Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng tư pháp bảo trợ
Nền tư pháp Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 65 năm hình thành và phát triển, không thể không nhắc đến một chế định mà cho đến mãi sau này vẫn làm cho các thế hệ cán bộ pháp luật Việt Nam phải suy nghĩ, liệu chúng ta đã học đầy đủ để làm theo tư tưởng nền tư pháp nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay chưa?
1. Tư tưởng, thể chế, điều kiện và quan
niệm về tư pháp bảo trợ
Giành độc lập cho dân tộc, để nước Việt
Nam có vị thế bình đẳng với các cường quốc năm châu; tự do, hạnh phúc, bình
đẳng và bác ái cho công dân để công dân được làm chủ đời mình và vận mệnh của
đất nước, đó là sợi chỉ đỏ nhân văn xuyên suốt trong quá trình đấu tranh cách
mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch muốn người dân Việt Nam là công dân của
một nước độc lập, nhưng nền độc lập ấy phải đem lại cho công dân nước mình
những giá trị đích thực của cuộc sống, đó là phẩm giá làm người sau bao năm trường
phải chịu kiếp sống nô lệ. Phẩm giá đó được Nhà nước dân chủ bảo vệ thông qua
pháp luật và phẩm giá của mọi người đều được pháp luật bảo vệ ngang bằng nhau,
không bị phân biệt về nguồn gốc dân tộc, giới tính, địa vị xã hội... Tư tưởng
“trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, coi pháp luật là thiêng liêng vì pháp
luật là đại lượng quyền lực được công nhận chung, xác định rõ các quyền và
nghĩa vụ của công dân, vừa để tránh tuỳ tiện và lạm quyền, lại vừa ràng buộc
trách nhiệm của Nhà nước và khơi dậy ý chí tự giác chấp hành pháp luật của công
dân. Mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật; các quyền của công dân,
không phân biệt giới tính, tôn giáo, tín ngưỡng, nguồn gốc xuất thân, vị thế xã
hội… được tôn trọng và được bảo vệ theo quy định của pháp luật. Trong trường
hợp công dân vi phạm pháp luật, phạm tội thì quy trình thủ tục điều tra và xét
xử phải như nhau, minh bạch, công bằng và công khai để có thể giám sát.
Bắt nguồn từ tư tưởng yêu nước, thương
dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi vừa giành được chính quyền dân chủ nhân dân,
mặc dù trong lúc đối phó thù trong, giặc ngoài (giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc
dốt…) vẫn dành nhiều thời gian cho việc quy định chế định “tư pháp bảo trợ” -
mà thực chất là trợ giúp pháp lý hiện nay - để hoạt động điều tra, xét xử tội phạm
được bảo đảm tiến hành như quy trình tố tụng của các quốc gia văn minh, tiến bộ
kh��c. Tư tưởng này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ uy tín của Nhà nước dân chủ nhân
dân non trẻ trong nhiệm vụ bảo vệ người dân, tránh oan sai, lạm quyền hoặc ức
hiếp dân, cũng như không để lọt tội phạm. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành
công, nhằm bảo đảm có luật sư thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáo trước các
phiên xét xử tại Toà án của chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
Sắc lệnh số 10/SL ngày 10/10/1945 về việc duy trì tổ chức luật sư cũ. Hiến pháp
1946 (Điều 67) quy định: “Người bị cáo1 được quyền tự bào chữa lấy
hoặc mượn luật sư”. Ngay sau đó, Chủ tịch đã ký các Sắc lệnh 13/SL ngày
24/1/1946, trong đó có quy định về chế độ “Tư pháp bảo trợ”: “nếu bị can không
có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư hoặc một bào chữa viên để bào
chữa”. Tại Sắc lệnh số 113/SL ngày 28/6/1946 về lệ phí và án phí (Điều 7) cũng
quy định “nguyên cáo hoặc bị cáo trong một việc hộ có quyền xin tư pháp bảo
trợ”, như vậy, chế định bảo trợ tư pháp cũng được áp dụng đối với các vụ việc
dân sự do Toà xử.
Sắc lệnh số 217/SL ngày 22/11/1946 quy
định về việc các vị Thẩm phán đệ nhị cấp (tỉnh và khu) có bằng Luật khoa cử
nhân có thể ra làm luật sư với các điều kiện thời gian cụ thể (nếu có 3 năm
thực hành chức vụ tư pháp trước các Toà án không phải tập sự, chưa đủ 3 năm
phải tập sự luật sư thêm; nếu là Thẩm phán tại một quản hạt Toà thượng thẩm,
mới thôi chức 1 năm thì không được mở Văn phòng luật sư ở quản hạt đó - vì vị
Thẩm phán này vẫn có thể còn ảnh hưởng trong địa hạt và đặc biệt, không bị liên
đới đến những vụ phải xử phúc thẩm và án kéo dài). Do số lượng luật sư còn quá
nhỏ không đủ đáp ứng nhu cầu nên Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 và Sắc lệnh
số 144/SL ngày 22/12/1949 đã quy định về việc mở rộng chế độ bào chữa, cho phép
các bị can, bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực trước
các Toà án (trừ Toà án binh tại mặt trận); đương sự có thể trình danh sách 03
người để ông Chánh án chọn 01 người và thừa nhận; nếu bị can không có ai bênh
vực, ông Chánh án có thể tự mình hay theo yêu cầu của bị can cử một người ra
bào chữa cho bị can, nhưng người bào chữa không được nhận tiền thù lao của bị can
(nếu nhận bị truy tố về tội lừa đảo). Ông Chánh án lập ra một danh sách người
trong tỉnh có đủ điều kiện và bằng lòng đứng ra bào chữa trong các phiên toà và
niêm yết tại Phòng lục sự Toà án (danh sách này được thêm, bớt theo yêu cầu từ
phía Uỷ ban kháng chiến hành chính và ông Chánh án); đương sự chọn một người
nào đó trong danh sách thì ông Chánh án phải thừa nhận; người được cử hoặc được
chọn bắt buộc phải đến dự phiên toà và được hưởng phụ cấp bào chữa từ công khố.
Như vậy, chế định Bào chữa viên nhân dân đã hình thành từ giai đoạn này (hiện
chế định Bào chữa viên nhân dân cũng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình
sự 1997) đã giúp cho các phiên toà được tiến hành có thêm người tham gia tố
tụng, tạo điều kiện để có các bên tranh tụng trước toà. Qua thông tin của các
vụ án thời kỳ này cho thấy, Bào chữa viên nhân dân đã thực hiện bào chữa nhiều
vụ, thường xuyên và được hưởng phụ cấp của Nhà nước, là lực lượng tham gia tố
tụng mang tính nhân dân và gần dân, bảo đảm khả năng tối đa cho các vụ án có
người bào chữa tham gia.
Tư pháp bảo trợ được Bộ Tư pháp hướng dẫn
cho các Toà án tại Thông tư số 3305-HO ngày 8/11/19462 với thẩm
quyền, quy trình, thủ tục xét duyệt để người dân được hưởng tư pháp bảo trợ rất
đơn giản và nhanh chóng. Theo đó:
a) “Người đương sự” gửi đơn đến ông Biện
lý (nay là Kiểm sát viên cấp tỉnh) xin tư pháp bảo trợ để khởi tố trước Toà án
sơ cấp (nay là Toà án cấp huyện), hay đệ nhị cấp (nay là Toà án cấp tỉnh), Ông
Biện lý có thể y đơn hoặc bác đơn; nếu y đơn, người này được miễn nộp các khoản
lệ phí, nhưng vẫn phải tự làm đơn khởi tố lấy;
b) Nếu người đương sự kháng cáo một bản
án của Toà án sơ cấp thì ông Biện lý xét đơn, nếu y đơn thì người này được miễn
nộp lệ phí và dự phạt kháng cáo;
c) Trong trường hợp nếu có việc kháng cáo
lên Toà thượng thẩm (nay là Toà Phúc thẩm), thì ông Chưởng lý (nay là Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh) xét đơn, nếu y đơn, người đương sự được miễn
không phải nộp lệ phí và dự phạt kháng cáo;
d) Nếu người đương sự được kiện (thắng
kiện) thì việc cho hưởng tư pháp bảo trợ vẫn có hiệu lực đến khi thi hành xong
bản án mà người đương sự không phải nộp một khoản lệ phí nào, kể cả việc cấp
trích lục án; phí tổn này sẽ do công khố chịu.
Những quy định trên là bằng chứng cho
thấy, tư pháp bảo trợ có vị trí rất quan trọng trong nền tư pháp dân chủ, vì
ngay trong những ngày đầu tiên của một quốc gia mới tuyên bố độc lập, vấn đề tư
pháp bảo trợ của quy trình tố tụng đã được quy định rất cụ thể, như “bản chất
ruột” của nền tư pháp dân chủ gần dân, thân dân, của dân, do dân và vì dân.
Nước còn nghèo, dân còn đói nhưng việc công khố chi trả cho người tham gia bào chữa,
việc miễn phí tư pháp cho đương sự là điều cần làm và đã cố làm để mọi tầng lớp
nghèo khổ khi có sự vụ gắn với “pháp đình” đều có thể nhờ cậy vào công lý qua
pháp luật. Có như thế, người dân mới sẵn sàng đề đạt, kháng cáo khi thấy vụ án
còn chưa được xem xét, xử đúng và chưa tâm phục khẩu phục, từ đó nền tư pháp
nước nhà mới là hiện thân của cán cân công lý. Tư tưởng và nội dung tư pháp bảo
trợ của Chủ tịch là sự kế thừa, thể hiện kết quả của cuộc đấu tranh bền bỉ của
nhân loại vì công lý và công bằng trước pháp luật của mọi tầng lớp dân cư, của
các quyền dân sinh, dân chủ và dân quyền. Theo Chủ tịch, thì suy cho đến cùng “vấn
đề tư pháp là ở đời và làm người”, mấy ai nghĩ như vậy và dám nói câu đó; vì “ở
đời” và “làm người” cực khó, không phải ai cũng là vĩ nhân, cũng thoát ra được
khỏi cái “tôi” nhỏ bé, tầm thường, thoát khỏi lòng ham muốn giầu sang, phú quý,
danh lợi… Muốn “làm người” là phải vì cái chung, cái nhân phẩm và giá trị không
thể mua bán như hàng hoá, đấu tranh quyết liệt để bảo vệ công bằng và bình
đẳng, bác ái mọi lúc, mọi nơi, trong lựa chọn giữa sự sống và cái chết, giữa
tiến bộ với tư tưởng bảo thủ, lợi ích vị kỷ, vì sự vinh danh, chức quyền và sự
yêu thích cá nhân. Tư tưởng của Chủ tịch chứa đầy tính nhân văn sâu sắc, tư
pháp là quyền lực của dân, tồn tại do dân nên làm gì thì cũng phải xuất phát từ
đời thường, từ luật pháp cụ thể, đừng quan trọng hoá quá nhưng không được tầm
thường nó, phải gắn với đời sống thường nhật của dân, với điều kiện sống, với
phong tục, truyền thống tốt đẹp, với tiến bộ xã hội nhưng phải có cái tâm của
con người, vì con người. Theo Chủ tịch, cái gì tốt dù nhỏ cũng phải cố mà làm,
cái gì xấu dù có lợi cho cá nhân mình cũng phải cương quyết bỏ, cũng như ở đời
nếu cái mình không thích thì cũng không làm cho người, cư xử với người khác như
với mình vì mình “làm người”. Chính vì vậy, “phải có người bào chữa nếu bị can,
bị cáo không tự bào chữa được”, cũng như khi ta không làm được thì phải nhờ người
- vì tư pháp của dân phải biết nghe và nghe nhiều tai, phải để người không có
liên quan, có hiểu biết nhận định về hành vi phạm tội và nói từ góc độ của họ,
đó là góc độ của người dân thường. Chế định bảo trợ tư pháp mà Chủ tịch theo
đuổi, xuất phát từ các nguyên tắc tối thượng của các công ước nhân quyền là
quyền bất khả xâm phạm trái pháp luật về tự do thân thể, nhân phẩm và tài sản
của công dân; quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật và quyền suy đoán vô
tội: không ai bị cho là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của một
Toà án hợp pháp, vì không phải 100% người bị truy cứu là bị can, bị cáo đều là người
đã phạm tội và có tội theo pháp luật.
Đúng 10 năm sau, tại Thông tư số
2225-HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào
chữa của bị can đã dẫn chiếu lại các quy định trong Sắc lệnh số 69/SL và Sắc
lệnh số 144/SL, kiểm điểm và có nhận định quyền tự bào chữa của bị can trong
điều tra và xét xử về hình sự không được coi trọng trong thời gian đó như: trong
quá trình điều tra, thẩm cứu, thẩm vấn trước phiên toà, có hiện tượng không tôn
trọng quyền tự bào chữa, mớm cung, bức cung, trấn áp không cho bị cáo tự do
khai nại, thậm chí nhân chứng khai có lợi cho bị can cũng bị trấn áp như bị
can,… nhiều bị can trước khi ra phiên toà không biết nội dung buộc tội để tự
chuẩn bị bào chữa, hoặc không được thông báo quyền được chống án. Quyền được
chọn người bào chữa của bị can, bị cáo không được thực hiện đầy đủ, vì đoàn thể
luật sư tạm ngừng hoạt động trong kháng chiến, mới hoạt động lại từ sau 1954,
chế độ bào chữa của người không phải luật sư cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Thông tư rút ra các nguyên nhân chính của thiếu sót trên là do: chưa nhận thức
sâu sắc tầm quan trọng của quyền tự do bào chữa trong chế độ dân chủ nhân dân
và trong nền tư pháp dân chủ nhân dân; ý thức tôn trọng pháp luật của Nhà nước
và cán bộ còn thiếu sót nhiều. Thông tư đưa ra yêu cầu để bảo đảm chế độ pháp
trị và thực hiện đúng mức quyền tự do bào chữa của bị can, hướng sửa chữa
là: cần có quan niệm chính xác về quyền này và vị trí của bào chữa trong toàn
bộ công tác tư pháp; cần nghiên cứu, chỉnh đốn lại chế độ bào chữa nhân dân và
chế độ luật sư. Thông tư đã đưa ra các quan niệm về vị trí của quyền này qua
việc dẫn chiếu nhận định của Đại hội Luật sư dân chủ quốc tế (International
Association of Democratic Lawyers) mới họp khi đó coi quyền tự do bào chữa
là “thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác”, nếu nó không được thực
hiện sẽ mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do khác (vì nằm trong tù thì
không thể có điều kiện thực hiện được các quyền khác) và không được cho là
có công lý. Thông tư coi đây là một nguyên tắc tố tụng căn bản, trọng yếu
trong tố tụng, phải triệt để thực hiện nhằm hỗ trợ việc xét xử được chính xác, toàn
diện, khách quan hơn, bênh vực được quyền lợi hợp pháp của người bị can và bảo
vệ được pháp luật của Nhà nước. Thông tư quán triệt quan điểm: thực hiện quyền tự
do bào chữa là để hạn chế, chống lại sự khống tố không chính xác, giúp
cho hoạt động tố tụng (điều tra và xét xử) có kháng nghị và tranh luận mới
sáng tỏ vụ việc (vì công tố và cán bộ điều tra do quen việc dễ chủ quan, dễ làm
qua loa cho nhanh), bảo đảm thực hiện nguyên tắc của Hiến pháp “trước khi tuyên
án bị can phải được coi như người vô tội”. Một điều rất thời sự hiện nay là vị
trí và vai trò của các bên trong tranh tụng đã được quy định và thực hiện trong
thời kỳ đó khi tại mục 3) phần I Thông tư khẳng định “vị trí của bộ phận bào
chữa là một vị trí bình đẳng với Công tố viện” và “hai bên ngang quyền như
nhau” vì công tố “không có uy quyền riêng biệt” mà là đương sự nguyên cáo,
còn bị can (người đại diện cho họ) là đương sự bị cáo, có thế mới tăng cường
lòng tin tưởng của nhân dân vào tính công minh của Toà án trong chế độ dân
chủ nhân dân. Hai bên cùng có quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu đưa ra nhân chứng,
yêu cầu giám định, cùng có quyền đặt câu hỏi, phân tích, tranh luận để Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân nghe và đưa ra phán quyết. Trong giai đoạn này nhiều
vụ án đã được xử gây tiếng vang trong quần chúng, ghi nhận vai trò của người
bào chữa trong việc nêu ra các chứng cứ và có các bãi nại phù hợp. Cũng trong
giai đoạn này, dù số lượng luật sư còn ít ỏi (dưới 100 người), hoạt động trong môi
trường pháp luật còn sơ khai, điều kiện làm việc chưa thuận lợi nhưng phải có
lời tuyên thệ tuân thủ sự thật để bảo vệ công lý và không được có các hành động
làm ảnh hưởng hoặc chống lại công lý.
Như vậy có thể thấy, ở thời kỳ này tư
pháp bảo trợ được xác định là một yêu cầu mang tính bản chất của tư
pháp dân chủ nhân dân, một bộ phận cấu thành của hoạt động điều tra và xét xử
(thời điểm này hoạt động tố tụng được xác định gồm 2 giai đoạn: điều tra và xét
xử - tương tự như đa phần các quốc gia hiện nay, không có giai đoạn riêng cho
công tố (đây là một vấn đề lý luận rất lý thú về các giai đoạn của tố tụng cần
bàn sâu hơn), vì Công tố viên và luật sư có mặt trong cả 2 giai đoạn và Công tố
viên là người vừa làm nhiệm vụ tư pháp công an vừa làm công tố “nguyên cáo”3)
đối trọng với luật sư. Việc xác định cần có “tư pháp bảo trợ” vừa là quyền của
công dân, vừa là nghĩa vụ của Chánh án và ông Biện lý (Công tố). Tư pháp bảo
trợ được xác định là một “chế độ biện hộ tự do” phụ thuộc vào sự lựa chọn của
“người đương sự”, họ có khả năng thì tự mình biện hộ cho mình, còn nếu không
thực hiện được thì yêu cầu Nhà nước; Công khố chi trả khi Nhà nước cử người bào
chữa, viết đơn kiện thay (tuỳ từng trường hợp) và miễn chi phí tố tụng cho đến
khi thi hành xong bản án. Chế độ này được bảo đảm thực hiện song hành, không
tách rời với điều tra và xét xử (trừ Toà án binh tại mặt trận), việc biện hộ
được thực hiện từ khi bị bắt giữ.
2. Bảo trợ tư pháp thể hiện qua vị trí,
vai trò và nội dung quyền bào chữa
Xác định nội dung, phạm vi của quá trình
bào chữa là điểm quan trọng để bảo đảm thực hiện, tránh được hiện tượng quyền
thì có nhưng lại quy định chung chung không có điều kiện thực hiện, không biết
nên thực hiện trong phạm vi nào. Mặc dù bị cáo không có trách nhiệm phải chứng
minh việc có phạm tội hay không phạm tội, trách nhiệm chứng minh việc có hay không
có tội thuộc về cơ quan điều tra, Công tố viện và Toà án nhưng bị cáo có quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa khi bị buộc tội. Vì quyền bào chữa do bị
can, bị cáo tự thực hiện hoặc thông qua người bào chữa nên đã được xác định với
những nội dung rất cụ thể tại Thông tư số 2225-HCTP4 để người dân dễ
vận dụng. Theo đó, bị can, bị cáo (người bào chữa của họ) có quyền tham gia tất
cả quá trình điều tra, xét xử để: trình bày lời hoặc viết bào chữa, đưa ra
chứng cứ mới, xin mời người làm chứng mới, mời người giám định,…; đề xuất bất
cứ thỉnh cầu nào hoặc phản đối bất cứ thỉnh cầu nào (nói hoặc viết) do người khác
đưa ra; có quyền được biết về nội dung xét xử trước một thời gian cần thiết để
có đủ thì giờ chuẩn bị việc bào chữa trước phiên toà; không bị bắt buộc nhưng
tại phiên toà được viện dẫn tất cả chứng cứ và lý lẽ để chứng minh không có tội
hoặc trình bày những tình huống giảm nhẹ tội mà không bị ai cản trở; được nói
lời cuối cùng sau khi kết thúc thẩm vấn; được kháng cáo trong hạn 15 ngày hoặc
30 ngày5.
Để bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị
cáo, Công tố viện và Toà án phải đặc biệt tôn trọng quyền tự bào chữa trong
điều kiện thiếu luật sư, phải tuân thủ các yêu cầu của Thông tư như: khi ra
quyết định khởi tố phải báo cho bị can biết họ bị truy tố về tội gì? Giải thích
đầy đủ về nội dung quyền bào chữa để họ sử dụng (hiện nay nhiều Điều tra viên, Kiểm
sát viên cũng giải thích nhưng không đầy đủ, nhiều khi còn có lời lẽ như dự báo
có thêm luật sư sẽ tạm giam bị can, bị can sẽ bị phiền hà…, coi luật sư tham
gia chỉ mang tính đủ thành phần. Bên cạnh đó, rất nhiều luật sư thực hiện các
vụ chỉ định hoặc miễn phí thường làm chiếu lệ, hình thức, không thật sự làm cho
bị can thấy vai trò của mình, vai trò của luật sư rất mờ nhạt… nên việc người
bị can, bị cáo từ chối không cần luật sư theo chỉ định của cơ quan tố tụng còn
xảy ra phổ biến). Toà án phải tống đạt cho bị can và cho cả người bào chữa văn
bản nghị quyết (hình thức văn bản quyết định tập thể) đưa vụ án ra phiên toà
xét xử cùng với nội dung cáo trạng của Công tố viện ít nhất là 03 ngày trước
ngày mở phiên toà. Trong quá trình điều tra, xét xử tuyệt đối không được mớm
cung, bức cung hay trấn áp bị can bằng bất cứ hình thức nào, hoặc dùng lời lẽ
dụ dỗ, hứa hẹn để bị can nhận tội. Lời thú tội của bị can không kết thúc cuộc
thẩm cứu mà còn phải có các bằng chứng xác minh mới được dùng làm cơ sở để kết
tội. Toà án chỉ dựa trên những sự việc đã xác minh rõ rệt ở phiên toà mà kết
luận; không được định kiến là hễ bị truy tố là có tội mà đối xử với bị can như
với người đã có bản án kết tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội
để Toà án có thái độ hoàn toàn khách quan. Toà phải hỏi để bị can có lời cuối
cùng sau khi thẩm vấn và phải giải thích quyền chống án và thời hạn chống án.
Đặc biệt, do cùng có vị trí pháp lý quan trọng như nhau tại phiên toà nên vị
trí chỗ ngồi giữa Công tố và người bào chữa cũng ngang nhau, Thẩm phán phải
để 2 bên ngồi ngang nhau, ngang nhau về quyền tranh luận, dẫn ra
nhân chứng, chứng cứ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý tố tụng…Trong
trường hợp không mời luật sư thì bị can được quyền của luật sư để biện hộ cho
mình, được tranh luận với công tố và dẫn ra nhân chứng, chứng cứ…
3. Tồn tại và bài học rút ra từ tư pháp
bảo trợ cho chế định bào chữa, đại diện trong điều kiện cải cách tư pháp hiện
nay
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đã được
thể hiện thành chế định tư pháp bảo trợ cách đây 65 năm mà cho đến ngày nay vẫn
còn nguyên tính thời sự và được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 (Điều 132), được
nghiên cứu để vận dụng khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Trợ giúp pháp
lý và Luật Luật sư. Tuy nhiên, đã qua gần 25 năm thực hiện Bộ luật Tố tụng hình
sự nhưng chúng ta vẫn chưa có hướng dẫn về chế định bào chữa viên nhân dân,
chưa có lực lượng thuần tuý đại diện từ xã hội tham gia tố tụng, vẫn còn ngỡ
ngàng khi các thành phần tham gia tố tụng có luật sư. Trong thực tiễn, khi thực
hiện các quy định về bào chữa, đại diện còn rất nhiều người trong các cơ quan
tiến hành tố tụng mơ hồ về quyền của người bào chữa, coi thường hoặc “sợ” có
người bào chữa, buồn hơn là nhiều vị luật sư biến mình thành thầy “cò”, thầy
“dùi”, người “môi giới”… để chạy án, làm sai lệch vị trí quan trọng và tôn
nghiêm của nghề bảo vệ công lý. Qua việc nghiên cứu tư tưởng và chế định tư
pháp bảo trợ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cần có tư
duy đầy đủ và đúng về nghề luật và vị trí của người bào chữa trong tố tụng hình
sự và đại diện trong vụ việc dân sự, hành chính, kinh tế… trong điều kiện hội
nhập. Chúng ta đang có trên 6.000 luật sư nhưng thiếu luật sư giỏi, chưa có
luật sư để theo các vụ kiện mang tính quốc tế, vì bản thân nhiều luật sư chưa
thật sự có môi trường thuận lợi - cả về thể chế và thực tiễn - để rèn nghề và đạo
đức nghề nghiệp ngay trong nước chứ chưa nói là ở nước ngoài. Người tiến hành
tố tụng còn chưa coi luật sư như người đồng hành cùng có nhiệm vụ nghiên cứu án
và đưa ra các chứng cứ khách quan, toàn diện để bảo vệ công lý. Bản thân luật
sư còn chạy theo lợi ích nhất thời của từng vụ mà chưa có đủ bản lĩnh nghề nghiệp
để hướng tới vinh danh nghề và bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý. Tổ chức xã hội
nghề nghiệp của luật sư chưa thực sự gắn kết luật sư để có cùng một đích là bảo
vệ công lý, có nơi nặng về quản lý hành chính, có nơi chỉ quan tâm đến việc
“thu” hoặc “trích”… mà chưa đầu tư cho việc xây dựng đội ngũ luật sư trẻ, có
bản lĩnh, có ngoại ngữ và kỹ năng để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích hợp pháp của
người yếu thế, theo đến cùng các trường hợp oan sai hoặc còn bị khuất tất… Việc
hành nghề của luật sư còn bị phụ thuộc vào việc hiểu đúng đắn nhiều quy định
của luật tố tụng từ phía người tiến hành tố tụng, trong khi nhiều quy định của pháp
luật tố tụng chưa thật sự chặt chẽ, chưa tạo thế ngang bằng giữa công tố và
biện hộ để có thể tranh tụng. Ngay việc Bộ luật Tố tụng hình sự dùng nhiều
thuật ngữ “người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi” trong khi
suy đến cùng chỉ cần một thuật ngữ là người đại diện, vì xảy ra hai khả
năng: thứ nhất, hoặc tự bị can, bị cáo thực hiện quyền biện hộ cho mình, người
bị hại và người có quyền và lợi ích có liên quan trong vụ án tự ��ại diện cho
lợi ích của mình - và thứ hai, hoặc họ nhờ luật sư hay người khác có đủ khả
năng để “thay mặt” họ, nghĩa là “đại diện” cho họ để biện hộ hoặc bảo vệ lợi
ích cho họ; đồng thời, dù cá nhân họ tự làm hay nhờ người khác làm thay, “đại
diện hộ” thì cũng chỉ là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Dùng nhiều thuật ngữ,
kể ra không đủ, không ôm hết ngữ nghĩa và làm cho người dân khó nhớ luật, nếu
không đơn giản hoá thì đấy là cách mà chúng ta đang tự làm khó mình. Luật sư
còn được tham gia vụ án với bản luận cứ chuẩn bị sẵn mà vắng mặt, không hiển
diện ở toà thì làm sao có thể tranh tụng! Người tiến hành tố tụng giải thích
quyền có người bào chữa theo chỉ định cho bị can, mà chưa chỉ định luật sư ngồi
bên cạnh thì bị can chưa biết thực hư, thôi thì từ chối và thế là trong vụ án
đó không cần có luật sư, dù là án nghiêm trọng có khả năng bị tử hình hoặc bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất…
Bài học rút ra là, nơi nào, địa phương
nào tổ chức phổ biến rộng rãi cho người dân được biết và quán triệt sâu sắc các
quy định trong pháp luật tố tụng liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa cho người tiến hành tố tụng để có nhận thức và vận dụng đúng đắn, thì số
vụ việc luật sư tham gia nhiều hơn và ít vụ án bị kháng cáo, đồng thời, ở các
nơi này luật sư cũng không bị “ngồi chơi, xơi nuớc”. Thứ hai, nên biên tập, phát
hành phổ biến rộng các tài liệu về vụ án với nội dung cụ thể về vai trò của
luật sư khi tham gia thành công vào vụ án. Thứ ba, tổ chức Liên đoàn luật sư
nên nghiên cứu, xây dựng bộ đạo đức nghề nghiệp của luật sư, tổ chức các đợt
vận động luật sư học tập tư tưởng bảo trợ tư pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
phấn đấu để các vụ việc có luật sư tham gia không bị oan sai… Thứ tư, đã đến
lúc cần nghiên cứu một cách hệ thống để sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng để
bảo đảm điều kiện cho tranh tụng. Thứ năm, cần xây dựng chế định bào chữa viên
nhân dân để có thêm lực lượng xã hội tham gia tố tụng, đặc biệt là để hỗ trợ
cho các vùng miền còn chưa có luật sư, ít luật sư và Trợ giúp viên pháp lý của Nhà
nước.
Để chế định tư pháp bảo trợ tiếp tục phát
huy vai trò trong công cuộc cải cách, để có nền tư pháp đại diện cho công
lý, minh bạch, công khai, công bằng và văn minh, bên cạnh việc đổi mới đối với
cơ quan tiến hành tố tụng, chúng ta cần có đội ngũ luật sư thực sự phục vụ công
lý và công bằng xã hội. Điều này cần sự quan tâm từ phía Nhà nước, nhưng quan
trọng hơn là từ nỗ lực của giới luật sư. Luật sư cần có sự học tập, rèn giũa,
giữ uy tín nghề nghiệp để có được sự chấp nhận, ủng hộ và niềm tin của xã hội.
(1)
Để dễ theo dõi, trong bài có sử dụng nhiều thuật ngữ cũ thời kỳ 1946-1956.
Thuật ngữ “người bị cáo” thấm nhuần tư tưởng nhân quyền và nguyên tắc suy đoán
vô tội, khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật, người bị can, bị cáo vẫn là
“người” chưa bị coi là có tội.
(2)
Xem Phần I, Thông tư số 2225-HCTP ngày 24/10/1956, CB- 34-328
(3)
Xem Mục C, khoản 1 Nhiệm vụ của ông Công tố, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946,
CB-17-242.
(4)
Xem Phần II, Thông tư số 2225-HCTP ngày 24/10/1956, CB- 34-328).
(5)
Xem Chương III Tổng tắc, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, CB-17-242).
TS.
Tạ Thị Minh Lý - Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp