, bên cạnh thị trường bất động sản
chính thức vẫn tồn tại song song thị trường bất động sản không chính thức. Thị
trường bất động sản đang nổi lên như là một thách thức đối với xã hội và công
tác quản lý nhà nước về bất động sản. Theo ước tính, mới có 30% các giao dịch
về bất động sản là được đăng ký, chủ yếu thực hiện thông qua các tổ chức, như:
Nhà nước giao đất, cho thuê đất; bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho người đang
thuê; thế chấp; góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất. 70% giao
dịch bất động sản được thực hiện trao tay và nhiều trường hợp do các cơ quan có
thẩm quyền xác nhận. Do hầu hết các bất động sản chưa có đủ điều kiện pháp lý
tham gia vào các giao dịch trên thị trường chính thức, lại thêm các qui định về
điều kiện được giao dịch quá chặt chẽ, vì thế chưa phát huy được vai trò tích
cực của thị trường bất động sản đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội.
Có thể đánh giá thị trường bất động sản ở Việt Nam là thị trường không chính thức.
Khối lượng lớn các bất động sản không có đầy đủ điều kiện pháp lý khi tham gia
vào các giao dịch dân sự (như bán quyền sử dụng đất, nhà, thế chấp, cho thuê…)
trên thị trường bất động sản chính thức. Do thuế và phí đối với các giao dịch
đất đai, bất động sản còn khá cao, thủ tục hợp thức hoá rườm rà, thường gây khó
khăn cho thị trường giao dịch bất động sản chính thức. Chính vì vậy, giao dịch
mua bán trao tay trên thị trường phi chính thức là phổ biến, chiếm tới hơn 70%
số lượng giao dịch về bất động sản.
3. Những thành tựu và hạn chế của chính sách đất đai trong thời kỳ
đổi mới kinh tế từ năm 1981 đến nay
3.1. Những thành tựu:
• Các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai của nhân dân được Nhà
nước thiết lập và đảm bảo thực hiện
Nhà nước xác định và thiết lập hệ thống pháp lý để thực thi các quyền sở hữu
tài sản về đất đai cũng như đối với các tài sản khác là tiền đề hết sức quan
trọng cho phát triển kinh tế – xã hội. Khả năng tiếp cận tốt hơn tới các thị
trường cũng như sự gia tăng dân số dẫn đến xu hướng làm tăng giá trị của đất
đai. Vì thế có thể dẫn đến những xung đột liên quan đến sự tranh chấp về các
quyền sở hữu tài sản đối với đất đai. Từ đó, Nhà nước phải điều chỉnh chính
sách đất đai tạo thuận lợi cho việc xác định các quyền sở hữu tài sản đất đai.
Lịch sử chứng minh rằng phương thức giao các quyền về đất đai tác động tới
phát triển kinh tế và con người trong dài hạn. Hơn nữa, các thỏa thuận về quyền
sở hữu tài sản có thể không có lợi theo cả quan điểm kinh tế lẫn quan điểm xã
hội nhưng vẫn tồn tại trong một thời gian dài. Có 3 lý do giải thích cho sự
tham gia của Nhà nước vào việc thiết lập và bảo đảm các quyền sở hữu tài sản
đối với đất đai là: (a) không cần cá nhân phải lãng phí nguồn lực để cố gắng
thiết lập các quyền sở hữu tài sản, (b) mang lại công bằng và giảm chi phí cho
mọi người nhờ sự qui định của Chính phủ mang tính cưỡng chế, (c) hiệu quả mang
lại cao nhờ những thông tin nhất quán giữa các đơn vị hành chính.
Các quyền về đất đai là những quy ước xã hội được hỗ trợ bằng quyền lực của
Nhà nước hoặc của cộng đồng cho phép các cá nhân hoặc nhóm người đòi hỏi được
hưởng lợi ích hoặc dòng thu nhập mà Nhà nước đồng ý bảo vệ thông qua việc giao
nhiệm vụ cho những người khác, những người có thể đáp ứng hoặc can thiệp bằng
một cách nào đó tới dòng lợi ích này. Nhà nước đóng vai trò quan trọng thông
qua việc xác định các quyền về sở hữu tài sản, cách thức để các quyền đó được
thực thi và điều chỉnh khi các điều kiện kinh tế thay đổi. Hơn nữa, các quyền
sở hữu tài sản đối với đất đai không ở trạng thái tĩnh, mà phát triển để đáp
ứng những thay đổi của môi trường kinh tế – xã hội.
ở Việt Nam,
thực chất các quyền: sử dụng, thừa kế, chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp và
cho thuê là những biểu hiện của quyền sở hữu ruộng đất về mặt kinh tế. Hay nói
cách khác, việc xác lập 5 quyền về đất đai như vậy thực chất là trao cho người
dân quyền sở hữu có hạn chế về đất đai. Xác lập quyền sở hữu ruộng đất bao gồm
xác lập quyền sở hữu pháp lý của Nhà nước và quyền sở hữu kinh tế cho những
người sử dụng.
