Chữ nho với văn quốc ngữ - Phạm Quỳnh.
Phạm Quỳnh-Luận giải văn học và triết học/ Nhà xuất bản văn hóa Thông tin-Trung
tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Văn quốc ngữ do Hán văn mà ra, không thể dời khuôn phép của Hán văn mà thành
lập được; nhưng hiện nay chữ Hán không mấy người biết nữa, làm thế nào cho quốc
văn thành được? Có thể bỏ hết chữ Hán mà chỉ dùng tiếng Nôm được không?
Nếu không thể bỏ được, thì cách dùng chữ Hán trong quốc văn phải thế nào cho
thích hợp? Cả cái vấn đề “chữ Nho với văn quốc ngữ”, rút lại chỉ ở một câu sau
đó mà thôi, vì ai cũng thừa biết rằng bỏ hết chữ Hán mà chỉ dùng tiếng Nôm
không thể được, quốc văn mà dời cái khuôn phép của Hán văn không sao thành lập
được, ai cũng đã thừa biết như thế rồi, dẫu có người ngoài mặt không chịu công
nhận, mà trong lòng cũng phải ám nhận như vậy.
Nay muốn bàn về vấn đề ấy cho tường, tưởng nên chia ra hai đoạn như sau đây:
- Quốc văn là do Hán văn mà ra,
không thể bỏ chữ Hán mà không dùng được, cũng không thể dời khuôn phép của
Hán văn mà thành lập được;
- Sự dùng chữ Hán trong quốc
văn đã là một lẽ tất nhiên rồi, thì phải dùng thế nào cho thích hợp?
Điều thứ nhất thì phàm người nào đã biết lịch sử nước nhà cũng phải công nhận
như vậy. Nước ta học chữ Tàu trong hai nghìn năm, trong hai nghìn năm lấy chữ
Tàu làm văn tự chung trong nước. Chữ Tàu phổ thông trong dân gian cho đến nỗi
ngày nay vẫn còn có người gọi Hán tự là “chữ ta”, “chữ Việt Nam”. Thử về
chốn nhà quê mà đưa cho ông già hay đứa trẻ con một tờ chữ Nho hỏi là chữ gì,
tất ai cũng đáp là “chữ Việt Nam”.
Mười năm, hai mươi năm về trước, cử quốc theo Hán học, có ai nghĩ đến cái chữ
mình học là chữ của ngoại quốc đâu? Hiện nay trong phái cựu học ở Bắc Kì, Trung
Kì cũng vẫn còn nhiều người như thế. Cái tư tưởng lấy lời Nôm làm quốc văn là
tư tưởng mới phát ra gần đây mà thôi, và cũng chưa vào sâu trong dân gian cho
lắm.
Trước kia quốc văn tức là Hán văn, Hán văn tức là quốc văn, tự nhiên như
vậy, không ai bận lòng mà phân biệt chữ nào là chữ ngoài, tiếng nào là tiếng
mình, chỉ biết "văn" thì duy có Hán văn mà thôi, mà “Nôm” là lời tục
trong dân gian của những kẻ không biết “chữ”. Ta không phải phán đoán cái đó là
phải hay không phải, nên hay không nên, chỉ biết rằng đó là sự hiển nhiên như
thế và là cái chứng rõ rằng chữ Hán đã tiêm nhiễm vào trong trí não người nước
Nam sâu lắm rồi, đã thành cái biểu hiện tự nhiên cho tư tưởng cảm giác của
người mình trong mấy mươi thế kỉ nay.
Con khóc cha cũng làm văn tế bằng chữ Nho, chồng dặn vợ cũng viết thơ từ
bằng chữ Nho; coi đó thì biết chữ Nho phổ thông là dường nào, tức là cái văn tự
độc nhất vô nhị của nước mình. Mười năm, hai mươi nhìn về trước, nếu ta bảo một
người học trò nho rằng: “Cái chữ của bác học đó là chữ của nước ngoài, sao
bác không học tiếng nước mình, sao lại bỏ của mình mà đi mượn của người cho nó
phiền”, tất họ kinh ngạc không hiểu là chuyện chi, rồi cười mà cho mình là
người cuồng. Tất trong bụng họ nghĩ: “Chữ của ông cha, của tổ tiên mình,
vẫn học xưa nay, của cả nước mình tự vua quan cho đến người thường dân ai cũng
biết, sao lại gọi là trong với ngoài? Sao lại gọi của mình với của người? Anh
này gàn thật? Vẫn biết rằng chữ Nho là từ Tàu đem sang, nhưng đem từ đời kiếp
nghiệp lai nào, mình học đã tự bao giờ đến giờ, thì là chữ của mình chứ, còn
của ai”.
Xét cho cùng, lời nói đó, tuy mới nghe tưởng là vô lí, mà thật cũng có lẽ
lắm.
Chữ Nho tuy phát tích tự Tàu, mà từ thượng cổ đã không phải là một văn tự
riêng của một dân tộc Tàu. Chính nước Tàu đời xưa cũng không phải là một nước,
thực là một “thế giới” bao gồm biết bao nhiêu dân, bao nhiêu nước khác nhau.
Mỗi dân có một tiếng nói riêng, mỗi nước có một phong tục riêng, có dân nội
thuộc rồi độc lập mà vẫn chịu văn hóa của Trung Hoa.
Văn hóa ấy tràn khắp một cõi địa cầu, cảm hóa mấy trăm triệu người, dẫu văn
hóa Hi Lạp, La Mã bên Tây phương cũng không bành trướng được rộng bằng. Khí cụ
để truyền bá cái văn hóa ấy, tức là chữ Nho. Chữ Nho là một thứ chữ viết, không
phải là một thứ tiếng nói: đem vào nước nào thì theo thanh âm của nước ấy mà
đọc ra, chữ vẫn là chữ chung mà đọc theo thanh âm nước nào thành ra lời riêng
của nước ấy, nước nào cũng học chữ ấy mà đọc khác đi, nghe nhau không hiểu phải
viết ra chữ mới hiểu được. Không những các nước ở ngoài nước Tàu, mà đến các
tỉnh nội địa Tàu, tỉnh nọ đối với tỉnh kia cũng vậy; một người khách Quảng Đông
với một người khách Bắc Kinh nói chuyện với nhau, tuy toàn là lời chữ Nho mà
hai người tuyệt nhiên không hiểu gì cả, phải “bút đàm” mới biết là chuyện gì.
Cho nên người Tàu phải đặt ra một thứ tiếng riêng gọi là “quan thoại” để giao
thông với nhau, nhưng quan thoại là thứ tiếng của người làm việc quan mà thôi,
ai có học mới biết, cũng như là học một thứ tiếng ngoài ấy. Ấy người Tàu với
nhau còn vậy, huống chi là người Nhật Bản, người Việt Nam, hay là
người Cao Ly, tuy cũng chịu văn hóa của Trung Quốc, và lấy chữ Nho làm văn tự,
nhưng thâu nhập sang nước mình đã hầu thành như riêng của mình rồi. Thí dụ như
hai chữ “văn minh” vốn là hai chữ Nho, mà tiếng quan thoại Tàu đọc là wenming,
tiếng tỉnh Quảng Đông bên Tàu đọc là men min, không biết tiếng tỉnh Tứ
Xuyên, Phúc Kiến, Vân Nam, Quy Châu, v.v., hay là tiếng Mãn Châu, Mông Cổ, Tây
Tạng là những đất phiên ly của Tàu, còn đọc khác đi đến thế nào; đến tiếng Việt
Nam ta thì đọc là văn minh, mà tiếng Nhật Bản thì đọc là bunmei:
Bấy nhiêu xứ chỉ chung nhau có hai cái hình chữ, còn thanh âm thì khác nhau
biết dường nào. Hai cái hình đó giá cho là của Cao Li, của Nhật Bản, của Việt Nam hay là của
Mãn Châu cũng được. Chỉ vì nó xuất hiện ra trước nhất ở đất nước Tàu, chỉ vì
ngày nay người Tàu dùng nó nhiều hơn cả, nên ta gọi nó là chữ “Tàu” mà thôi.
Bởi thế cho nên nước nào xưa nay dùng thứ chữ đó cũng tự nhận là chữ của mình,
mà thiệt dễ cũng là chữ của mình đến một nửa, vì mình viết nó có giống người mà
mình nói nó ra giọng mình, người không hiểu được thế chẳng phải là của mình hay
sao? Nói rút lại, chữ Nho, nhất là chữ Nho “cổ văn” ta học có thể cho là một
thứ “tử văn”, nghĩa là một thứ chữ người ta không dùng để giao thông bằng lời
nói được, vì nó không có thanh âm nhất định, mà chỉ học để tập luyện trí thức,
để thấu hiểu các văn chương nghĩa lí của người đời trước để lại, văn chương
nghĩa lí ấy là cái kho báu chung của một phần nhân loại. Tức cũng như văn Hi
Lạp, văn La Mã bên Âu châu: văn Hi Lạp, văn La Mã cũng là “tử văn”;_ ngày nay
có còn ai nói tiếng Hi Lạp, tiếng La Mã như trong sách Homère hay sách Cicéron
nữa đâu? Tiếng Grec, tiếng Italien ngày nay không có giống tiếng Hi Lạp, La Mã
đời xưa một chút nào. Các nước Âu châu xưa nay học chữ La Mã, chữ Hi Lạp, mượn
hai thứ chữ ấy mà đặt tiếng mình, cũng tức như Việt Nam ta học chữ Nho, mượn
chữ Nho mà đọc chữ Nho ra âm vận Việt Nam vậy. Chỉ khác nước ta chịu văn hóa
Nho học lâu đời quá, nên tiếng Việt Nam đối với chữ Nho có cái quan hệ mật
thiết hơn là tiếng các nước Âu châu đối với chủ Hi Lạp hay chữ La Mã. Các nước
Âu châu không nước nào trong hai nghìn năm chỉ chuyên học chữ Hi Lạp hay chữ La
Mã như nước ta chuyên học chữ Nho vậy. Nhưng cái lí cũng như nhau. Vì nếu có
nước nào như vậy, thì tình trạng quốc văn của nước ấy tất cũng không khác gì
quốc văn ta bây giờ, nghĩa là không thể thoát li văn tự cũ mà thành được.
Ngày nay những người phản đối chữ Nho thường lấy hai cớ như sau này:
Một cớ là chữ Nho là chữ của người Tàu, người Tàu trong bao nhiêu lâu đã áp chế
dân mình, hiện nay vẫn còn tranh hết lợi quyền của người mình về đường buôn
bán. Người Việt Nam
nên ghét người Tàu mới phải, cớ chi lại học chữ Tàu, dùng chữ Tàu, để chịu lấy
cái áp chế vô hình của người Tàu nữa? - Người nào nói như vậy là lẫn việc văn
tự với việc chính trị, việc kinh tế. Người Tàu xưa kia về đường chính trị đã áp
chế ta nhiều, ta nên ghét là phải, nhưng sự ghét đó là thuộc về lịch sử, vì là
việc cũ rồi; người Tàu ngày nay về đường kinh tế vẫn tranh cướp lợi quyền của
ta nhiều, ta không ưa cũng là phải, nhưng không ưa thì phải làm thế nào, phải
bày mưu lập kế thế nào mà tranh lại những quyền lợi đó mới được, chứ cứ nói
ghét ngoài miệng thì có bổ ích gì? Còn như chữ Nho là văn tự của Tàu thì hiện
không có quan hệ gì đến chính trị kinh tế cả. Trên kia đã nói chữ Nho là một
thứ “tử văn” chung cho cả các nước Á đông đã chịu văn hóa của Nho học. Ta học
chữ Nho không phải là chịu quyền chuyên chế của người Tàu, tức cũng như người
Âu châu học chữ La tinh không phải là chịu quyền chuyên chế của người Ý-đại lợi
ngày nay. Ta học chữ Nho mà thử mở quốc sử coi, biết bao nhiêu phen ta đánh Tàu
siểng liểng, đuổi người Tàu ra ngoài bờ cõi nước nhà? Xét về vấn đề này phải
phân biệt rõ ràng, không nên lẫn việc nọ với việc kia mà cho rối trí.
Cớ thứ hai là nước ta trong hai nghìn năm theo đòi Nho học của Tàu, mà đến đời
nay, trước khi nước Pháp sang bảo hộ, thế nước yếu hèn như vậy, dân trí bán
khai như vậy, phần nhiều là tại Nho học. Nho học đã chẳng ra gì, mình còn nên
đâm đầu vào học chữ Nho làm gì nữa? - Những người nào nói như thế thật là không
có tư tưởng gì về lịch sử, và là bội bạc với tiền nhân. Không biết rằng nước
mình được như ngày nay đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm đoạn vẻ vang chẳng
kém gì người, thật là nhờ ở Nho học nhiều. Những bậc anh hùng, hào kiệt, chí
sĩ, cao nhân, hiển vinh cho nước, bởi đâu mà làm nên sự nghiệp vĩ đại; bởi đâu mà
để lại tiếng thơm đời đời? Chẳng phải là nhờ Nho học mấy đời hun đúc mới nên
dư? Chẳng phải là Nho học đã gây đựng ra gia đình, xã hội, quốc gia của ta dư?
Chắc ngày nay Nho học đã nhiều phần quá cũ rồi, không hợp thời nữa, nhưng cũ
là về phần hình thức mà thôi, còn phần cốt cách tinh thần, còn cái gốc đạo đức
của Nho học thì cùng với núi sông mà sống mãi muôn đời; ta nên bỏ là bỏ phần
hình thức phiền toái, còn phần cất cách tinh túy phải giữ lấy, vì nước ta còn
có mặt trên địa cầu là còn phải nhờ cái tinh thần cố hữu ấy mới sống được.
Nhưng muốn giữ tin tất thông thuộc tiếng nước mình, biết làm văn bằng lời mình,
hiểu các lẽ cương thường luân lí của tổ tiên, tỏ các công việc lớn lao của đời
trước, nghĩa là trước nhất đủ cái tư cách làm một người Việt Nam xứng đáng, bấy
giờ mới học tiếng nước ngoài và thâu thái lấy những điều hay lẽ phải mình chưa biết.
Hiện nay không có cái giáo dục chung cho cả quốc dân như vậy, thành ra người
nào theo Tây học từ thuở nhỏ, tuy nhiều người học giỏi thành tài, mà hình như
càng ngày càng cách biệt với quốc dân, lời ăn tiếng nói cho đến cách tư tưởng
cảm giác không gì là giống với người mình. Như vậy thì hiểu làm sao được những
điều cốt yếu trong nước, hiểu làm sao được rằng Nho học là cái học đã đào tạo
ra người mình, quốc văn là cái văn nguồn gốc tự chữ Nho, không thể bỏ chữ Nho
mà thành lập được? Ấy, bởi người mình không có một cái gốc giáo dục chung nên
mỗi ngày một phân lìa xa cách nhau, đối với một vấn đề quan trọng là vấn đề quốc
văn mà mỗi người bàn một cách, mỗi người nghĩ một đường, cách biệt nhau như kẻ
Việt người Tần vậy! Than ôi! câu chuyện quốc văn cứ bình tĩnh mà xét tưởng
không lấy gì làm khó cho lắm, mà vì phân lìa xa cách đó thành ra một vấn đề rất
phiền phức khó giải, khó là bởi mỗi phe đứng một phương diện, có mấy điều cốt,
có mấy lẽ chính, không chịu công nhận trước, đã vội ra sức tranh biện, chắc
không bao giờ đồng ý nhau được. Trước khi bàn về quốc văn, các nhà tân học phải
hiểu rằng quốc văn không phải bỗng dưng mà thành được không phải không nương
tựa vào đâu mà dựng nên được, tất cũng như muôn vật ở đời phải có nguồn gốc tự
đâu mà ra, và nguồn gốc ấy chính là Hán văn. Nay muốn ngăn nguồn bạt gốc đi thì
mong sao cho thành lập được? Phải lấy bình tĩnh mà suy xét như vậy, không nên
lấy cớ mình không biết chữ Nho mà cố đòi bỏ chữ Nho đi cho tiện, thế sao gọi là
nghị luận công bằng được? Bàn thế là thiên về phương diện cá nhân, không phải
là cách bàn chính đáng. Đã hay rằng hiện số người không biết chữ Nho mỗi ngày
một nhiều, nhưng không biết bởi quá theo thời mà quên gốc cũ, không thể cưỡng
bắt quốc văn cũng vong bản được. Người vong bản không thành nhân cách, văn lạc
nguồn không thể thành văn. Người còn có thể như cái chong chóng, theo chiều gió
mà xoay, văn tự một nước phải có cốt cách tinh thần, phải có tiếp trước nối sau
mới thành lập được. Đó là lẽ thực giữa đời, lẽ phải đương nhiên, ai cũng phải
công nhận trước đã, rồi mới nên bàn về quốc văn.
Nay nói rằng chữ Nho cần cho quốc văn, không phải là cầu cho người mình lại
trở về cái cách học phiền toái đời xưa đâu. Cách học đó đã không thành kết quả
tất trong bấy lâu, nay bỏ được là may lắm. Nhưng bỏ là bỏ cái phép dạy phép học
quá cũ của đời xưa mà thôi, không phải là bỏ hẳn chữ Nho mà không học nữa.
Trong tập du ký Nam Kỳ, tôi đã từng giải về lẽ đó. Tôi nói rằng: "Ngày nay
cần phải biết chữ Nho, không phải rằng phải học chữ Nho như lối ngày xưa đâu;
không phải rằng phải học cho làm được thơ, được phú, được văn sách, kinh nghĩa
như xưa đâu; không phải rằng lại phải trở về cái lối học khoa cử phiền toái,
khảo cứu tỉ mỉ như xưa đâu: Xưa học chữ Nho là vì chữ Nho mà học chữ Nho, nay
học chữ Nho là vì quốc văn mà học chữ Nho. Mục đích đã khác, phương pháp cũng
phải khác.
Xưa phải dùi mài kinh sử, nung nấu cổ văn, phí mất một phần đời người mới chiếm
được một tên trên bản vàng, mới được thanh danh nhà văn sĩ. Nay chỉ học cho đủ
sự cần dùng về quốc văn mà thôi, chỉ học cho đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều
hay một quyển Lục Vân Tiên mà thôi, thì tưởng cũng chẳng khó khăn gì. Trước
trăm phần, nay không được một phần. Nhưng cái một phần ấy rất cần, không biết
thì không thể nào cầm ngọn bút mà viết thành bài văn quốc ngữ được, dầu tài giỏi
khôn khéo đến đâu cũng. không làm thế nào ra cái hơi văn Việt Nam được, vì
cái hơi cái giọng ấy là tự mấy mươi đời truyền lại cho ta, không phải tự mình
ta đặt lấy ra được. Cho nên những người nào đã quyết không cho văn quốc ngữ là
cần, đành bỏ vào cái địa vị đào thải, chỉ đợi đến ngày tiêu diệt cho xong, thì
không nói làm chi, còn ai đã có bụng thương đến tiếng nước nhà, muốn gây dựng
cho thành một nền quốc văn xứng đáng, thì không thể nào đoàn tuyệt với cái cổ
điển của ông cha được, mà cái cổ điển ấy, ngoài chữ Nho không kiếm đâu cho thấy
được”.
Vậy nay muốn của quốc văn thành lập, người nước ta không thể bỏ chữ Nho mà không
học được. Phải nên bỏ cái lối học phiền, lối học cầu kì câu nệ đời xưa, nhưng
chính chữ Nho không nên bỏ, vì bỏ không được. Duy có không cần phải học nhiều
như người trước, chỉ phải học vừa đủ cho biết những chữ cần dùng cùng những lề
lối thường của Hán văn mà thô,. để lâm thời có thể mượn và dùng trong quốc văn:
và khi đọc những thơ văn Nôm của người trước để lại có thể hiểu ngay được.
Cách học như vậy, tưởng không khó gì, chỉ dụng công trong vài năm là thông,
đủ đọc được những sách thông thường bằng Hán văn. Vì như ở trên đã nói: ta học
cho Hán là vì quốc văn mà học, để giúp ích cho quốc văn, không phải là vì chữ
Hán mà học như xưa nữa. Quốc văn là phần chính, chữ Hán là phần thuộc; quốc văn
là cứu cánh, chữ Hán là phương tiện, nhưng là cái phương tiện rất cần, không có
không được. Thế là đủ, không cần phải học hơn nữa.
Nay đã giải rõ các lẽ đủ biết rằng chữ Nho cần cho quốc văn, không thể bỏ
chữ Nho mà mong quốc văn thành được. Vậy xét đến đoạn thứ hai và bàn về cách
nên dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ thế nào cho thích hợp. Đã nói cả vấn đề
quốc văn chỉ rút lại có một câu hỏi đó mà thôi.
Các nhà để bụng về quốc văn trước sau cũng chỉ tranh biện nhau có một câu đó
mà thôi. Những người hẹp hòi thiên lệch không chịu nhận rằng tiếng nước mình
đối với chữ Nho có cái dây liên lạc rất bền chặt không thể cắt đứt đi được, thì
không nói làm chi, còn những người đã biết như vậy, vẫn còn phân vân chưa biết
nên dùng chữ Nho thế nào cho thích hợp. Người thì nói hiện nay những chữ gì đã
thường dùng: nhiều người biết rồi thì cứ nên dùng: vì những chữ ấy hình như đã
“nhập tịch” vào tiếng Việt Nam
rồi, còn những chữ gì khó và lạ không nên dùng. Người thì nói sự dùng chữ Nho
là một sự bất đắc dĩ, phàm cái gì có thể nói ra Nôm được thì không nên dùng
chữ, dù cho đã thông dụng mặc lòng; còn cái gì Nôm vốn không có mà có thể đặt
tiếng mới ra cũng nên đặt, còn hơn là mượn chữ sẵn. Lại người thì nói cách dùng
cho Nho phải để tùy nhà văn, chọn chữ nào là đẹp lời, lọn nghĩa, dễ đọc, dễ
nghe, hợp với ý nghĩa câu văn thì cứ việc dùng, không quản gì là chữ đã thông
dụng hay chưa thông dụng, nhiều người biết hay ít người biết, vì nếu chưa thông
dụng dùng rồi mà hay tất thông dụng, nếu ít người biết dùng rồi mà phải tất nhiều
người biết. Vả chữ Nho là cái kho vô tận, nhà văn ta được tha hồ mà kén chọn,
mà lượm lặt, mà điều hòa với tiếng Nôm cho quốc văn mỗi ngày một phong phú thêm
lên. Lại người thì cho rằng bao nhiêu những chữ về cách trí triết học Tàu tuy
cũng dịch theo Âu châu mà chữ Tàu lão luyện thâm thúy, dịch vừa đúng nghĩa, vừa
trang nhã, tiếng Nôm mình không bao giờ dịch cho bằng được, ta cứ nên mượn cả
của Tàu mà dùng; còn các chữ thường khác thì để tùy ý nhà văn muốn dùng thế nào
thì dùng, miễn là lời lẽ được chải chuốt thanh thoát thì thôi.
Bấy nhiêu người nói đều có lẽ phải cả, mỗi người phải ra một đường, nhưng
chưa ai bàn thấu triệt đến căn để mà bày được một phép tắc nhất định làm chuẩn
đích. Cứ thực mà nói, sự dùng chữ Nho trong quốc văn thật không thể nhất định
thế nào là vừa phải được? không biết lấy gì làm bằng mà đặt phép tắc được. Như
luận giả thứ nhất nói chỉ nên dùng những chỗ thông dụng mà thôi, nhưng cũng khó
lòng mà biết chữ gì là thông dụng, chữ gì là không thông dụng, chữ gì là đã
“nhập tịch” tiếng Việt Nam, chữ gì là chưa “nhập tịch”. Nếu gọi
chữ thông dụng là những chữ dễ hiểu, nhiều người biết, thì những chữ ấy phần
nhiều là chữ trong tiếng Nôm ta đã có rồi, có cần gì phải dùng, và dùng nữa thì
có bổ ích gì cho quốc văn cho lắm? Như: nhĩ mục là “tai mắt”, tâm
tư là “bụng nghĩ”, sơn xuyên là “núi sông”, hoa thảo là “hoa
cỏ”, thì dùng chữ hay dùng Nôm cũng vậy, tùy cái điệu câu văn ưa Nôm thì dùng
Nôm, ưa chữ thì dùng chữ, không hề gì. Đến như những chữ nghĩa đã hơi cao một
chút, tiếng Nôm đã khó tìm được tiếng tương đương, mà người nào biết thì cho là
chữ thường, người không biết cho là khó, là lạ. Như chữ dĩnh ngộ, chữ
lỗi lạc, chữ hoài bão, chữ cảm khái, tất người biết chữ
Nho là thường, mà người biết ít đã lấy làm khó hiểu rồi.
Cho nên muốn phân biệt cho rõ chữ nào là thông dụng, chữ nào là không thông
dụng thật không phải là dễ.
Luận giả thứ nhì nói nên hết sức chỉ dùng Nôm mà thôi, không có tiếng cũ thì
đặt tiếng mới ra, bất đắc dĩ mới dùng đến chữ. Nói thì dễ lắm, mà làm thường
không được dễ như vậy. Sự đặt tiếng không phải là một việc dung dị, xưa nay
không ai dụng tâm mà đặt được tiếng mới bao giờ: phàm các tiếng mới là tự nhiên
mà tạo thành, tự nhiên mà phổ thông. Một người tình cờ nói ra trước: nếu cái
tiếng ấy gọn ghẽ dễ nghe thì người khác cứ thế mà nói, bao giờ nghĩ đến sự đó
tất dùng đến tiếng đó, thế là thành tiếng thông dụng. Đến như nói rằng bất đắc
dĩ hẵng nên dùng chữ Nho thì cứ các lẽ đã giải trên kia, tưởng sự bất đắc dĩ
cũng là một sự thường vậy; bất đắc dĩ mà đã thành lệ thường thì sao gọi là bất
đắc dĩ được?
Luận giả thứ ba nói rằng sự dùng chữ Nho trong quốc văn phải để tùy ý nhà
làm văn cân nhắc lựa lọc mà dùng, không thể hạn định trước được. Điều đó thì
rất phải: nghề văn cũng như mọi nghề khác, phải để cho nhà nghề dược rộng quyền
tự do mới được. Nhưng tự do không phải là không có phép tắc, tha hồ muốn dùng
chữ thế nào thì dùng. Ít ra cũng phải biết cách cân nhắc lựa lọc thế nào là
thích nghi. Cái đó là ở tài lành nghề của nhà văn phải tự biết hạn định lấy.
Luận giả thứ tư nói những chữ về cách trí triết học nên theo Tàu, còn các chữ
thường nên tùy tiện mà dùng. Chắc rằng chữ Nho dịch các danh từ về cách trí
triết học của Âu châu nhiều chữ dịch đúng và gọn ghẽ lắm, tiếng ta không tài
nào dịch được bằng, và mượn ngay tiếng Tây ra cũng khó cho được thanh thoát; ta
nên mượn của Tàu mà dùng, nhưng cũng phải lựa lọc mới được, chữ nào có thể theo
tiếng Tây được thì nên theo, chứ nói nhất thiết mượn chữ Nho cả thì cũng quá.
Ấy ý kiến của nhiều người về sự dùng chữ Nho còn phân vân như vậy. Muốn đặt
phép tắc nhất định cho biết dùng chừng nào là phải, chừng nào là quá, thì khó
lắm. Cái giới hạn đó phải để tùy nhà làm văn ước lượng lấy, dùng thế nào mà lời
văn được thanh thoát là vừa, dùng thế nào mà lời văn phải trắc trở là quá. Phải
đương khi viết văn mới cân nhắc được, không thể đặt lệ trước được.
Vậy chỉ nên khuyên các nhà văn nên cẩn thận về sự dùng chữ; tùy mỗi lối văn
nên dùng nhiều hay dùng ít, phải chọn những chữ thật đích đáng, vừa gọn ghẽ,
vừa trang nhã, vừa dễ học, dễ nghe, mà cốt nhất là đúng với cái nghĩa nên dùng,
xứng với cái ý câu văn; nếu bạ đâu dùng đấy, làm cho câu văn bề bộn những chữ
vô ích, hoặc lời Nôm đã đủ gọn ghẽ mà còn pha thêm chữ vào cho phiền, hoặc dùng
những chữ sáo tầm thường không hay bằng Nôm, đều là quá đáng cả. Văn nào như
vậy là văn không thông thoát, người đọc tất không ưa, và người làm văn ví sành
nghề cũng tự biết.
Song sự dùng chữ tuy không có phép tắc nhất định, mà cũng không ngoài mấy lệ
thường như sau:
Phải tùy tính cách và trình độ bài văn. Thế nào gọi là tính cách văn? Văn có
nhiều lối đã đành, mà văn cũng có nhiều hạng. Có hạng văn phổ thông nói những
sự tầm thường cho ai ai cũng dễ hiểu dễ biết, như văn chép tin tức trong các
nhật báo. Văn ấy thì cần gì phải dùng đến chữ Nho nhiều? Có hạng văn tả tình,
tả cảnh, du hí, khôi hài đã cao hơn hạng trên một tầng và phải có ý vị lí thú
mới hay, tất có nhiều ý lời ta nói không hết, nhiều cảnh tiếng Nôm tả không
thấu, phải mượn dăm ba chữ cho nó nổi ý nghĩa, chỉnh lời văn và khỏi tục tằn:
như tả người anh hùng thường dùng những chữ can đảm, chí khí, khảng khái, oanh liệt,
v.v.; tả người tài hoa thường dùng những chữ nho nhã, phong lưu, thông minh,
tuấn tú, v.v.; lại muốn nói đến cái bụng người ta mưu muốn những sự to lớn,
mong mỏi những việc cao xa tất phải dùng đến như hoài bão v.v.; ấy đại loại
hạng văn này phải mượn chữ như vậy, phần nhiều cũng là những chữ Nho thường
dùng cả. Thợ vẽ ta có cái lối gọi là “điểm nhỡn”, nghĩa là khi vẽ bức tranh
người, các phần vẽ xong cả rồi duy có hai con mắt là chưa, nên tuy vẽ đẹp đến
đâu coi vẫn chưa có tinh thần; bấy giờ người thợ mới điểm hai con ngươi, tức
khắc trông bức tranh nổi ngay và coi như có vẻ linh hoạt. Trong lời văn Nôm
cũng vậy, phải tùy chỗ mà đặt một vài chữ cho xứng đáng, tức như cái lối “điểm
nhỡn” của thợ vẽ, không thời lời văn lạt lẽo và không khỏi tục tằn. Lại có hạng
văn kỉ thuật, nghị luận, hạng này cao hơn hạng trên một tầng nữa. Văn kỉ thuật
tức là văn sử; mà làm sử phải có ngọn bút nghiêm trang, đời xưa cho sử là có
quyền bao biếm, nghĩa là phán đoán khen chê các công việc người đời, tất phải
công bằng lắm mới được. Theo nghĩa đời nay, sử tuy không có cái ý nghiêm khắc
như vậy, nhưng những việc đã đáng chép đáng thuật để lưu truyền lại, không phải
là việc tầm thường, lời phải trang nghiêm, phải xứng đáng mới được; rất kị là
những giọng hoặc tục tĩu sỗ sàng, hoặc tầm thường quá, vì tầm thường cũng không
được, bình dị thì được, tầm thường với bình dị có khác nhau. Nay muốn dùng rặt tiếng
Nôm cả không dùng chữ, có thể tránh được những điều đó không? Chắc rằng không,
vì Nôm thường là tục, quá Nôm không khỏi tục. Thí dụ như thuật việc vua ra Bắc
Kì, nếu nói: “ông vua Việt Nam
đi chơi Bắc Kì, nay đã về kinh rồi”, nghe nó sống sượng quá, như lời người
ngoại quốc mới học tiếng ta vậy, không phải là thể văn kỉ thuật một việc lớn trong
nước. Nếu dùng mấy chữ Nho thông dụng về những cơ hội đó mà nói: “Hoàng thượng
ngự giá Bắc Kì, nay đã hồi loan", có phải là lời văn trang trọng và có sự
thể biết bao! Những chữ ngự giá, hồi loan là những chữ thường dùng về việc vua
đi lại, nhà làm văn Nôm tất phải biết. Hoặc giả cho cách làm văn thế là phiền,
nhưng đã gọi là “văn” tất phải có “phiền” một chút, nếu cứ trơ như không thì
dầu không tục cũng không văn được. Vả ngay tiếng Tây cũng vậy, cùng một ý mà
cũng có nhiều hạng chữ, cao thấp khinh trọng khác nhau, phải tùy chỗ mà dùng.
Trong tiếng ta, đại để nghĩa thường bao giờ nói bằng nôm cũng đủ, đến cái ý
nghĩa đã cao cao một chút thì tiếng Nôm thường hụt không tới kịp, tất phải mượn
ít nhiều chữ mới diễn được hết ý.
Đến như văn nghị luận cũng vậy. Nghị luận là đem ý kiến ra bàn bạc tức là
chọi ý kiến với nhau, lời văn tất phải tinh tường gãy gọn mới được; rất kị là
những tiếng ám nghĩa, những giọng hàm hồ, hiểu ngược cũng được, hiểu xuôi cũng
được, như vậy thì lời bàn sao cho xác lí? Tiếng ta gọi là tiếng “Nôm”, nghĩa là
tiếng thông thường trong dân gian; tiếng thông thường trong dân gian thường có
nhiều tiếng hàm hồ, vì người thường có nghe lẫn nhau mà biết, không hay định
nghĩa được phân minh. Dùng vào văn nghị luận tất phải mượn thêm chữ Nho để diễn
những ý nghĩa mà tiếng ta nói không hết được. Những ý nghĩa ấy trong một bài
nghị luận thường nói đi nhắc lại nhiều lượt, bàn ngược xét xuôi nhiều lần, nếu
không có chữ gọn ghẽ mà nói, phải diễn ra lời Nôm lôi thôi, thì thật là phiền
cho sự nghị luận vô cùng. Ví dụ bàn về số người mình bắt chước và hóa theo
người Âu châu là hay dở thế nào, nếu phải nói dài như vậy mà nhắc đi nhắc lại
đến mười lần thì phiền biết dường nào? Chi bằng dùng một chữ "Âu hóa"
tiện biết bao nhiêu? Đại để văn kỉ thuật và văn nghị luận đã là hạng văn trang
nghiêm thiết thực tất phải mượn chữ Nho nhiều hơn hạng văn đạo tình tiêu khiển
trên kia.
Sau nữa đến văn thuyết lí giảng học, hạng ấy là hạng cao hơn nhất, xưa nay người
mình không dùng tiếng Nôm bao giờ. Ngày nay nghiệm ra thấy tiếng Nôm cũng có đủ
tư cách mà dùng về các lối văn đó được, nhưng phải mượn chữ nhiều hơn các hạng
trên. Điều đó không những một tiếng Việt Nam mình mới thế. Dẫu các tiếng Âu
châu về hạng văn thuyết lí giảng học cũng không thể không mượn cổ văn cổ điển
mà đủ dùng được. Tiếng Âu châu thì mượn chữ Grec (Hi Lạp), chữ Latinh (La Mã),
là hai thứ văn cổ điển của các nước Tây phương. Tiếng Việt Nam mình tất
phải mượn chữ Nho, là cái văn cổ điển của ông phương ta. Văn thuyết lí giảng
học lại càng trọng trang nghiêm lắm; không nói rằng tiếng Nôm mình không tài
nào đủ mà diễn được những lí tưởng học thuyết mới, cho dẫu một đôi khi cố tìm tòi
mãi, cố dàn diễn mãi mà cũng có thể tiệm tiệm đủ được nhưng thường không tránh
khỏi cái tệ nôm na. Nói những sự cao xa mà dùng lời nôm na quá, không những
không được gọn ghẽ thanh tao, mà sao cho xứng đáng! Các tiếng Âu châu, kể còn
giàu hơn tiếng Việt Nam mình biết bao nhiêu, mà về đường học thuật nghĩa lí
phần nhiều chữ dùng là gốc tự Grec, Latinh ra cả; cứ giở ngay một quyển tự điển
Pháp, bất cứ trang nào, nhìn qua một lượt, có phải nhan nhản những chữ gốc tự
Grec, tự Latinh không? Còn chữ gì tầm thường bằng chữ individu (mỗi người,
người một, cá nhân); thử tra xem gốc tự đâu? Gốc tự chữ La Mã individuus,
nguyên nghĩa là cái gì không phân rời ra được, trọn vẹn một mình, tức là tiếng một
phần, biệt một người, không dính dáng với phần khác, người khác. Lại chữ
socléte (xã hội), là do chữ La Mã societas; chữ autocrate (vua chuyên chế), do
chữ Hi Lạp autokrates, bởi hai chữ autos nghĩa là tự mình, kratos nghĩa là
quyền lực, quyền lực tự mình, muốn làm gì thì làm; chữ autonomie (tự
trị), là gồm hai chữ Hi Lạp autos, tự mình, nomos, pháp luật, pháp
luật tự mình; v.v… Ai có thời giờ cứ thử ngồi giở chơi một quyển tự điển
Pháp xem có phải trang nào cũng đầy những chữ như vậy không. Tiếng Pháp mượn
chữ của La Mã, Hi Lạp mà phát âm ra giọng Pháp, có khác gì tiếng ta mượn chữ
Nho mà phát âm ra giọng ta không? Người Pháp nói autocrate mà không nói
autokrates, có khác gì ta nói chuyên chế mà không nói tchoen khe (theo tiếng
quan thoại Tàu) không? Đó còn là những tiếng thường thường, đến những tiếng nói
về nghĩa lí cao, thì lại mượn của Hi Lạp, La Mã nhiều hơn nữa. Như: philosophie
(triết học), là do chữ Hi Lạp philos, người bạn, người hay ưa sự gì, sophia, sự
nghĩa lí điều khôn ngoan, tức là người ưa xét những điều nghĩa lí khôn ngoan;
esthétique (mĩ học, học về sự đẹp), là do chữ Hi Lạp aistêtikos; métaphysique
(siêu hình học, thuần lí học do chữ Hi Lạp meta và physica, chính nghĩa là học
sau những vật có hình, tức là học về những sự ở trên, ở ngoài hình thức, về các
lẽ mầu nhiệm siêu việt của trời đất; géograhie (địa dư học), bởi hai chữ Hi Lạp
geo, đất, graphein, tả, vẽ, nghĩa là hình dung tả vẽ về đất, tức là học về đất;
v.v.. ấy bao nhiêu những chữ về học lí đều do có ăn mà đặt ra; có ai kêu rằng
tiếng Pháp phải đi mượn chữ ngoài nhiều không? Coi đó thì biết sự mượn chữ cổ
văn là những chữ đã thành thuộc lão luyện rồi để diễn những điều nghĩa lí cao
xa, không có ngại gì cả. Càng mượn được càng hay, miễn là mượn cho cẩn thận thì
thôi. Tất những chữ mới mượn nghe có lạ tai, nhưng vì những sự vật, những nghĩa
lí của các chữ ấy chỉ ra cũng là mới cả, xưa nay chưa từng biết bao giờ, đã có tên
đâu mà gọi thường? Đến khi những nghĩa lí, những sự vật ấy trong trí đã quen
rồi, thì chữ dùng để gọi nó ra ta nghe cũng không lấy làm lạ nữa. Trước kia đã
từng lấy sự đẹp làm một môn học đâu, mà ta thường dũng chữ "mĩ học"
(ésthetique). Trước kia ta đã từng phân biệt đâu trong tam giới người ta có hai
phần, một phần “ý thức” (conscience), là chỉ phần sáng suốt và cảm biết các vật
các lẽ, một phần “tiềm thức” (subconscience) là cái phần u âm, ở dưới ý thức
gồm những tư tưởng cảm giác phảng phất mập mờ, trong khi mơ ngủ thường xuất
hiện ra trong trí người ta; ta đã từng phân biệt đâu như vậy mà thường dùng đến
những chữ “ý thức” và “tiềm thức”? Chữ chẳng qua là cái áo bọc, cái tên gọi
những tư tưởng cùng sự vật; có biết đến sự vật ấy, có nghĩ đến tư tưởng ấy thì
mới tìm tên gọi cho xứng đáng, tìm áo bọc cho vừa vặn. Học giả là người hay sưu
tầm nghiên cứu những điều hay lẽ phải, ý mới vật lạ, cố diễn giải ra lời nói
câu văn mà đem công bố ra trước mọi người, tất lúc mới đầu nhiều người chưa
quen chưa hiểu lấy làm lạ mắt lạ tai, nhưng dần dần đã hiểu đã quen rồi thì có
lạ gì? Chữ mới chỉ mới một lúc đầu thôi; nếu là cần dùng thiết thực thì chẳng
bao lâu thành phổ thông ngay.
Dùng một lần còn mới, dùng vài ba lần thì nghe đã quen tai, đến mười lần thì
đã cũ rích vậy. Mười năm trước ai từng nói đến những tiếng như văn minh, xã
hội? Thế mà bây giờ những tiếng ấy thông dụng rồi. Ngày nay những tiếng như
quan niệm, thái độ nghe còn lạ tai, an trí ít lâu nữa lại chẳng thành những
tiếng thường dùng? Tiếng Việt Nam
ta đối với chữ Tàu vốn có cái “hấp lực” rất mạnh, cốt là bây giờ dùng chữ nào
phải định nghĩa phân minh chữ ấy là đủ.
Nay nói riêng về sự mượn những danh từ khoa học mới, phải nên phân biệt như
sau này.Đại khái các môn học mới của Thái Tây ngày nay chia ra làm hai hạng:
một hạng chuyên học về “vật giới” (sciences physiques et naturelles), nghĩa là
những vật có hình trạng, thể trạng như hóa học, địa chất học, động vật học,
v.v.; một hạng chuyên học về “tâm giới” (sciences morales), nghĩa là những sự
vô hình thuộc về tâm trí người ta, như triết học, ưu học, tâm lý học, v.v..
Muốn đặt một lệ chung đại khái làm bằng thì có thể nói rằng bao nhiêu những chữ
về “tâm giới” nên mượn chữ Nho nhiều hơn, vì chữ Nho về phần ấy vốn giàu lắm và
thâu nhập vào tiếng Nôm cũng đã nhiều; còn những chữ về “vật giới”, thì phần nhiều
hoặc nên tùy hình chất mà đặt tên Nôm cho dễ gọi, hoặc nên theo chữ Tây mà
phiên dịch ra cho tiện hơn, khi nào cần hãy nên mượn chữ Nho. Song lệ đó cũng
không thể cho là nhất định hẳn được; khi mượn chữ đặt tiếng phải tùy nghi châm
chước, cầu cho thích đáng.
Ấy là kể qua tính cách các hạng văn ưa dùng chữ Nho ít nhiều thế nào. Đến
trình độ văn hóa cũng là do ở tính cách ấy mà ra, nghĩa là tùy thể văn mà trình
độ hoặc cao hoặc thấp, hoặc trung bình. Lối văn phổ thông nói những điều tầm
thường cho phần nhiều người dễ hiểu, thì không cần phải mượn chữ Nho mấy tý,
chỉ những chữ nào đã thành thuộc lắm mới nên dùng mà thôi. Thuộc về lối đạo
tình tiêu khiển, thì tiếng Nôm khá giàu, các thơ Nôm, truyện Nôm, ca Nôm, vè
Nôm, đã đầy những tiếng những chữ sẵn; lại tục ngữ ca dao cũng là cái kho rất
phong phú, nhà văn bất tất phải dùng chữ Nho cho lắm, chỉ thỉnh thoảng điểm một
vài chữ Nho cho nó nối câu văn mà thôi. Văn kỷ thuật, nghị luận, đã vào bậc cao
rồi, như trên kia đã nói cần phải mượn chữ Nho nhiều hơn các hạng trên thì lời
văn mới được trang nghiêm và khỏi xốc nổi. Đến văn thuyết lý giảng học là văn
cao hơn nhất, mượn chữ Nho lại phải nhiều hơn cả, vì tiếng Nôm quyết không đủ
dùng. Coi đó thì biết trình độ văn càng cao bao nhiêu lại càng cần phải dùng
chữ Nho bấy nhiêu. Đó cũng là lẽ cố nhiên, vì văn Nôm xưa nay chỉ dùng vào bậc
phổ thông mà thôi, từ văn nghị luận trở lên các cụ ngày xưa không từng viết Nôm
bao giờ, cho nên trình độ văn càng cao lên lại càng phải mượn chữ nhiều mới đủ
dùng.
Cách dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ phải tùy trình độ văn đã đành rồi, trong
khi dùng chữ các nhà làm văn lại phải cẩn thận về cách kén chọn lựa lọc nữa, dù
lối văn nào cũng vậy. Chữ Nho có chữ tục, có chữ nhã, có chữ điểm vào lời nôm
dễ nghe, làm cho tôn trọng lên, có chữ dùng lẫn với tiếng ta sống sượng khó
nghe, có chữ đặt vào đoạn này thì xứng đáng mà để vào đoạn kia thì bề bộn, khéo
biết dùng cho thanh thoát là tài riêng của nhà văn, không thể định trước được.
Người làm văn khéo thì chữ dùng hồn nhiên, nghĩa là chải chuốt trơn tru, đặt
vào lời Nôm, như hóa thành Nôm, để vào chỗ nào như in vào đấy, tưởng bỏ ra mà
đặt chữ khác thay không được.
Phàm dùng chữ nên định nghĩa cho rất phân minh, nhất là các danh từ mới.
Danh từ mới là diễn dịch các nghĩa lý mới, dùng phải đường và trúng nghĩa thì
hay lắm, nếu hàm hồ hỗn độn thì không gì hại bằng, vì làm lầm người sau cứ theo
đó mà dùng sai đi. Chữ mới phần nhiều là của Tàu dịch hoặc định nghĩa theo
tiếng Âu châu, nhưng chữ Tàu vốn phong phú, xếp đặt dễ và khéo, vừa đúng nghĩa,
vừa gọn ghẽ, lại vừa hồn nhã, có những chữ hay hơn nguyên văn Tây nhiều. Nhà
văn ta phải thuộc các chữ mới hiểu rõ được. Cho nên nhiều nhà Nho cũ thông chữ
Nho mà không hiểu được các chữ Nho mới đó, có khi dùng cũng sai lầm như người
không biết chữ vậy.
Tư tưởng với văn tự phải tiến ngang nhau; có tư tưởng mà không đủ chữ nói,
như phần nhiều các nhà Tây học ngày nay cũng phiền; có chữ dùng mà không hiểu
các nghĩa lý mới, dùng chữ hàm hồ, như phần nhiều các nhà cựu học bây giờ, cũng
bực.
Thường nghe nhiều người mới đọc qua mấy quyển tân thư Tàu như tập Ẩm băng
của Lương Khai Siêu hay tập Du ký của Khang Hữu Vi, thuộc được ít nhiều chữ
mới, chưa hiểu rõ ý nghĩa thế nào, cầm bút viết tất dùng những chữ: thiên diễn,
đào thải, tiêu cực, tích cực, khách quan, chủ quan, v.v., bấy nhiêu chữ đều có
nghĩa nhất định cả, mà không hiểu rõ thường dùng lộn bậy chẳng đâu vào đâu; lại
nhiều người hay chứng dẫn các tên người, vơ váo chẳng ăn thua vào đâu; bất cứ
nói chuyện gì tất phải gọi đến tên ông Nã Phá Luân (Napoléon), ông Tỉ Ti Mạch
(Bismark), ông Khả Luân Bố (Christophe Colomb), ông Đạt Nhĩ Văn (Darwin), ông
Lư Thoa (Rousseau), ông Mạnh Đức Tư Cứu (Montesquieu), ông Ti Tân Tặc (Spencer),
kéo một thôi một sốc các ông thánh mới ra, thật là vô vị quá. Không hiểu chữ mà
dùng chữ loạn không gì hại bằng. Cho nên trong khi mượn chữ mới của Tàu phải
hiểu rõ những chữ ấy chỉ sự gì vật gì; phải định nghĩa cho phân minh, rồi chỉ
dùng về một nghĩa đó mà thôi. Có vậy thì sự mượn chữ mới có lợi, không thời hại
cho quốc văn nhiều lắm.
Còn một điều nữa về các tên đất tên người: nên dịch theo tiếng Tây hay bắt chước
chữ Tàu? Cứ lẽ thời theo tiếng Tây cả là phải lắm, chỉ trừ những tên người tên
đất riêng của Tàu thì nên đọc theo chữ Nho mà thôi. Nhưng có nhiều tên đất tên
người ta đọc theo của Tàu đã quen rồi (như Âu châu, Á châu, nước Pháp, nước
Đức, ông Nã Phá Luân, ông Hoa Thịnh Đơn) không ai là không dùng, và không ai là
không hiểu. Và những tên ấy dịch âm ra giọng mình dễ nghe hơn là đọc ngay giọng
Tây; trong một bài quốc văn, “Âu châu” đọc chẳng dễ nghe hơn là Europe, “Đại
Tây Dương” hơn là Océan Atlantique ư? Vậy nay tưởng có thể định một lệ chung
như sau này: trừ tên các đại châu các bể lớn, cùng mấy cái sông mấy cái núi lớn
trong thế giới, đọc theo chữ Nho đã quen lắm rồi thì cứ đọc theo như vậy, có
muốn rõ khi viết nên chua tên ấy ở bên cạnh còn hết thảy tên người tên đất khác
trong sách Tây nên đọc theo viết theo tiếng Tây cả cho có bằng cứ và dễ tra
khảo. Ngày nay, dầu người không biết chữ Tây mà chỉ biết quốc ngữ đọc vần Tây
cũng được, có sai cũng không sai mấy, còn hơn là theo hẳn chữ Tàu, vì Tàu đã
theo tiếng nước khác, mình lại theo Tàu, thành ra cách mấy lần, còn biết dò đâu
mà tra cứu được. Như nói: “Dublin, Manchester, Edimbourg là ba tỉnh thành lớn
của nước Anh”; tên “Anh” đó tuy là đọc theo chữ Tàu đã thông dụng lắm rồi, ai
cũng biết là Angleterre, cứ nên dùng như vậy, vừa tiện vừa dễ hơn; còn tên ba
thành kia thì ít người biết, nên viết theo chữ Tây, dầu đọc có sai tiếng Anh ít
nhiều mà còn có nguyên văn, muốn tra trong địa đồ cũng dễ; hơn là đọc theo Tàu:
Đô bội linh (Dublin), Mãn diệc đức nhĩ (Manchester), Ai đính bộ nhĩ
(Edimbourg), tuy âm vận cũng vẫn dễ nghe, hợp với giọng ta hơn, nhưng không có
chữ Tây thì còn ai biết là tên những tỉnh thành nào? Nếu có sợ những người
không thuộc vần Tây gặp những tên Tây như vậy ở giữa bài văn quốc ngữ bị ngắt
lại không đọc luôn được, thì dưới mỗi tên Tây nên ngoặc hai cái (…) và chua âm
ra chữ quốc ngữ, cũng không phiền gì: như Manchester (Mang-xet-te), Edimbourg
(E-đinh-bua), v.v…
Văn quốc ngữ đã không rời được chữ Nho, không thể bỏ chữ Nho mà thành được,
thì sự dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ là một lẽ tất nhiên. Duy phải biết cách
dùng cho phải đường. Trở lên là kể ra mấy cái lệ chung các nhà văn nên chú ý,
đó cũng là những điều đại khái mà thôi, còn việc dùng chữ phải tùy cái tài cái
khéo của nhà văn, không thể đặt phép tắc nhất định được. Dùng chữ khéo có thể
làm cho quốc văn mỗi ngày một trang nghiêm phong phú thêm lên.
Bài này chỉ bàn riêng về sự dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ mà thôi. Chắc
văn quốc ngữ cũng phải mượn của văn Tây nhiều, vừa mượn chữ, vừa mượn phép làm
văn; nhưng đó lại là một vấn đề khác.
Làm người Việt Nam
phải nên yêu, nên quý tiếng nước mình. Phải đặt quốc văn của mình lên trên cả
chữ Tây chữ Tàu. Nhưng yêu quý tiếng nước mình không phải là ruồng bỏ tiếng
nước ngoài. Yêu quý tiếng nước mình là phải khéo lợi dụng tiếng nước ngoài để
làm cho tiếng quốc âm mình giàu có thêm lên. Cho nên những người vì “thương
tiếng nước nhà” mà muốn “bài trừ chữ Hán” là tỏ ra ý kiến thấp hẹp vậy.
Than ôi! Thương tiếng nước nhà, thương tiếng nước nhà cũng năm bảy đường.
Thương mà phải đường ra thì ích lợi cho quốc văn biết dường nào. Thương mà sai
đường thì không những không lợi mà lại hại cho quốc văn hơn là ghét bội phần.
Tôi đây chính là một người nhiệt thành thương tiếng nước nhà, lâu nay đã tự
nguyện cúc cung tận tụy một đời để gây dựng cho tiếng ấy thành văn chương, cho
nước ta có một nền quốc văn đứng riêng được một cõi, cho người mình khỏi phải
cái cực chung thân cùng kiếp đi học mướn viết nhờ. Lắm lúc bình tâm tĩnh trí,
tự mình hỏi mình nên dùng cách nào cho đạt tới mục đích đó. Nghĩ cùng mà không
tìm được một cách nào, ngoài cái lề lối của ông cha để lại. Nhìn ngược, nhìn
xuôi, trông xa, trông gần, chỉ thấy rừng “nho” man mác, lá rậm um tùm, muốn
thoát ra ngoài mà không thoát được, đi mãi không cùng. Bấy giờ mới tỉnh ngộ mà
biết rằng người mình sinh trưởng trong góc rừng này đã mấy mươi đời, những khi
gió táp mưa sa được ẩn thân ở dưới cây cao cỗi lớn, nay muốn thoát li mà ra
ngoài, bông lông trong đồng rộng bể khơi sao đành? Chi bằng ta cứ nương náu ở
đây, mở rộng phá quang, đặt đường xẻ lối, cho tiện sự giao thông, để đón lấy
gió Âu mưa Mĩ, mà ra công ráng sức tài bồi cho cái đất cũ thấy nghìn năm này có
ngày được rạng vẻ phong quang, tốt tươi đẹp đẽ. Ai ơi? Xin cố gắng lên, nhưng
chớ nên thương quẩn xót quanh mà làm cho người ta thiên lòng rối trí. Có thương
tiếng nước nhà, xin thương cho phải đường.