Chính sách thuế thu nhập cá nhân: Sao lại "phù thủng" tùy nghi?
Sau hai năm áp dụng, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Chính phủ và các bộ, ngành chưa tìm ra giải pháp hoàn thiện trong việc áp dụng luật thuế này. Từ tiêu chí “thu”, rồi “giãn”, “giảm”, “hoãn” đến nay lại quay về điểm xuất phát là “miễn” thuế thu nhập cá nhân (TNCN) với đối tượng bậc 1 cho đến hết 31/12/2011.
Loay hoay với bài toán thuế TNCN, Bộ Tài chính dự thảo kiến nghị Quốc hội điều chỉnh về thuế TNCN, trong đó có ba nội dung:
- Thứ nhất, miễn 5% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ tức của nhà đầu tư chứng khoán (trừ cổ tức ngân hàng, tổ chức tín dụng);
- Thứ hai, miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt
động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân (20% trên thu nhập hoặc 0,1%
trên giá trị chuyển nhượng) do thị trường chứng khoán đang rất khó khăn,
nhà đầu tư không có thu nhập;
- Thứ ba, miễn thuế đối với những người ở bậc 1
tương đương 9 triệu đồng, độc thân. Đây là nhóm người khó khăn nhất
trong những người phải nộp thuế, và số thuế được giãn trong 1 tháng tối
đa 250.000 đồng/người.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất không tính thuế
giá trị gia tăng (VAT) đối với suất ăn giữa ca trong trường hợp doanh
nghiệp tự nấu cho người lao động, kể cả trường hợp doanh nghiệp khác nấu
suất ăn giữa ca bán cho công nhân tại địa điểm nhà máy, trụ sở doanh
nghiệp. Doanh nghiệp được khấu trừ VAT đầu vào trong trường hợp tự nấu
hoặc mua suất ăn của doanh nghiệp cung ứng. Đây là đề xuất chặt chẽ, chi
tiết đến lòng vòng khó hiểu.
Cái vòng lẫn quẩn nêu trên cho thấy các nhà hoạch
định chính sách còn khá lúng túng trong việc giải quyết quốc kế dân
sinh. Một chính sách có định hướng bao giờ cũng mang tính ổn định và
ngược lại chứ không thể “phù thủng” tùy nghi. Điều này đặt trọng trách
rất nặng lên các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan giám sát
dân cử. Điểm lại quá trình xây dựng và áp dụng từ năm 2007 đến nay cho
thấy, sự ra đời của luật thuế TNCN trong thời gian qua là chưa thật sự
chín muồi bởi hai lý do:
1. Chưa nghiên cứu kỹ lưỡng loại hình thuế TNCN này là nguyên nhân dẫn đến nhiều bất cập trong việc triển khai thực hiện:
Thực chất, thuế thu nhập cá nhân là loại hình đánh
thuế vào người có thu nhập cao. Vậy ai là người có thu nhập cao trong xã
hội ta hiện nay? Theo các phương pháp đo lường phối hợp (cả định lượng
và định tính), Việt Nam hiện tại chỉ đưa ra được ngưỡng nghèo “không bền
vững” và phải tiếp tục hoàn thiện chứ chưa có phương pháp hay công
trình nghiên cứu nào về “ngưỡng” thu nhập cao. Chính vì không biết ai là
người có thu nhập cao nên nhà làm luật đã “bắt đáy” thu nhập bằng nhiều
nấc bậc khác nhau, ngõ hầu tìm ra người chịu thuế.
Trong bảy bậc chịu thuế từ 5 – 35%, nhà hoạch định
chính sách không biết vô tình hay hữu ý đã “thu hẹp” diện chịu thuế đối
với người tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Điển hình là từ bậc 1 đến bậc
2 chỉ số tăng trưởng 100% (60 – 120 triệu đồng) và áp mức thuế tăng
tương ứng từ 5% lên 10%. Nhưng bắt đầu từ bậc 3 trở đi, mỗi bậc, nhà làm
luật đã “bốp” mất ít nhất 24% tăng trưởng như: từ 120 – 216 triệu đồng
thay vì 120 – 240 triệu đồng, trong khi mức thuế suất vẫn lũy tiến 5%
mỗi bậc. Thay vì người tạo ra nhiều của cải cho xã hội sẽ được giữ mức
tăng trưởng ổn định và đáng được như thế thì họ bị thu hẹp diện chịu
thuế lần lượt từ bậc 4 trở đi là: 48%, 144% và 288%.
Tiếp theo là cách tính người phụ thuộc quá rườm rà và không cần thiết. Bản chất luật thuế TNCN đã chỉ ra chủ thể chịu thuế là cá nhân có
thu nhập cao. Việc còn lại là xác định ngưỡng chịu thuế duy nhất chung
cho tất cả các đối tượng có thu nhập cao. Tuy là một mức thuế suất
chung, song số tiền nộp thuế sẽ tỷ lệ thuận với thu nhập kiếm được. Mức
ấn định này phải bảo đảm thực sự là “cao” sau khi trừ các chỉ số lạm
phát, giá tiêu dùng (CPI),… và phải chuẩn hóa bằng công thức cụ thể. Như
vậy, người có thu nhập cao là người có thu nhập còn lại đạt đến ngưỡng
ấn định chịu thuế sau khi giảm trừ các khoản chi phí sinh hoạt thiết yếu
của bản thân, người phụ thuộc [mức chi phí sinh hoạt thiết yếu của bản
thân x số người phụ thuộc], chi phí y tế,… Cách tính này chưa hẳn tối
ưu, song trước mắt ngăn chặn được hai trạng thái tiêu cực:
- Người tạo ra nhiều của cải cho xã hội không bị tác
động tiêu cực về mặt tâm lý mau bị “đội cấp” chịu thuế. Ngược lại,
ngưỡng chịu thuế duy nhất sẽ kích thích người muốn có thu nhập cao đầu
tư mở rộng sản xuất, tạo đà tăng trưởng cho bản thân và xã hội. Thể hiện
chính sách bình đẳng về hiệu suất lao động, tưởng thưởng thành quả lao
động do họ đạt được một cách công bằng nhất.
- Tránh tâm lý chây ỳ, ỷ lại của người phụ thuộc.
Thúc đẩy sự năng động sáng tạo và đa dạng hóa phương thức tự tạo nguồn
thu theo từng hoàn cảnh cụ thể. Kích thích sự phấn đấu và tinh thần vượt
khó làm giàu chính đáng trong mọi tầng lớp xã hội.
2/ Thiếu đầu tư đồng bộ hạ tầng cơ sở và tính bù trừ giữa nghĩa vụ và quyền lợi về thuế:
Một trở ngại không nhỏ trong việc xác định thu nhập
của người chịu thuế là sự thiếu đồng bộ về hạ tầng cơ sở. Những năm gần
đây, các ngân hàng đã nỗ lực đầu tư hệ thống giao dịch tự động qua máy
ATM, nhưng dường như những nỗ lực này chưa được cộng hưởng từ bên trong
hệ thống liên ngân hàng. Điều này cũng làm giảm tiến độ quản lý về mặt
nhà nước đối với người có thu nhập chịu thuế. Tuy chưa đồng bộ hóa trong
việc kiểm soát thu nhập và tiện ích ngân hàng, nhưng chính sách thuế
TNCN tỏ ra nóng vội khi áp dụng đại trà trong cả nước.
Theo số liệu của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,
trong số 5,2 triệu công nhân của cả nước, có đến bốn triệu người đang
phải ở trọ. Điều này cho thấy, hầu hết công nhân đều lao động xa nhà.
Các khoản trang trải cho các nhu cầu thiết yếu chiếm một phần không nhỏ
trong thu nhập của họ, kể cả tiền thuê phòng trọ, chi phí y tế,… Nhưng
việc cấp mã số thuế cá nhân cho các đối tượng này lại chưa được đề cao.
Cùng với mọi chi tiêu đều dùng tiền mặt và không có hóa đơn tài chính,
nên không thể hoàn thuế VAT là một thiệt thòi rất lớn cho người tiêu
dùng nói chung.
Cùng là một chính sách về thuế mà triển khai không
đồng bộ, không triệt để, vô hình chung Nhà nước đã tạo ra tâm lý so bì
trong chính sách. Người lao động nhận thấy Nhà nước chia nhỏ các bậc
thuế như là một công cụ rào đón đắc lực để thu thuế nhưng lại quên bảo
hộ chính sách hoàn thuế cho người tiêu dùng mà lẽ ra họ phải được hưởng.
Theo Báo cáo của The Economist, Việt Nam là
một trong 7 nền kinh tế mới nổi có nguy cơ tăng trưởng nóng cao nhất thế
giới. Chỉ đứng sau Venezuela và Argentina về tốc độ tăng giá tiêu dùng
trong vòng một năm trở lại đây, Việt Nam là một trong những nước có lạm
phát cao nhất trong 27 nền kinh tế được khảo sát. Mức tăng CPI so với
một năm trước của Việt Nam là xấp xỉ 20%. Nhập siêu còn cao, sản xuất
kinh doanh còn khó khăn, lãi suất tuy có dấu hiệu giảm nhưng còn cao,
ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, đời sống của người nghèo, người thu
nhập thấp còn gặp nhiều khó khăn. CPI năm 2008 là gần 23% so với 2007 –
tuy nhiên nhóm lương thực tăng gần 50% và nhóm thực phẩm tăng gần 33%.
CPI năm 2009 là gần 7% so với 2008 – trong đó nhóm lương thực, thực phẩm
tăng hơn 8%. CPI năm 2010 tăng tới 11,75% so với 2009 – nhưng nhóm hàng
ăn uống tăng hơn 16%. Tính tới tháng 6-2011, lạm phát đã lên đến
13,29%, dự kiến cả năm có thể lên tới 18-20%, vượt xa trần lãi suất.
Hơn 3 năm theo số liệu nêu trên, với tốc độ trượt giá
của riêng nhóm lương thực thực phẩm thì đủ thấy thu nhập của người dân
không theo kịp đà tăng giá. Bên cạnh đó, nhóm giáo dục cũng liên tục
tăng giá, trong đó có cả việc tăng học phí. Với đà tăng này, mức khởi
điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh bậc 1 theo Dự thảo trình Quốc hội
tháng bảy này xem ra đã lạc hậu.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp
dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo
đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển". Như vậy, với chính
sách thuế TNCN hiện còn nhiều điều bất cập và chưa đồng bộ giữa chính
sách thu thuế và bảo hộ thực hiện hoàn thuế. Nên chăng, Chính phủ và các
bộ ngành cần phải nghiên cứu thêm để xác định được ngưỡng “thu nhập
cao” song song với việc “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo
nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ” rồi hãy triển khai còn chưa
muộn. Hơn là vừa làm, vừa hoãn, vừa giãn, vừa sửa như hiện nay thì e là
quá phiêu cho một chính sách “phù thủng” bất nhất!.
SOURCE: TÁC GIẢ CUNG CẤP - LƯ QUANG VINH
Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com