Hiến pháp của hầu hết các nước có qui định về chức năng xã hội của đất, hàm
ý rằng chính phủ có quyền thu hồi đất có đền bù và theo một quy trình pháp lý
được xác định đúng đắn vì mục tiêu chung. Mặc dù các quyền về đất đai đã được
giao cho cá nhân nhưng chúng luôn có giới hạn nhất định”3. Mặc khác, tuy
sự bảo đảm hưởng dụng ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của người nông dân, song
điều này không nhất thiết đi cùng với yêu cầu các quyền hoặc giấy tờ đất phải
được cá nhân hóa hoàn toàn. Điều này chứng minh rằng, ở Việt Nam không tư nhân
hóa đất đai, nhưng trao 5 quyền về đất đai cho người dân vừa phù hợp với quan
điểm chính trị của Đảng Cộng sản, vừa đảm bảo phát triển bình thường.
Như vậy, cho dù quyền sở hữu ruộng đất có hoàn toàn thuộc tư nhân thì tính
pháp lý vẫn thuộc về Nhà nước bởi vì, chủ ruộng đất vẫn phải chuyển quyền sở
hữu ruộng đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích chung dưới hình thức mua bán
hoặc cho thuê. Vì vậy, suy cho cùng đối với những chủ ruộng đất, những người sử
dụng ruộng đất, quyền sở hữu kinh tế (hay còn gọi là quyền hưởng dụng) là quyền
lợi của họ trong sử dụng ruộng đất. Quyền hưởng dụng được xác lập ở hầu hết các
nước, mặc dù nó thể hiện ở những hình thức khác nhau, ví dụ quyền tư hữu về
ruộng đất nhưng lưu ý rằng quyền tư hữu về đất cũng bị Nhà nước rằng buộc bởi
các điều kiện khác, như là ràng buộc về mục đích sử dụng, quy hoạch chung… Đối
với nước ta, trong tiến trình đổi mới, ruộng đất đã được trả lại quyền hưởng
dụng cho hộ nông dân và các tổ chức sản xuất kinh doanh. Các lợi ích mang lại
khi Nhà nước thiết lập và bảo đảm quyền hưởng dụng như sau:
• Thành tựu trong đổi mới quản lý và sử dụng đất đai:
Giáo sư Lan Williamson, Đại học Melbourne, úc, người chỉ đạo cuộc điều tra
về thị trường đất đai khu vực nông thôn Việt Nam, nhận xét: “…trong quãng thời
gian 10 năm, Việt Nam đã tạo ra một thị trường đất đai chính thức khá năng động
ở khu vực nông thôn.
Đây là một thành tựu rất lớn so với các nước khác trên thế giới và Việt Nam có thể tự
hào về điều này”. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu á (tại hội thảo
công bố kết quả điều tra về thị trường đất đai khu vực nông thôn Việt Nam, ngày 4-11-2004): Việt Nam đã đạt được
tiến bộ lớn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp khi
triển khai Luật Đất đai năm 1993. Các cơ chế thị trường chính thức có hiệu quả
đã được thiết lập cho việc chuyển nhượng và thế chấp đất nông nghiệp.
Không chỉ thành công trong thị trường đất đai khu vực nông thôn, chính sự
sôi động thị trường đất đai khu vực thành thị mới thể hiện rõ nét sự tiến bộ
trong chính sách đất đai Việt Nam.
Chính sách đất đai đã từng bước thể hiện được sự phân định các quyền năng đối
với đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất; đã thể hiện những nội dung cơ
bản của quản lý nhà nước đối với đất đai, bao gồm những hoạt động của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân và bảo
vệ quyền đó về đất đai. Từ những qui định về giao đất sử dụng ổn định lâu dài
đến việc mở rộng các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh đã giúp
cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư, bảo vệ và khai thác sử dụng đất có hiệu
quả. Đất đai đã được chuyển dịch và tập trung vào những người làm ăn giỏi.
Quyền sử dụng đất đai đã trở thành một nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển
sản xuất. Việc thừa nhận về mặt pháp lý các giao dịch về đất đai góp phần hình
thành và phát triển thị trường bất động sản – là một loại thị trường không thể
thiếu trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
một số vấn đề cản trở sự tham gia bình đẳng của người dân vào thị trường đất
đai khu vực nông thôn. Ví dụ, việc phải đóng phí sử dụng đất khá cao để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đã làm cho nhiều hộ nghèo chưa nhận
được giấy chứng nhận. Mức phí phải đóng để đăng ký một số thay đổi mục đích sử
dụng đất cũng là cao đối với người nghèo. Vì vậy, theo Bradford Philips, Giám
đốc Cơ quan đại diện thường trú tại Việt Nam của Ngân hàng Phát triển châu á,
thách thức giờ đây không chỉ là thiết lập một thị trường đất đai có hiệu quả,
mà còn là đảm bảo cho người nghèo có thể tham gia vào thị trường này. Minh bạch
hơn trong hoạt động của thị trường đất đai và chi phí tham gia thị trường thấp
hơn sẽ giúp người nghèo tối đa hóa lợi nhuận từ tài sản đất đai.
• Bước tiến của quyền bình đẳng về giới được xác lập trong
chính sách đất đai:
Một trong những nội dung quan trọng của Luật Đất đai năm 2003 qui định tại
Điều 48, khoản 3 như sau: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ, chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ,
tên vợ và họ, tên chồng”.
Đây được coi là một bước tiến mới trong vấn đề bình đẳng giới nói chung và
quyền của người phụ nữ trong việc sử dụng đất đai nói riêng. Theo số liệu thống
kê mới đây, hiện nay 97% phụ nữ Việt Nam không đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Thực tế này đã dẫn đến những hậu quả bất lợi cho chính người
phụ nữ như: họ có thể bị tước mất quyền sử dụng đất bất cứ lúc nào, vì giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đều đứng tên chồng hoặc nhà chồng. Do vậy, khi có những
trường hợp bất trắc xảy ra như ly thân, ly hôn hay trường hợp chồng chết, đa
phần họ chỉ được chia một phần rất nhỏ để mẹ con ở, còn lại rơi vào hoàn cảnh
bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà…
Về quan hệ kinh tế, người phụ nữ không đứng tên trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất khó có thể tiếp cận các nguồn tín dụng vì họ không thể đứng ra thế
chấp các tổ chức tín dụng này để vay tiền đầu tư mở rộng sản xuất, xóa đói giảm
nghèo. Muốn vay được vốn họ phải có giấy ủy quyền hoặc có sự đồng ý của người
chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác nhận của chính
quyền địa phương. Sự bất lợi đó đã tạo điều kiện cho các ông chồng tự quyết
định các vấn đề cho, bán, thừa kế tài sản trong gia đình mà không có sự tham
gia bàn bạc của người vợ.
Vì thế, việc đổi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai có ghi cả tên
vợ và chồng là cần thiết, đã khẳng định được quyền bình đẳng nam nữ trong việc
thực hiện các quyền do pháp luật đã qui định.
3.2. Những hạn chế của chính sách đất đai hiện nay và nguyên
nhân
• Hạn chế trong xây dựng và thực thi chính sách
Thứ nhất, do công tác tuyên truyền chưa tốt nên sự phân định của Nhà
nước giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai thiếu rõ ràng, không chặt chẽ
dẫn đến những cách hiểu khác nhau và thực hiện khác nhau từ những cơ quan quản
lý nhà nước đến người dân. Người sử dụng đất không nắm chắc quyền và nghĩa vụ
của mình, trong khi pháp luật quy định không thật rõ ràng, chặt chẽ đã xảy ra
tình trạng vi phạm, tranh chấp, khiếu kiện gây mất ổn định trị an trong xã hội;
chính quyền các cấp, nhất là các cấp xã, phường, thị trấn quản lý đất đai không
nghiêm, ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Thực tế đã chứng minh rằng một khi lý
luận lờ mờ thì thực tế tùy tiện.
Thứ hai, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn thừa nhận đất đai là một
hàng hóa đặc biệt, quyền sử dụng đất là có giá trị và được đem ra trao đổi, mua
bán, chuyển nhượng trên thị trường. Tuy nhiên, các chính sách về đất đai, nhà ở
lại chưa phù hợp với các yêu cầu và các quy luật hoạt động của nền kinh tế thị
trường. Thị trường bất động sản đã hình thành và phát triển nhưng lại chưa có
hệ thống luật pháp để quản lý, điều tiết hoạt động nhịp nhàng, vì thế còn mang
tính tự phát, nạn đầu cơ nhà đất ngày càng trầm trọng nổi lên như một thách
thức đối với xã hội. Nhiều công ty môi giới chỉ là loại “cò” cao cấp; các công
ty này chẳng phải bỏ vốn đầu tư đền bù, san lấp, làm hạ tầng… mà vẫn hưởng lợi
khá nhiều từ việc mua bán lòng vòng hoặc môi giới cho các dự án qui hoạch khu
dân cư.
Thứ ba, các chính sách về đất đai, cụ thể là chính sách thuế, phí, lệ
phí sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng… chưa thể hiện được nguyên tắc
phân phối địa tô giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu đất làm thất thoát các
nguồn lợi do đất mang lại từ Nhà nước chuyển sang người sử dụng và chiếm giữ
đất đai.
Thứ tư, công tác qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai của Chính phủ
bộc lộ nhiều yếu kém và mang nặng tính hình thức, chưa phù hợp với yêu cầu thực
tế và định hướng phát triển kinh tế xã hội. Chẳng hạn cho đến ngày 27-04-2004,
tờ trình Qui hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm
2005 mới chính thức gửi lên ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc quyết định kế hoạch
sử dụng đất 5 năm 2001-2005 vào thời điểm đã qua 3, 5 năm thể hiện sự chậm trễ
và thất trách. Ngay cả số liệu về diện tích đất cả nước trước đây là 33,3 triệu
ha, nhưng số liệu thống kê gần đây chỉ còn 32,9 triệu ha. Vậy gần nửa triệu ha
đi đâu?. Một vấn đề nữa về công tác qui hoạch sử dụng đất thể hiện sự bất hợp
lý như sau: đất nghĩa trang nhiều hơn đất ở đô thị (năm 2000 quỹ đất này chiếm
93.700 ha, trong khi đất đô thị chỉ là 72.200 ha; năm 2003 số liệu tương ứng là
94.876 ha so với 80.307 ha). Sở dĩ đất nghĩa trang, nghĩa địa lớn là do tập
quán mai táng của nhân dân các vùng, miền rất đa dạng, nhưng cũng không thể
không đề cập đến sự yếu kém trong công tác qui hoạch sử dụng đất. Ngoài ra,
công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai, nhà ở rất chậm.
Nguyên nhân làm cho việc hợp thức hóa các quyền về bất động sản ở nước ta chậm,
là: (1) Do buông lỏng trong công tác quản lý trong một thời gian dài, nên khối
lượng công việc ứ đọng rất lớn; (2) Thủ tục cấp giấy chứng nhận phức tạp, rườm
rà.
Thứ năm, việc phân định trách nhiệm quản lý đất đai cho các cấp các
ngành chưa rõ ràng, còn thiếu cụ thể, không rõ trách nhiệm dẫn đến sự trùng lắp
trong các văn bản làm cho việc triển khai thi hành pháp luật khó khăn, lúng
túng. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do nhiều cơ quan quy định nên
thường chồng chéo. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cấp tỉnh tương đối tốt,
còn ở cấp huyện, quận, xã, phường còn tùy tiện, trong khi đó là những nơi cần
có sự ổn định về quy hoạch cụm dân cư, cơ sở hạ tầng đảm bảo theo yêu cầu tổng
thể.
Thứ sáu, hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai được ban
hành quá nhiều, thay đổi thường xuyên, thiếu thống nhất, còn chồng chéo do
nhiều cấp khác nhau ban hành (từ trung ương đến địa phương) làm cho việc quản
lý đất đai gặp nhiều khó khăn; hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai
thiếu tính thống nhất từ trên xuống dưới. Cấp trên quy định thông thoáng cởi mở
nhưng cấp dưới thực hiện cứng nhắc hoặc cố tình làm trái nên nhiều văn bản bị
vô hiệu hóa hoặc có hiện tượng luồn lách phát sinh tiêu cực.
• Hạn chế do hoạt động của thị trường bất động sản không chính
thức gây ra:
Thứ nhất, sử dụng đất đai và bất động sản kém hiệu quả, lãng phí.
Hoạt động mạnh của thị trường bất động sản không chính thức đã vượt khỏi tầm
kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước. Tình trạng đầu cơ ồ ạt vào đất đai, bất
động sản làm cho một khối lượng lớn đất đai bị găm giữ hoặc không được sử dụng
vào mục đích sản xuất – kinh doanh và nhà ở của nhân dân. Đồng thời, việc sử
dụng đất không đúng mục đích, xây dựng nhà tràn lan tùy tiện không đúng qui
hoạch, lấn chiếm là phổ biến. Thậm chí, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp
nhà nước dùng một phần diện tích nhà, đất thuộc trụ sở làm việc để cho thuê.
Những hoạt động đều không qua sự quản lý của Nhà nước, góp phần làm cho thị trường
bất động sản không chính thức hoạt động mạnh.
Thứ hai, gây hậu quả tiêu cực về mặt xã hội
Sự biến động phức tạp của thị trường bất động sản như: sự tăng vọt về giá cả
đất đai, nhà ở; sự yếu kém và tiêu cực trong công tác quản lý nhà nước về bất
động sản… đã tạo điều kiện cho một số cá nhân giàu lên nhanh chóng một cách bất
hợp pháp, tạo sự phân hóa rõ nét và đẩy nhanh tình trạng bất bình đẳng trong xã
hội. Bên cạnh đó, hiện tượng tiêu cực, tham nhũng dẫn đến những vấn đề nảy sinh
gây nhức nhối xã hội như: giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, tình
trạng lấn chiếm, tranh chấp, khiếu kiện… giữa các cá nhân, tổ chức và ngay cả
trong gia đình với nhau đã xảy ra khá phổ biến trong những năm gần đây.
Thứ ba, hạn chế huy động các nguồn lực tài chính
70% số lượng giao dịch về đất đai, bất động sản thực hiện trên thị trường
không chính thức và không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước, dẫn đến ngân
sách nhà nước bị thất thu lớn về các khoản thu liên quan đến đất đai, bất động
sản. Trong khi giá cả đất đai, nhà ở tăng nhanh liên tục gây sức ép đối với chi
ngân sách trong việc chi đền bù giải tỏa. Mặt khác, tình trạng đất đai, nhà ở
không có đầy đủ thủ tục pháp lý để giao dịch trên thị trường chính thức. Do đó,
nguồn lực to lớn về bất động sản khó chuyển hóa thành các nguồn lực tài chính
đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh như thế chấp vay vốn, góp vốn bằng
đất, cho thuê…).
Thứ tư, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Hiện tượng giá đất, nhà ở tăng nhanh liên tục đã tạo tâm lý kỳ vọng vào việc
đầu cơ đất đai vì vậy nguồn vốn nhàn rỗi thay vì đầu tư vào sản xuất kinh doanh
lại găm vào thị thường bất động sản. Ngoài ra, chi phí cho việc sử dụng đất
tăng cao, đẩy chi phí sản xuất tăng lên, do đó giảm sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
• Nguyên nhân của những hạn chế:
Thứ nhất, do chưa nhận thức đầy đủ về vai trò vị trí của đất đai đối
với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nên chưa phát huy được
sức mạnh của công tác tuyên truyền nhằm thực thi đầy đủ và nghiêm túc pháp luật
về đất đai.
Thứ hai, bộ máy quản lý còn chồng chéo nhiều đầu mối dẫn đến buôn
lỏng trong nhiều khâu quản lý.
Thứ ba, lực lượng cán bộ quản lý còn yếu về lý luận lẫn nghiệp vụ tác
nghiệp, đặc biệt là cán bộ quản lý cấp cơ sở (phường, xã). Vì vậy tùy tiện
trong các quyết định gây hậu quả nghiêm trọng.
Thứ tư, ý thức chấp hành luật pháp của người dân chưa nghiêm
Thứ năm, nếp suy nghĩ và làm việc còn mang nặng tính quan liêu, cửa
quyền, sách nhiễu… gây trở ngại không những cho các giao dịch và thực thi hiệu quả
chính sách đất đai, mà còn cho công cuộc cải cách hành chính ở nước ta.
3.3 Những tồn tại cần giải quyết chính sách đất đai hiện nay của Việt
Nam
Thực trạng tình hình đất đai ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề
cần giải quyết:
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quá chậm, nhiêu
khê.
Thứ hai, các loại phí để cấp giấy chứng nhận đất ở, chuyển quyền sử
dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất là cao đối với người nghèo.
Thứ ba, thời hạn giao đất sử dụng hiện nay có thỏa mãn được các chủ
thể chưa và việc cấp lại thời hạn mới như thế nào?
Thứ tư, hạn điền có nên giới hạn hay không? việc giới hạn như
vậy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Những trường hợp vượt
hạn điền thì xử lý như thế nào?
Thứ năm, việc đấu giá quyền sử dụng đất công để tăng thu ngân sách
của địa phương nên hay không? vì như vậy sẽ góp phần đẩy mức giá đất đai tăng
trong khi chúng ta cần hạ nhiệt thị trường đất đai. Ngoài ra nhu cầu sử dụng
đất ở của nhân dân rất lớn, nếu đất công không sử dụng hết thì chuyển thành các
khu định cư cho dân hoặc là bán đấu giá để lấy tiền tài trợ cho việc xây dựng
các khu chung cư cho dân nghèo.
Thứ sáu, điều tiết địa tô bằng cách nào? Nghị định 22 của Chính phủ
về đền bù thiệt hại khi giải tỏa không qui định sự khác nhau về đơn giá bồi
thường giữa đất bị thu hồi một phần và đất bị thu hồi toàn bộ. Vì vậy, có
trường hợp khi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làm giá trị đất gia tăng, tất
nhiên có lợi cho người ở lại còn người ra đi thiệt hại. Như vậy, là không công
bằng cho người chịu giải tỏa toàn phần? Làm cách nào điều tiết phần giá trị gia
tăng của người được lợi (người bị thu hồi một phần giá trị sử dụng đất) cho
người bị thiệt (người bị thu hồi toàn phần giá trị sử dụng đất).
III. Giải pháp nhằm thực hiện chính sách đất đai có hiệu quả trong
thời kỳ đổi mới kinh tế ở Việt Nam
3.1. Những yêu cầu khi thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai
Thứ nhất, việc đổi mới chính sách đất đai phải phù hợp với thời kỳ
chuyển đổi nền kinh tế, nghĩa là phải thực hiện điều tiết các quan hệ cung-cầu
của nền kinh tế thị trường và thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động
sản. Sự phù hợp này phải được thể hiện trên các mặt: lợi ích kinh tế của người
dân, của doanh nghiệp và quản lý hiệu quả của Nhà nước.
Thứ hai, đảm bảo tính nhất quán của quan điểm sở hữu toàn dân về đất
đai. Phân định rõ ràng quyền năng của Nhà nước với tư cách là người đại
diện chủ sở hữu; đồng thời mở rộng quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất
trên cơ sở hài hòa lợi ích quốc gia với lợi ích của từng tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân. Trong đó, lợi ích quốc gia là hàng đầu, lợi ích của người sử dụng
đất là động lực; thể hiện thành những qui định thống nhất, rõ ràng, cụ thể của
các văn bản luật về đất đai nhằm dễ thực hiện cho cả cơ quan quản lý nhà nước
và các chủ thể sử dụng đất.
Thứ ba, chính sách, pháp luật về đất đai phải mang tính chiến lược
thể hiện tầm vóc của một chính sách lớn; không nên tùy tiện thay đổi thường
xuyên và nhiều ban ngành quản lý ra quyết định, quy định chồng chéo như hiện
nay.
Thứ tư, về quan hệ sở hữu, chiếm hữu và sử dụng đất đai: xét
về nguồn gốc hình thành, lịch sử chiếm hữu, khai phá và cải tạo thì đất đai
không phải là sản phẩm riêng của cá nhân mà là tài sản chung của cả cộng đồng
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý và định đoạt.
Với tư cách là chủ thể đại diện quyền sở hữu tối cao, Nhà nước giao một phần
các quyền này cho người dân và các tổ chức trong xã hội, trước hết là quyền sử
dụng đất. Do vậy, đối với đất đai đã được quy hoạch ổn định về mục đích sử dụng
thì việc giao cho người sử dụng quyền chiếm giữ và quyền sử dụng lâu dài là phù
hợp với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đồng thời lại tạo điều kiện để người
sử dụng đất yên tâm cải tạo khai thác hợp lý đất đai và đầu tư các công trình
trên đất.
Thứ năm, chính sách đất đai phải xuất phát từ quy luật hình thành và
phân phối địa tô của đất đai. Căn cứ vào quy luật hình thành và phân phối địa
tô, Nhà nước sẽ thu về một phần giá trị tăng thêm trên đất đai do các đầu tư xã
hội làm tăng giá trị của đất đai nói chung; khi thu hồi đất đai, Nhà nước sẽ
thực hiện đền bù phần giá trị đầu tư thêm của chủ thể sử dụng đất đầu tư vào
cải tạo đất cũng như các nguồn lợi đang có trên đất đai theo giá cả thị trường.
Thứ sáu, đối với quan hệ ruộng đất trong nông thôn nước ta hiện nay
phải đảm bảo các yêu cầu sau: nông dân yên tâm bỏ vốn đầu tư phát triển sản
xuất và tạo điều kiện tập trung ruộng đất và ruộng đất thực sự trở thành một
yếu tố kinh tế quan trọng vận động theo xu hướng kinh doanh sản xuất hàng hóa.
2. Những giải pháp cần làm ngay:
Thứ nhất, xây dựng năng lực cán bộ địa phương là vấn đề cốt
yếu
Việc xây dựng năng lực đó bao gồm: cung cấp kiến thức, các khái niệm kinh tế
cơ bản về định giá và tính thuế đất; phát động các chiến dịch tuyên truyền giáo
dục về pháp luật; đào tạo cán bộ làm công tác địa chính trong việc hòa giải và
giải quyết xung đột theo kiểu phi chính thức; qui hoạch sử dụng đất. Kinh
nghiệm Nhóm Công tác của Liên hiệp quốc về quản lý đất đai ở Đông Âu đã minh
họa cho việc có thể đạt được những tiến bộ lớn chỉ trong một khoảng thời gian
ngắn nếu cán bộ địa chính được bồi dưỡng những kỹ năng kỹ thuật, kiến thức về
xã hội, tài chính, pháp luật và kinh tế.
Thứ hai, khẩn trương giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các chủ cụ thể. Đây cũng là một vấn đề rất cấp bách hiện
nay, “Theo ước tính, hiện nay còn hơn 20% hộ sử dụng đất nông nghiệp và 95% số
hộ sử dụng đất chuyên dùng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên
cạnh đó, việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn, thủ
tục rườm rà, tốn kém.
Thứ ba, điều chỉnh giảm các mức thuế sử dụng đất, thuế trước bạ,
thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Về lệ phí trước bạ, Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày
21-12-1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ, tại Khoản 1, Điều 6, qui định lệ
phí trước bạ đối với nhà, đất là 1% giá trị đất. Giá đất được ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định theo khung giá đất của Chính
phủ. Mức lệ phí này vẫn còn cao không phù hợp với tính chất là lệ phí vì tổng
giá trị của nhà, đất thường rất lớn nên giá trị 1% trong tổng giá trị là con số
lớn. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến thái độ tích cực trong việc kê khai và đăng ký
đất đai của người dân, đồng thời ảnh hưởng đến sự thất thu khoản lệ phí này và
công tác quản lý đất đai.
Về thuế chuyển quyền sử dụng đất: Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất,
đã được Quốc hội thông qua ngày 22-06-1994 và được sửa đổi, bổ sung theo Luật
sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày
21-12-1999, tại Khoản 1, 2, Điều 7 qui định mức thuế suất chuyển quyền sử dụng
đất như sau: (1). Đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối, thuế suất là 2%; (2). Đất ở, đất xây dựng công trình và các loại đất
khác, thuế suất là 4%. Điều 11, qui định đối tượng nộp thuế là người chuyển
quyền sử dụng đất nộp và nộp một lần theo thông báo của cơ quan thuế. Như vậy,
với mức thuế suất trên là cao, nên thường người chuyển quyền sử dụng đất kê
khai giá trị nhà, đất thấp hơn nhiều lần để nộp thuế thấp, hoặc giao dịch ngầm
không khai báo. Như vậy, Nhà nước chẳng những không thu đúng mức thuế dẫn đến
thất thu cho ngân sách mà còn làm cho sự giao dịch nhà, đất trên thị trường phi
chính thức gia tăng, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về nhà, đất.
Đối với những nơi có dự án đầu tư thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất trước
và sau khi có dự án.
Ngoài các loại thuế, phí kể trên, người dân khu vực nông thôn còn phải “đóng
góp” thêm các loại phí khác do địa phương (xã, thị trấn) đặt ra. Ví dụ như:
“Tưới tiêu, duy trì đê, cho các dịch vụ thú y, cho việc bảo vệ cây trồng, 10
ngày công lao động cho lợi ích công hàng năm… những khoản chi này chiếm khoảng
1,7% chi tiêu hộ gia đình trong số 59% của tổng chi tiêu dành cho nông nghiệp.
Thuế đất nông nghiệp chiếm 45% tổng thuế nông nghiệp, phí tưới tiêu 21% và phần
còn lại dành cho các phí như: điện khí hóa (6%), lao động bắt buộc (6%), xây
dựng đường (3%) cộng với hàng tá các loại thuế, phí và đóng góp nhỏ khác”4.
Như vậy, người nông dân nghèo phải gánh chịu các khoản liên quan đến việc sử
dụng đất ảnh hưởng đến giá trị của chính sách đất đai.
Theo chúng tôi, nên giảm các mức thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng
đất, lệ phí trước bạ và chính quyền địa phương không được thu thêm hoặc động
viên (thực chất là ép) bất kỳ khoản nào liên quan đến nhà, đất.
Thứ tư, về bồi thường khi giải phóng mặt bằng và điều
tiết địa tô.
Khi định giá bồi thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất phải đảm bảo
nguyên tắc phù hợp với giá thị trường của địa phương tại thời điểm có quyết
định thu hồi đất. Để đảm bảo công bằng đối với người sử dụng đất khi bị Nhà
nước thu hồi, việc định giá bồi thường khi giải phóng mặt bằng phải được thực
hiện thống nhất trên một địa bàn và ủy ban nhân dân tỉnh phải có trách nhiệm
kiểm tra, giám sát việc thực hiện này, sở tài chính có trách nhiệm thẩm
định, thống nhất đơn giá bồi thường chung trên địa bàn của mình.
chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác, Nhà nước cần có chính
sách điều tiết phần giá trị gia tăng của đất do đầu tư dự án mang lại thông qua
thuế suất
Thứ năm, tăng cường các biện pháp thúc đẩy tích tụ và tập
trung ruộng đất trong nông nghiệp
Mặc dù quyền đổi ruộng là quyền của nông dân (những người được Nhà nước giao
quyền sử dụng đất, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước phải có trách nhiệm tuyên
truyền, vận động và hướng dẫn nông dân thấy được lợi ích của công việc này và
có chủ trương hỗ trợ đầu tư nếu có thể cải tạo đồng ruộng. Sự chỉ đạo dồn điền,
đổi thửa cho nông dân phải gắn với việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để nông dân an tâm đầu tư vào đất đai mới chuyển đổi, áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, tăng hiệu quả sử dụng đất. Xử lý
nghiêm những trường hợp lợi dụng chính sách tập trung đất đai để đầu cơ trục
lợi. Khuyến khích mở rộng diện tích, phát triển trang trại ở những nơi còn
nhiều đất chưa sử dụng. Diện tích giao, cho thuê làm trang trại phải theo yêu
cầu kinh doanh, phù hợp với điều kiện đất đai ở mỗi địa phương.
Đối với dân tộc vùng cao, dân tộc ít người cần có chính sách bảo đảm đất
nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp với pháp luật và điều kiện của từng vùng, từng
dân tộc. Cần có chế độ quản lý để họ giữ được đất và ổn định cuộc sống. Khi
giao đất phải hướng dẫn đồng bào dân tộc sử dụng đất để sản xuất hiệu quả, ổn
định và làm giàu trên đất được giao, tránh tình trạng giao đất xong phó mặc cho
người dân tự xoay sở. Đối với đồng bào dân tộc ít người thì định canh, thâm
canh trên ruộng đất của mình là điều hoàn toàn mới lạ, do vậy cần phải có chính
sách hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ hướng dẫn sản xuất và đầu tư cải tạo đồng
ruộng.
Thứ sáu, xử lý kịp thời hành vi vi phạm Luật Đất đai, đặc biệt là tình
trạng quy hoạch treo
Cần phải kiểm tra, thanh tra thường xuyên tình hình sử dụng đất đai và xử lý
kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, xử lý dứt điểm và chấm dứt việc chuyển
mục đích sử dụng đất tùy tiện, lân chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái
phép. Đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm và có chế tài cụ thể đối với các
ngành, các cấp, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử
dụng đất. Từ đó, phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp phê duyệt
dự án không theo qui hoạch, kế hoạch và quy hoạch “treo”; giao đất, cho thuê
đất không đúng thẩm quyền; buông lỏng quản lý để người sử dụng đất tự chuyển
mục đích sử dụng đất trái pháp luật.
Thứ bảy, không đặt điều kiện về hộ khẩu trong việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
Một tình trạng tồn tại trong nhiều năm ở các thành phố lớn đó là:”muốn có
nhà, đất phải có hộ khẩu và muốn có hộ khẩu phải có nhà đất”. Thế nhưng Luật
Đất đai từ trước đến nay cũng như các qui định của Tổng cục Địa chính trước đây
và nay là Bộ Tài nguyên- Môi trường, đều không có quy định như vậy. Thậm chí,
tại Thông tư số 1417 ngày 18-09-1999 còn nêu rõ: hộ gia đình, cá nhân được nhận
quyền sử dụng đất tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và tại địa phương khác
(nghĩa là nơi không có hộ khẩu thường trú). Nhưng thực tế đã tồn tại tình trạng
đó gây khó khăn, nhũng nhiễu, tiêu cực cho người có nhu cầu sử dụng nhà, đất
hợp pháp. Vì vậy, để Luật Đất đai thực sự đi vào cuộc sống và tạo điều kiện
phát triển thị trường bất động sản, cần ngay lập tức cấm đặt ra điều kiện về hộ
khẩu trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thứ tám, tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư và
đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư để loại bỏ cơ chế
xin – cho
Thực trạng hiện nay, một số nhà đầu tư rất thiếu mặt bằng sản xuất kinh
doanh nhưng các khu công nghiệp cả nước mới lấp đầy 45% diện tích, do đó phải
đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất cho các nhà đầu tư tại các
khu công nghiệp, hoặc thu hồi các phần đất sử dụng không hiệu quả của các doanh
nghiệp nhà nước, các tổ chức để tạo quỹ đất cho doanh nghiệp.
Từ trước đến nay người ta chỉ đấu giá quyền sử dụng đất ở, mang tính chất
bán bất động sản cho người tiêu dùng chứ không phải để đầu tư. Các cơ quan quản
lý đất đai chưa từng xử lý đấu giá quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư. Nếu qui
hoạch là khu công nghiệp thì càng khó đấu giá hơn. Tuy nhiên, theo chúng tôi,
khó cũng làm được. Đất sử dụng vào mục đích đầu tư nếu đem đấu giá sẽ loại bỏ
được cơ chế “xin – cho”, chấm dứt tình trạng “anh” nào xin giỏi thì được giao
đất dù không có năng lực đầu tư. Thực tế đã có nhiều đơn vị được giao làm nhà
xưởng sản xuất nhưng không làm. Có không ít trường hợp tiêu cực, người được
giao đất xin chuyển đổi thành dự án khác không đúng mục đích đầu tư sản xuất.
Khu đất nằm trong qui hoạch công trình công cộng như siêu thị hoặc liên hoàn
siêu thị, nhà hàng vui chơi giải trí, trường học ngoài công lập, bệnh viện tư
vẫn được đấu giá.
Kết luận
Chính sách đất đai Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế đến nay là phù
hợp với tiến trình phát triển và đổi mới kinh tế của đất nước. Quá trình tiến
triển trong tư duy về chính sách đất đã mang lại những tác động sâu rộng từ
những chuyển biến trong quan hệ ruộng đất, nông nghiệp và phát triển nông thôn,
đến sự ra đời sôi động của thị trường bất động sản.
Bên cạnh những thành tựu trên, trong những năm gần đây, khi nền kinh tế
chuyển sang kinh tế thị trường cũng là lúc chính sách đất đai bộc lộ toàn diện
những khiếm khuyết, thiếu sót. Làm cho tính chất phức tạp và bản chất gây nhiều
tranh cải của vấn đề đất đai tăng lên, dẫn đến những kết cục không đáng có như
sau: thị trường bất động sản trở nên khó kiểm soát và biến động khó lường tạo
nên những đợt sốt đất giả tạo. Các vấn đề xã hội nảy sinh như tranh chấp, khiếu
kiện tập thể, xung đột, phân hóa xã hội do tập trung đất đai mà mục tiêu chính
sách và xã hội không mong muốn.
Tóm lại, đóng góp lớn nhất mà Nhà nước có thể tạo ra để vận hành tốt hơn chính
sách đất đai trong thời gian tới là: cung cấp quyền về đất đai có đảm bảo, giảm
các chi phí liên quan đến những giao dịch về đất, xây dựng cơ sở hạ tầng để gia
tăng giá trị của đất và cung cấp mạng lưới an sinh để tránh việc phải bán tháo
đất đai, giải quyết thỏa đáng vấn đề đền bù giải tỏa, tái định cư./.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Báo cáo
nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2004
2. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
H., 2001
3. Giáo trình Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, PGS.TS.
Ngô Đức Cát, TS. Vũ Đình Thắng, Nxb Thống kê, H., 2001
4. Hỏi và đáp về Luật Đất đai năm 2003, 2004, TS. Phạm Huy Đoán, Nxb
Chính trị quốc gia, H.
5. Làm gì cho nông thôn Việt Nam, Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Nguyễn
Tiến Triển, Nxb, Tp Hồ Chí Minh., 2003
6. Niêm giám thống kê Việt Nam năm 2003, Tổng cục Thống kê, Nxb Thống
kê, H.
7. Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc
đổi mới ở Việt Nam, TS. Lê Xuân Bá (chủ biên), Nxb Khoa học và Kỹ thuật,
H., 2003,
8. Thị trường bất động sản những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, PGS.
TS. Thái Bá Cẩn, ThS. Trần Nguyên Nam, Nxb Tài chính.H., 2003.
9. Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, PGS.TS. Lâm Quang Huyên, Nxb Khoa học
xã hội, H., 2002,
10. Chính sách đất đai trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, GS.TSKH. Lê
Đình Thắng, TS. Hoàng Cường, ThS. Vũ Thị Thảo, số 76-10/2003,Tạp chí Kinh
tế&Phát triển, Trường đại học Kinh tế quốc Dân, 2003
11.Nâng cao việc quản lý đô thị, 2004, TS. Lê khoa, TC Phát triển
kinh tế, số 163- 05/2004 TC Khoa học kinh tế của Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
12.Nâng cao hiệu lực quản lý đô thị, 2004, Tâm Thư, TC Phát
triển kinh tế, số 163- 05/2004 TC Khoa học kinh tế của Đại học Kinh tế Tp Hồ
Chí Minh
13. TC Nghiên cứu Kinh tế, 2004, số 311, 312 tháng 4, 5-2004, Viện
Kinh tế Việt Nam – Viện KHXH
Việt Nam.
14. Tác động của thuế Việt Nam, 2004, Jonathan Haughton,
Nguyễn Thế Quân, Nguyễn Hoàng Bảo
15. Vietnam’s Lannd Policy In The Transition Period, 2003, Nguyễn Tấn
Phát, Economic development, No.111 – November 2003, The HCHC University of
Economics – Ministry of Education & Training.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU KINH TẾ SỐ 1 (332) NĂM 2006 - NGUYỄN TẤN
PHÁT- Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM