Chính sách về xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện
Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Dân sự thì một bộ phận tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được chủ sở hữu thì được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước.
Tại Bộ luật Hàng hải, Nghị định số 14/1998/NĐ-CP
ngày 6/3/1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước, Nghị định số
92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Di sản văn hoá, Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 8/7/2005
của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hoá dưới nước, Nghị định
số 18/2006/NĐ-CP ngày 10/2/2006 của Chính phủ về xử lý tài sản chìm đắm
ở biển đã quy định về xác định chủ tài sản chìm đắm; trục vớt, bảo
quản, giao nhận tài sản chìm đắm; thăm dò, khai quật, quản lý, bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá dưới nước; khen thưởng đối với tổ
chức, cá nhân phát hiện và giao nộp cổ vật, di vật, bảo vật quốc gia
v.v…
Thời gian vừa qua, ngoài việc trục vớt các tài sản
gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải để đảm bảo an toàn giao thông
đường biển, Nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc khai quật, tìm kiếm, trục
vớt các tàu cổ chìm đắm tại vùng biển ở một số địa phương (Bà Rịa –
Vũng Tàu, Kiên Giang, Quảng Nam, Bình Thuận, Cà Mau…). Các cổ vật trục
vớt được từ các con tàu cổ này chủ yếu được chuyển giao cho các Bảo
tàng của Nhà nước (như Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử tại
thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Nhà nước
một số tỉnh, thành phố…) để thực hiện quản lý, lưu giữ, trưng bày theo
quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Một số trường
hợp, sau khi phân loại, đưa vào lưu giữ tại các Bảo tàng của Nhà nước
đối với các hiện vật độc bản hoặc tập hợp thành các bộ sưu tập có giá
trị văn hoá, lịch sử, khoa học (khoảng 10% số hiện vật trục vớt được),
số hiện vật còn lại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch và Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất khẩu
để bán đấu giá tại nước ngoài (như cổ vật trục vớt tại Cù Lao Chàm –
Quảng Nam, cổ vật trục vớt được tại vùng biển Bình Thuận, Cà Mau v.v…).
Có thể nói, việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị
chìm đắm được tìm thấy trong thời gian vừa qua đã góp phần vào việc đảm
bảo an toàn cho hoạt động hàng hải; góp phần lưu giữ, phát huy giá trị
văn hoá, khoa học, lịch sử của di sản văn hoá; khai thác nguồn thu cho
ngân sách nhà nước phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu, sưu tầm, lưu
giữ các di sản văn hoá, xây dựng cơ sở vật chất của các Bảo tàng cấp
tỉnh v.v… Tuy nhiên, còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như:
Thứ nhất, tại các văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành, đối với tài sản bị chôn giấu mới chỉ được quy định về
xử lý tài sản sau khi tìm thấy tại Điều 187, Điều 240 của Bộ luật Dân
sự và các văn bản ưới luật. Tuy nhiên, tại các văn bản hiện hành chưa
quy định trình tự xử lý từ khi tiếp nhận thông tin có tài sản bị chôn
giấu, bị chìm đắm do các tổ chức, cá nhân thông báo; các phương thức xử
lý; thẩm quyền lập, phê duyệt phương án xử lý; tổ chức xử lý tài sản bị
chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy theo phương án được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt, cũng như quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi
phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm v.v…;
do đó khi phát hiện hoặc xử lý tài sản tìm thấy rất lúng túng; cụ thể,
đối với tài sản bị chìm đắm đã được quy định tại Nghị định số
18/2006/NĐ-CP ngày 10/2/2006 của Chính phủ chưa được khép kín từ khâu
tiếp nhận, xử lý thông tin, tổ chức thăm dò, trục vớt, xử lý tài sản
được tìm thấy; chưa quy định hoặc quy định chưa rõ về quyền hạn và
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước liên quan đến công việc này.
Thứ hai, hiện nay chưa có văn bản quy phạm
pháp luật nào quy định cụ thể việc bán di vật, cổ vật thuộc sở hữu của
Nhà nước. Số di vật, cổ vật khai quật, trục vớt được sau khi đưa vào
lưu giữ tại các Bảo tàng, địa phương có di vật, cổ vật khai quật, trục
vớt được muốn bán để thu tiền nộp ngân sách nhà nước phải báo cáo Bộ
Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ
xem xét, quyết định cho xuất khẩu để bán đấu giá tại nước ngoài. Trong
khi đó, việc tổ chức bán đấu giá di vật, cổ vật ở trong nước chưa được
thực hiện do chưa có quy định.
Thứ ba, do thiếu kinh nghiệm về thị trường cổ vật thế giới, dẫn tới thiếu chính xác trong việc lựa chọn đối tác bán đấu giá, số lượng và
chủng loại cổ vật cho mỗi cuộc bán đấu giá, thị trường tổ chức bán đấu
giá… làm cho hiệu quả bán đấu giá không cao, ảnh hưởng tới uy tín của
cổ vật Việt Nam. Việc ký Hợp đồng uỷ thác bán đấu giá còn chưa chặt
chẽ, dẫn tới việc xử lý trách nhiệm của các bên có liên quan khi xảy ra
tranh chấp rất khó thực hiện (như cổ vật Cù Lao Chàm – Quảng Nam).
Thứ tư, chưa có cơ sở pháp lý quy định việc
quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi cho việc xử lý tài sản bị chôn giấu,
bị chìm đắm được tìm thấy, dẫn tới các cơ quan quản lý nhà nước phải xử
lý đối với từng vụ việc cụ thể.
Thứ năm, thực tế việc xử lý tài sản trục
vớt được không chỉ dừng ở việc bán đấu giá mà còn phải xử lý chuyển
giao cho cơ quan nhà nước có chức năng lưu giữ, quản lý, thực hiện tiêu
huỷ đối với tài sản không được phép lưu thông…; do đó, quy định việc xử
lý tài sản trục vớt với hình thức bán đấu giá dẫn đến địa phương lúng
túng trong việc xử lý tài sản trục vớt.
Do vậy, việc Chính phủ ban hành Nghị định số
96/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 về việc xử lý tài sản bị chôn dấu, bị
chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và
vùng biển Việt Nam; trong đó, trình tự xử lý tài sản trục vớt đã được
quy định khép kín từ khâu tiếp nhận, xử lý thông tin, tổ chức thăm dò,
trục vớt, xử lý tài sản được tìm thấy; đồng thời, quy định rõ về quyền
hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước liên quan đến việc xử lý
tài sản trục vớt cũng như quy định rõ việc quản lý tài chính (các khoản
chi phí, nguồn kinh phí, nguồn thu) trong việc xử lý tài sản bị chôn
giấu, bị chìm đắm … đã tạo lập hành lang pháp lý cho việc xử lý tài sản
khai quật, trục vớt được, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, vừa đảm bảo sự
đồng bộ, đầy đủ về khuôn khổ pháp lý đối với việc xử lý tài sản trục
vớt./.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN, BỘ TÀI CHÍNH – THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC CẬP NHẬT - CỤC QUẢN LÝ CÔNG SẢN, BỘ TÀI CHÍNH
Trích dẫn từ:
http://taisancong.mof.gov.vn/portal/page/portal/cqlcs/3232363?p_page_id=3330400&pers_id=3326060&folder_id=&item_id=3329194&p_details=1