Chính sách lãi suất:Cơ sở lý luận và thực tiễn
Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 đã xác định mục tiêu tổng quát của năm 2010 là “nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010”.
Trong đó, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) góp phần thực hiện thành công các mục tiêu trên là không nhỏ,
đặc biệt trong bối cảnh sức ép gia tăng lạm phát như hiện nay.
Nhìn lại năm 2009, khủng hoảng kinh tế tài chính
toàn cầu đã đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầy khó
khăn và thách thức. Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt
được nhiều kết quả tích cực. Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp
thời cơ chế hỗ trợ lãi suất, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động
của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong năm 2009 đã có sự ổn định
tương đối so với năm 2008. Tuy nhiên, trên thực tế, những biến động và
căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn còn tồn tại, ở một số thời điểm,
đã có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và tâm lý của
người dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối
với hoạt động của ngành Ngân hàng trong năm 2010. Một trong những vấn
đề của năm 2009, mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều
hành, song, trong những tháng đầu năm 2010, vẫn nổi lên những vấn đề
tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN, đặc
biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không
đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách lãi suất hiện nay
Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn
Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) của các nước trên thế giới cũng như NHNNViệt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc
kiểm soát lạm phát. Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều
hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.
Về phương diện lý thuyết, lãi suất danh nghĩa và
lạm phát có mối quan hệ cùng chiều. Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh
nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thực[i] được chấp nhận bởi các chủ
thể trong nền kinh tế. Triển vọng của lãi suất thực có ảnh hưởng đến
các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư. Sau khi xác định được các
kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ
không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ sẽ
có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc
chứng khoán để bảo vệ sức mua. Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thị
trường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gia
tăng, vì thế, lãi suất thực sẽ là một biến số
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng, đầu tư của
các chủ thể trong nền kinh tế,đồng thời cũng là biến số tác động đến kỳ
vọng lạm phát. Do vậy, NHTƯ các nước thường kiểm soát kỳ vọng lạm phát
thông qua xu hướng của lãi suất thực. Thông thường, NHTƯ sẽ bắt
đầu tăng tỷ lệ lãi suất dần dần khi lạm phát tiến gần tới lãi suất tiền
gửi danh nghĩa. Điều này phát đi một tín hiệu là NHTƯ sẽ có khuynh
hướng duy trì chính sách lãi suất thực dương. Dấu hiệu này cũng sẽ làm
suy yếu các kỳ vọng của thị trường về lãi suất thực âm và tăng giá của
tài sản.
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình
thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu[ii], và đó cũng
là điểm mấu chốt để sử dụng lãi suất trong việc quản lý kinh tế. Trong
cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp của việc
thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm
xuống khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu
tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn. Đối với đầu tư, chi phí vay mượn tăng làm
cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn. Vì thế mà
việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ đầu tư, tuy nhiên, mức độ
đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với lãi suất.
Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và
nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại. Sự thay đổi đó được thể hiện
bằng sự dịch chuyển của đường tổng cầu (xem Biểu đồ 1).
Biểu 1: Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu

Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành
công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các
kỳ vọng lạm phát hữu hiệu. Cơ chế truyền dẫn của lãi suất đến lạm phát
thường được mô tả như sau: (xem Biểu đồ 2).
Biểu 2: Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế

(*)Trong đó, lãi suất chính thức là lãi suất chỉ đạo
của NHTW công bố làm cơ sở tham khảo một cách chuẩn mực (Ví dụ như
Federal Fund rate của Mỹ, Overnight rate của Anh) để các NHTM hình
thành nên các mức lãi suất huy động và cho vay đối với nền kinh tế,
đồng thời các mức lãi suất này cũng là một chỉ báo về động thái điều
hành CSTT của NHTW. Tại phần lớn các nước, tỷ lệ lãi suất chính thức –
thường được gọi là lãi suất cơ bản, lãi suất chuẩn, sẽ phát huy vai trò
truyền dẫn tác động của CSTT đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ
mô (tăng trưởng, lạm phát,việc làm,…)
Trong lịch sử phát triển kinh tế, có rất nhiều nhà
kinh tế học nổi tiếng đã nghiên cứu và đưa ra những lý thuyết cơ bản về
lãi suất, song John Taylor, một tên tuổi lừng danh trong giới chuy��n
gia kinh tế, nhất là chuyên gia trong lĩnh vực tiền tệ và kinh tế vĩ mô
của Mỹ, người đã kỳ công trong việc nghiên cứu dựa trên các học thuyết
kinh tế kinh điển để đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp
trong mối quan hệ với tăng trưởng và lạm phát – mà giới kinh tế thường
gọi là quy tắc Taylor.
Quy tắc Taylor sẽ giúp cho một NHTƯ xác định được
các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để
đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát
lạm phát trong dài hạn.
Quy tắc Taylor có thể được mô tả theo phương trình sau:

Trong đó:
: Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu
: Lạm phát thực tế
: Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của NHTW
: Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường
: Logarit của tổng sản lượng GDP thực tế
: Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng
Để áp dụng quy tắc Taylor, NHTƯ xác định một mức lãi
suất thực ngắn hạn nên dựa trên 3 yếu tố: lạm phát thực tế so với lạm
phát mục tiêu; chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm
năng; mức lãi suất ngắn hạn tại đó nền kinh tế đạt mức toàn diện nhân
công.
Quy tắc Taylor khuyến nghị một mức lãi suất tương
đối cao (CSTT thắt chặt) để giảm áp lực lạm phát trong trường hợp lạm
phát cao hơn mức lạm phát mục tiêu hoặc sản lượng vượt trên mức sản
lượng tiềm năng. Trong trường hợp ngược lại, quy tắc Taylor khuyến nghị
một mức lãi suất tương đối thấp (CSTT nới lỏng) để thúc đẩy tăng
trưởng. Quy định tỷ lệ a lớn hơn 0, quy tắc Taylor nói rằng lạm phát
tăng 1% đòi hỏi NHTƯ tăng lãi suất danh nghĩa lên hơn 1% (cụ thể, bằng
1+aπ).
Đôi lúc, các mục tiêu của CSTT có thể mâu thuẫn với
nhau, ví dụ lạm phát vượt lạm phát mục tiêu trong khi sản lượng lại
dưới mức sản lượng tiềm năng. Trong trường hợp đó, quy tắc Taylor cung
cấp chỉ dẫn cho các nhà hoạch định chính sách cách cân bằng các mục
tiêu này qua việc thiết lập một mức lãi suất phù hợp. Mức lãi suất phù
hợp này thường được xem là “mức lãi suất trung hòa”. Tuy nhiên, các nhà
kinh tế học đã chỉ ra rằng việc xác định và tính toán mức lãi suất
trung hòa này gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là sự không chắc chắn về
mặt số liệu và mô hình. Bên cạnh đó, có nhiều cách khác nhau trong việc
xác định mức lãi suất trung hòa do các phương pháp tính và mức lãi suất
trung hòa còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế. Mặt khác, một mức
lãi suất trung hòa có thể còn khiến tình trạng mâu thuẫn giữa các mục
tiêu này kéo dài hơn mức cần thiết.
Một vấn đề được quan tâm trong lý thuyết kinh tế khi
phân tích các tác động chính sách, đó là độ trễ thời gian tác động của
thay đổi chính sách gắn với các yếu tố tiền tệ (lãi suất, cung tiền, tỷ
giá…) tới các yếu tố vĩ mô như đầu tư, lạm phát. Bởi các quyết sách chỉ
có hiệu quả cao nếu xác định được độ trễ này. Tuy nhiên, đây là một vấn
đề không đơn giản, vì cùng một chính sách nhưng độ trễ tác động là rất
khác nhau trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Có rất nhiều
sự thay đổi và không chắc chắn xung quanh độ trễ thời gian trên. Cụ
thể, tác động chính sách sẽ phụ thuộc nhiều nhân tố khác nhau, như chu
kỳ kinh doanh, lòng tin của người tiêu dùng và phản ứng của họ như thế
nào đối với sự thay đổi chính sách, giai đoạn của chu kỳ kinh doanh,
các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và kỳ vọng về lạm phát trong
tương lai. Chẳng hạn, về nguyên lý chung thì lãi suất tăng sẽ hạn chế
đầu tư, giảm lạm phát, nhưng lãi suất cũng làm tăng giá thành sản phẩm
qua đó tác động làm tăng giá. Vì sự tác động mang tính hai mặt như vậy,
đòi hỏi phải xác định độ trễ tác động này để có những quyết định sử
dụng công cụ lãi suất theo hướng tăng hay giảm cho mục tiêu kiểm soát
lạm phát.
Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển
như Việt Nam, nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường
thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết trên để hoạch định chính sách
lãi suất cần có sự linh hoạt, bám sát mục tiêu định hướng phát triển
kinh tế – xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường. Trong
điều kiện như hiện nay, để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên, hoạch
định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế
sau:
- Thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay đang
phải đối mặt với áp lực lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn
thiếu vững chắc: Mặc dù tăng trưởng kinh tế quí I/2010 đạt 5,83%, cao
hơn nhiều mức tăng trưởng quí I/2009, vốn đầu tư toàn xã hội tăng
26,23%, cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009, song nhập siêu
vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập khẩu đạt 17,5 tỷ
USD, nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD), lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát
nhưng đang có xu hướng tăng trở lại. (Xem đồ thị 1)

Nguồn: Tổng cục Thống kê
- Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt
trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới. Tuy nhiên, năng lực
tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh của các thành viên
trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong phát
triển chưa cao: Xét trong hệ thống các tổ chức tín dụng với 73 ngân
hàng và 08 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít các ngân
hàng thương mại có vốn điều lệ và tài sản có lớn. Riêng khối NHTM nhà
nước (3 NHTM nhà nước, 2 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi
phối, 1 Ngân hàng Chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27,28% tổng
vốn điều lệ của cả khối, thị phần huy động vốn và cung cấp tín dụng
khoảng 60% (xem Biểu đồ 3); mức chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần
của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn kế tiếp là tương đối
lớn. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản có quyết định khả năng cạnh
tranh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh
trong cạnh tranh thị trường, song với một cấu trúc thị trường có tồn
tại nhiều các NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành
vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh. Mặt khác, đối với
nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống,
những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh
hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách
lãi suất nói riêng.

Nguồn: NHNN
Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi
suất huy động trong năm 2008 và những biểu hiện của thị trường những
tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh
thiếu lành mạnh. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với
cho vay trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao, khoảng
18%. Mức lãi suất này đãhạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các NHTM
(mức tăng trưởng tín dụng quí I chỉ đạt 3,34%). Trong quí I/2010, tăng
trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp
ứng thanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn của các NHTM là không
khan hiếm. Do vậy, với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các
NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10,5% và
lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất
thực hợp lý cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua
nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. Những
hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường, nếu không có
những biện pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân
hàng, từ đó có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng.
Trong cấu trúc thị trường hiện nay, còn có một đặc
điểm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất, đó
là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là không nhỏ[iii].
Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua,
thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực sản xuất được áp
dụng lãi suất ưu đãiđược thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển, Ngân
hàng Chính sách xã hội, các dự án đầu tư phát triển được sử dụng các
nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa… Các chính sách ưu đãi này là cần thiết
trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay, nhưng ở chừng mực nào
đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất, vì khi đó
lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên
việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó.
- Các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không
đầy đủ, dẫn đến phản ứng theo “bầy đàn” – là đặc điểm nổi bật của thị
trường tài chính của Việt Nam hiện nay. Đặc điểm này dễ gây nên những
kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô
nào tạo tín hiệu áp lực lạm phát, nhất là chính sách tiền tệ – một
chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột.
- Về lý thuyết, khi cân nhắc lợi ích thu được từ các
quyết định đầu tư, kinh doanh, các chủ thể trong nền kinh tế thường sẽ
quan tâm đến mức lãi suất thực mà mình được nhận được là bao nhiêu.
Nhìn vào thực tế của Việt Nam, hiện tại, mức lãi suất thực mà người gửi
tiền nhận được là mức lãi suất thực dương, trung bình trong 3 tháng đầu
năm 2010 khoảng 2,8% – chưa kể đến các hình thức khuyến mại khác. Tuy
nhiên, lãi suất thực đang có xu hướng giảm xuống bắt đầu từ tháng 2 do
ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. Và trong trường hợp này, thường để
theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được
tăng dần lên. Như vậy có nghĩa là các NHTM sẽ vẫn có thể tăng lãi suất
huy động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy
động vào thời điểm này. Hơn nữa, với xu hướng này, một tín hiệu nâng
lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát. (Xem Đồ thị 2)

Nguồn: NHNN
Mặt khác, xét về góc độ lãi suất thực tác động đến
tăng trưởng kinh tế, thì hiện nay, các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng
đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao. Đánh giá tác động của
lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế, theo kết quả ước lượng mô hình
đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo phương
pháp OLS (41 quan sát từ quý I/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa
10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng
trưởng kinh tế giảm 0,04% so với quý trước. Điều này là hoàn toàn phù
hợp với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất, đầu tư và
tổng sản lượng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn
nhiều yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến
động của lãi suất thực mới chỉ giải thích được 12,3% biến động của tăng
trưởng kinh tế. (Xem Đồ thị 3)

- Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ,
lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức
chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất đồng ngoại tệ cộng
với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa đồng nội
tệ và đồng ngoại tệ của các thành viên trong thị trường, điều này sẽ
gây ra những rối loạn thị trường, tạo áp lực lên tỷ giá. Do vậy, chính
sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này.
Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định,
chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt các chính sách khác (như
yêu cầu các tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá
công bố, điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi
suất tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp…) đã phải hướng tới sự ổn
định này.
Định hướng chính sách
Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT, vì vậy,
mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của
CSTT, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ
luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm
soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây
ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục
tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản
trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.
- Trên nguyên tắc đó, trong năm 2010, hai vấn đề nổi
lên mà chính sách lãi suất cần hướng tới nhiều hơn, đó là áp lực lạm
phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, theo
đó, chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và
bất cập hiện nay trên thị trường tiền tệ, nhưng đồng thời cùng với các
công cụ chính sách khác thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. Do vậy,
tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của
thị trường về cơ bản tuân theo qui luật cung cầu, phân bổ nguồn vốn hợp
lý. Song với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt cùng với những
bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất
trực tiếp là cần thiết, và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết
để tự do hóa lãi suất.
- Trước mắt là phải thiết lập một mức lãi suất cơ
bản định hướng được lãi suất thị trường. Theo kinh nghiệm của một số
nước trên thế giới, để có thể phát huy được tốt vai trò định hướng của
lãi suất cơ bản thì bản thân NHTƯ của quốc gia đó phải xác định được
những mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm
phát, tăng trưởng, hoặc lãi suất ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt
trạng thái cân bằng. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế hình thành lãi suất
cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn mực cho lãi suất thị trường liên
ngân hàng, thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện
trong thời gian này.
- Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ
các mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết
khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm
chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay, đi vay
của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng tiền cung ứng sẽ được
điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.
- Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu
trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất
thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có
thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi
suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.
Đồng thời trong thời gian này, NHNN cũng sẽ tích cực
hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn
so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và
chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và
điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.
Tuy nhiên, về lâu dài, khi các xu hướng đầu tư đã rõ
nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động
cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự
do hóa lãi suất đã lựa chọn.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chế điều hành lãi suất,
ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát lạm phát hướng tới ổn định kinh
tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành Ngân hàng trong
năm 2010. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngành Ngân hàng đang triển khai
những giải pháp ứng phó kịp thời. Tuy nhiên, ��ể hỗ trợ cho các giải
pháp ngắn hạn này có hiệu quả, có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các
giải pháp điều hành trong dài hạn, bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành
Ngân hàng, cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ
và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành hữu quan trong việc cơ cấu
lại thị trường tài chính, giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi, phát
triển các thị trường nợ một cách có hiệu quả, từ đó sẽ giảm bớt gánh
nặng cho khu vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ cho các mục
tiêu phát triển kinh tế của cả nước.
Chú thích:
[i] Lãi suất thực là thu nhập của người thụ
hưởng, được tính bằng với lãi suất danh nghĩa trừ đi phần sức mua bị
giảm sút do có lạm phát.
[ii] Tổng cầu bằng Tiêu dùng + Đầu tư + Chi tiêu của Chính phủ + (Xuất khẩu – Nhập khẩu).
[iii] Dư nợ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển chiếm khoảng 12,1% tổng dư nợ trong nền kinh tế.
Tài liệu tham khảo
Tài liệu tiếng Việt
- Cục Quản lý cạnh tranh, Báo cáo cạnh tranh các NHTM năm 2009.
- Đặng Ngọc Cảnh, 08/03/2007, một số cải cách gần
đây về chính sách tiền tệ của Thái Lan, trang chủ của NHNN
(http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tinnghiencuu.jsp?tin=370)
Tài liệu tiếng Anh
- Asso, P.F., Kahn, G.A., Lesson, R. (12/2007), The
Taylor Rule and The Transformation of Monetary Policy, The Federal
Reverse Bank of Kansas City, Economic Research Department.
- Liu, H.C.K., 21/2/2008, The Road To Hyperinflation
Part 3: Inflation targeting, Asia Times Online,
(http://www.atimes.com/atimes/Global_Economy/JB21Dj02.html)
- Taylor Rule: http://en.wikipedia.org/wiki/Taylor_rule
- Woodford, M., 01/2001, The Taylor Rule and Optimal Monetary Policy, Princeton University
Các trang web tham khảo:
- Ngân hàng Anh: www.bankofengland.co.uk
- Cục dự trữ Liên bang Mỹ: www.federalreserve.gov
- Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa: www.pbc.gov.cn/english
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM - TS. NGUYỄN THỊ KIM THANH – Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng – NHNN
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------