Chuyên đề: Định giá bất động sản
Những nguyên tắc cơ bản của định giá đều được áp dụng trong quá trình định giá đất. Trong quá trình định giá đất chúng ta cần phải tập trung vào các quyền đối với đất đai và sự kiểm soát của Nhà nước, những đặc điểm vật lý của đất đai và các cải thiện trên địa điểm để từ đó xác định sử dụng cao nhất và tối ưu nhất của đất.
3.1. CĂN CỨ ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN
- Các yếu tố cơ bản của quá trình lao động
lao động tạo ra bất động sản
- Chi phí cơ hội của sử dụng đất và công
trình
- Dựa vào
những thay đổi của nền kinh tế
- Dựa vào sự phù hợp và đóng góp của bất động
sản vào quần thể bất động sản trong khu vực
- Dự vào các yếu tố cấu thành của bất động
sản
- Dựa
vào khả năng cạnh tranh của bất động sản
- Dựa vào các lợi ích mang lại trong tương
lai của bất động sản
3.2.
ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN LÀ ĐẤT ĐAI
3.2.1.
Những vấn đề lý thuyết chung
Những nguyên tắc cơ bản của định giá đều được
áp dụng trong quá trình định giá đất. Trong quá trình định giá đất chúng ta cần
phải tập trung vào các quyền đối với đất đai và sự kiểm soát của Nhà nước, những
đặc điểm vật lý của đất đai và các cải thiện trên địa điểm để từ đó xác định sử dụng cao nhất và tối ưu nhất
của đất.
a. Các quyền đối với đất đai và sự kiểm
soát của Nhà nước.
Định giá đất tập trung vào định giá giá trị của các quyền đối với BĐS đi kèm với đất
đai. Các quyền này bao gồm các quyền cho phát triển trong những giới hạn nhất định,
quyền cho thuê, cho sản xuất nông nghiệp, cho khai thác khoáng sản, cho thay đổi
địa hình, chia nhỏ, tích tụ và cho sử dụng để đổ chất thải. Khi định giá đất cần
phải tham khảo những quy định của Nhà nước để xác định quyền đi qua, các hạn chế
cá nhân và công cộng ảnh hưởng đến mảnh đất mục tiêu.
b.
Các đặc điểm vật lý và các cải thiện trên địa điểm.
- Các đặc điểm vật lý của đất, những dịch vụ
sẵn có và các cải thiện trên địa điểm ảnh hưởng đến sử dụng và giá trị của đất.
Cụ thể
+ Các đặc điểm vật lý của mảnh đất: quy mô, hình
thể, bề mặt, địa hình, vị trí, cảnh quan và các đặc điểm địa hình như đường bao ngoài, độ dốc, hệ thống
thoát nước.
+ Các dịch vụ có sẵn như nước, điện, gas, dịch
vụ điện thoại, internet… ảnh hưởng đến sử dụng và phát triển tiềm năng của mảnh
đất. Các dịch vụ này có thể được cung cấp từ bên ngoài địa điểm hoặc ngay tại địa
điểm.
+ Các cải thiện trên địa điểm: san ủi, lát nền,
tạo cảnh quan, các móc sử dụng cho đường
nước, đường điện, gas, điện thoại. Những đặc điểm này được đánh giá vào giá trị
của địa điểm. Cần lưu ý những cải thiện này cũng giống như các công trình trên đất
là đối tượng của khấu hao.
c.
Sử dụng cao nhất, tối ưu nhất.
Giá trị của đất thường được định giá trong giới
hạn sử dụng cao nhất, tối ưu nhất, thậm chí khi đất đã được cải thiện, nghĩa là
có công trình trên đó thì đất vẫn được định giá trên cơ sở sử dụng cao nhất, tối
ưu nhất và coi đất như một mảnh đất trống, sẵn sàng cho sử dụng có tính kinh tế
nhất. Đất đai được xem như mảnh đất trống thường được chấp nhận một cách phổ biến
và được yêu cầu định giá riêng.
Sử dụng cao nhất, tối ưu nhất của đất cũng bị
ảnh hưởng bởi những công trình đang tồn tại trên đất, sự đóng góp của các công
trình trên đất được định giá bằng cách rút giá trị của đất ra khỏi giá trị của
BĐS. Đất đai được cho là có giá trị khi các cải thiện trên đất (công trình) đóng
góp vào giá trị. Khi các cải thiện không đóng góp vào giá trị thì cần phải phá
bỏ các cải thiện này. Trong trường hợp này chi phí chuyển đổi BĐS thành 1 địa điểm
bỏ trống là một thiệt hại, nó phải được trừ khỏi giá trị của đất.
Trong một số trường hợp người định giá được yêu
cầu định giá địa điểm khác với sử dụng cao nhất tốt, tốt nhất như định giá giá
trị sử dụng hay giá trị sử dụng hợp phát của địa điểm. Như vậy người định giá cần
định giá đại điểm theo sử dụng cụ thể hoặc
theo sử dụng của các công trình
hiện tồn tại trên địa điểm. Trong trường hợp này người định giá nên định giá địa
điểm ở cả 2 điều kiện, đó là cho sử dụng cụ thể và sử dụng cao nhất, tối ưu
nhất.
3.2.2. Các phương pháp định giá.
Định giá đất thường sử dụng các phương pháp
sau:
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân phối (lợi nhuận)
- Phương pháp giá trị còn lại (thặng dư)
- Phương pháp vốn hóa
+ Vốn
hóa trực tiếp (vốn hóa giá trị cho thuê địa điểm hoặc giá trị còn lại của địa điểm)
+ Vốn
hóa thu nhập (chiết khấu các dòng tiền)
a.
Phương pháp so sánh:
Phương pháp thường được sử dụng cho định giá đất
như địa điểm bỏ trống. Đây là phương pháp phổ biến để định gía đất khi có các
cuộc mua bán những mảnh đất tương tự mảnh đất mục tiêu trên thị trường. Áp dụng
phương pháp này việc bán các mảnh đất tương tự được phân tích, so sánh và điều
chỉnh để cung cấp các chỉ số giá trị đối với địa điểm cần định giá. Khi so sánh
sự tương tự và khác biệt giữa các mảnh đất phải được xem xét.
Người định giá kết hợp các số liệu về các cuộc
mua, bán đất trên thực tế cũng như các lời mời chào, trả giá và lựa chọn các mảnh đất tương tự để so sánh. Phân tích sự
tương tự và khác biệt trong số liệu, điều chỉnh giá bán của các so sánh để tính
toán số tiền cho các đặc điểm khác biệt của mảnh đất cần định giá và hình thành
kết luận về giá trị thị trường của mảnh đất mục tiêu.
Giá bán đất luôn thay đổi do đó cần phải lựa
chọn các cuộc mua bán đất tương tự gần với ngày định giá ở mức có thể nhất. Khi
số liệu hiện tại trên thị trường địa phương không có sẵn, người định giá có thể
mở rộng tìm kiếm số liệu ở những vùng lân cận, điều này rất cần thiết để điều
chỉnh các điều kiện thị trường. Quyết định sử dụng những thông tin của khu vực
lân cận cần phải dựa trên cơ sở có nhiều sự chấp nhận của thị trường về các điều
chỉnh.
Kích thước mảnh đất thường là yếu tố ít quan
trọng hơn thời gian và vị trí của mảnh đất. Phần lớn các phát triển có lựa chọn
kích thước tối ưu. Người ta gán trọng số lớn cho những so sánh có kích thước xấp
xỉ bằng kích thước của mảnh đất mục tiêu.
Phân vùng là tiêu chí cơ bản nhất trong lựa
chọn các so sánh.
Nhìn chung cần có các điều chỉnh khác nhau được
thực hiện cho giá bán so sánh đối với từng yếu tố so sánh. Mỗi điều chỉnh được
chỉ ra bằng số liệu cụ thể hoặc %. Các mảnh đất có kích thước khác nhau sẽ có
giá đơn vị khác nhau bởi vì kích thước tối ưu của mảnh đất phụ thuộc vào sử dụng
của nó. Giá đơn vị cũng thay đổi theo theo thời điểm bán và vị trí đất.
Điều
chỉnh giá bán có thể chỉ đơn giản để nhận thức về sự tốt hơn hoặc kém hơn của BĐS.
Thường các điều chỉnh được thực hiện theo 1 trật tự nhất định, nghĩa là điều chỉnh
các yếu tố đối với quyền về BĐS, cách thanh toán, các điều kiện bán và thị trường được
điều chỉnh trước các điều kiện về vị trí và các đặc điểm vật lý của mảnh đất. Tất
cả các điều chỉnh cần được thể hiện trong báo cáo định giá một cách logic và dễ
hiểu.
b.
Phương pháp thặng dư: Phương
pháp này được áp dụng trong trường hợp đất có khả năng phát triển và được định
giá cho các mảnh đất trống sẵn sàng cho phát triển thông qua đấu giá quyền sử dụng
đất. Để áp dụng được phương pháp này người
định giá phải phân tích được sử dụng cao nhất, tối ưu nhất của đất, ước lượng được
các chi phí phát triển, trong đó bao gồm cả lợi nhuận yêu cầu của người đầu tư,
dự báo được giá bán toàn bộ BĐS sau khi được phát triển. Trên cơ sở những thông
tin trên để rút ra giá trị của đất.
c.
Phương pháp lợi nhuận: Phương
pháp này được áp dụng để ước lượng giá trị của đất khi nó đóng góp vào giá trị
hoạt động kinh doanh của người đầu tư. Trên cơ sở các số liệu sẵn có từ hoạt động
kinh doanh trên BĐS, người định giá cần
xác định được sự đóng góp của BĐS vào giá trị kinh doanh, sau đó phân bổ phần đóng
góp đó cho đất và của công trình trên đất.
Vốn hóa giá trị đóng góp của đất vào hoạt động kinh doanh, chúng ta sẽ có giá
trị của đất. Muốn áp dụng chính xác phương pháp định giá này, người định giá cần
có hiểu biết nhất định về ngành nghề mà
nhà đầu tư đang kinh doanh trên mảnh đất.
d.
Phương pháp vốn hóa
·
Vốn hóa
trực tiếp giá trị còn lại của đất
·
Vốn
hóa trực tiếp tiền thuê đất
·
Vốn hóa
lợi nhuận (chiết khấu dòng tiền)
3.3. ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN LÀ NHÀ Ở
3.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến
giá nhà ở.
Nhà ở có nhiều
loại, bao gồm nhà ở liền tường, nhà ở độc lập, nhà biệt thư, căn hộ chung cư với
những kích thước lớn, nhỏ khác nhau.
Giao dịch của BĐS là nhà ở có
thể phục vụ cho các mục đích khác nhau
như để ở, để đầu tư hoặc cho thuê.
Trong định giá nhà ở dù áp dụng
phương pháp nào đi nữa một số nhân tố cơ bản sau ảnh hưởng đến giá trị nhà ở
cần xem xét.
- Kích thước và số lượng phòng
ngủ
- Vị trí ngôi nhà: Đây là nhân
tố có ảnh hưởng rất lớn đến giá của ngôi nhà được trả, bởi vì nó ảnh hưởng đến
các tiện ích cuộc sống của người sử dụng ngôi nhà, ví dụ khoảng cách đến trường học, chợ, bến xe, công
viên…
- Các tiện nghi ở như bố trí hệ
thống điện, nước, vệ sinh, garage ô tô,
bếp và điều kiện sân, vườn…
- Tuổi ngôi nhà và điều kiện bảo
dưỡng, sửa chữa. Những thay đổi trong
thị hiếu và lối sống những ngôi nhà hiện đại, mới được xây dựng ngày càng được
ưa chuộng và có xu hướng tăng giá và ngược lại. Các điều kiện bảo dưỡng sửa
chữa phải được xem xét ở cả 2 khía cạnh, đó là chi phí thay thế và chi phí bảo
dưỡng của các bộ phận cấu thành trong ngôi nhà. Những điểm cơ bản khi xem xét
ngôi nhà là điều kiện của các cấu trúc chính và mái, điều kiện của ngoại thất,
nội thất…
3.3.2. Phương pháp
định giá nhà ở.
3.3.2.1. Phương pháp so sánh.
Trong điều kiện hiện nay việc
ước lượng giá trị của nhà ở dựa trên mức tiền cho thuê trên thị trường hiếm khi
được sử dụng, khi mà loại BĐS này đã được đưa ra mua, bán trên thị trường. Do
đó để định giá nhà ở phương pháp so sánh trực tiếp thường được sử dụng
Khi định giá nhà ở bằng phương
pháp so sánh, người định giá cần tìm những ngôi nhà tương tự ngôi nhà cần định
giá ở trong cùng khu vực thị trường để so sánh. Bằng việc so sánh những điều
kiện chung liên quan đến các giao dịch nhà ở
có thể so sánh được đã được thực hiện trên khu vực thị trường có BĐS cần
định giá như quyền sở hữu, các điều kiện thanh toán, điều kiện thị trường, thời
gian diễn ra giao dịch và các điều kiện cụ thể đối với các BĐS so sánh như vị
trí ngôi nhà, kích thước các phòng, các tiện ích và điều kiện sửa chữa, bảo
dưỡng của BĐS để từ đó rút ra chỉ số giá
trị của toàn bộ BĐS hoặc chỉ số giá trị/ đơn vị như m2 xây dựng hoặc m2 sàn
sử dụng, m2 đất sử dụng, m mặt đường… . Trên cơ sở các chỉ số giá
trị của từng BĐS so sánh thực hiện hòa hợp chỉ số giá trị để
tính ra giá của BĐS cần định giá.
Ví dụ:
Người định giá có ngôi nhà bốn phòng có diện tích sàn sử dụng 180 m2
cần đánh giá. Nghiên cứu cho thấy rằng trên cùng đường phố có các ngôi nhà bốn
phòng có diện tích tương tự đã được bán như sau:
12 tháng trước ngôi nhà diện tích sử dụng 180 m2 bán với
giá 2900 triệu đồng
8 tháng trước ngôi nhà diện tích sử dụng 170 m2 bán với
giá 2867 triệu đồng
6 tháng trước ngôi nhà diện tích sử dụng 185
m2 bán với giá 2952 triệu đồng
3 tháng trước ngôi nhà diện tích sử dụng 175 m2 bán với
giá 2915 triệu đồng
1 tháng trước ngôi nhà diện tích sử dụng 185 m2 bán với
giá 3000 triệu đồng
Sau khi phân tích việc bán những bất động sản
này, người định giá thấy rằng vụ bán nhà đầu tiên có giá 16,11 triệu đồng trên
1 m2 sử dụng, vụ bán nhà cuối cùng có giá 16,21 triệu đồng trên 1 m2
sử dụng. Người định giá cũng thấy rằng có tỷ lệ tăng thống nhất là 10.000 đ/m2
1 tháng trong giá trị vốn của loại nhà này và do ngôi nhà đang xem xét được
đánh giá là 2919,6 triệu đồng, làm tròn 2920 triệu đồng ( 180 m2 ×
16,22 tiệu đồng / m2 ).
Đây là
một ví dụ đơn giản sử dụng phương pháp so sánh và trong thực tế việc sử dụng
phương pháp này thường phức tạp hơn. Điều cấn thiết là kiểm tra liệu các bất
động sản khác có số lượng phòng tương tự, liệu vị trí của chúng có chất lượng
tương đương, liệu tài sản cố định và nôi thất có giống nhau và chất lượng tương
đương hay không, và cũng phải kiểm tra ngững đặc tính khác của từng bất động
sản. Những điều chỉnh trong phân tích cho từng bằng chứng về yếu tố thị trường
là cần thiết để xem xét các thay đổi trong những yếu tố đó.
3.3.2.2. Phương pháp giá vốn hóa tiền thuê nhà
ở
Đối với nhà cho thuê nếu trong khu vực thị
trương lân cận bất động sản thì định giá không có các cuộc mua bán có thể so
sánh được với ngôi nhà cần định giá, nhưng chúng ta biết được mức tiền thuê của
ngôi nhà thì có thể áp dụng phương pháp giá vốn hóa để định giá.
Phần lớn các ngôi nhà cho thuê chủ sở hữu
thường có trách nhiệm trong việc bảo dưỡng, sửa chữa nhà, chiếu sang khu vực
công cộng, bảo hiểm và chi phí quản lý. Nếu mức tiền thuê nhà được bao gồm tất
cả các chi phí trên chúng ta phải trừ khỏi tổng thu nhập từ tiền thuê để nhận
được mức thuê ròng. Bằng phương pháp vốn hóa trực tiếp chúng ta có thể tìm được
tổng giá trị vốn của ngôi nhà
Ví dụ: Một ngôi nhà cho thuê với mức tiền
thuê hàng tháng là 20 triệu đồng. Các chi phí thường xuyên của chủ sở hữu bao
gồm chi phí điện, bảo hiểm, quản lý hàng năm là 30 triệu đồng. Giá bất động sản
là bao nhiêu?
Giải: Giá tiền thuê hàng năm là: 20 tr.đ × 12 tháng = 240 tr.đ.
Tổng tiền thuê ròng hàng năm: 240 tr.đ – 30
tr.đ = 210 tr.đ.
Tỷ lệ vốn hóa của nhà cho thuê, cho rằng bằng
8% năm.
Giá trị bất
động sản = 210 tr.đ/8% = 2625 tr.đ
3.4. ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
3.4.1. Đặc điểm của BĐS là công trình xây dựng
BĐS là
công trình xây dựng bao gồm nhiều loại khác nhau. Mỗi một công trình xây dựng
đều được phục vụ cho một mục đích nhất định. Đó có thể là các bất động sản dùng
làm cửa hàng, là văn phòng, làm nhà kho, hay để làm nhà xưởng phục vụ cho sản
xuất công nghiệp… Do đó về mặt thiết kế, kiến trúc và thi công xây dựng cũng
khác nhau và do đó giá trị của mỗi công trình xây dựng cũng sẽ khác nhau. Bởi
vậy trước khi tiến hành định giá phải xác định rõ mục đích sử dụng của công
trình đó. Có thể cùng một mặt bằng xây dựng nhưng nếu xây nhà để ở thì giá trị
sẽ khác so với xây nhà làm văn phòng cho thuê hay khách sạn. Từ các mục đích
khác nhau này cũng dẫn đến việc đầu tư vào xây dựng công trình cũng khác nhau,
hay chi phí để xây dựng công trình và các chi phí có liên quan khác cũng sẽ
không giống nhau.
Ranh
giới phân biệt giữa các công trình xây dựng này không rõ ràng. Các bất động sản
có thể được xây dựng với nhiều mục đích thay thế khác nhau. Ví dụ, các bất động
sản có thể được xây dựng với mục đích ban đầu là để làm nhà kho chứa hàng,
nhưng sau đó có thể phá bỏ một cách dễ dàng và được sử dụng vào làm cửa hàng
với mức tiền thuê cao hơn.
Giá
trị thị trường tại một thời điểm sẽ do việc sử dụng hiệu quả các công trình đó
quyết định.
Các
yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mỗi loại bất động sản ở trên được chia thành 3 tiêu
chí chính: chất lượng, số lượng và vị trí của bất động sản đó.
Trong
trường hợp bất động sản là cửa hàng thì điều cơ bản nhất ảnh hưởng đến tiền
thuê là số lượng khách mua hàng trong năm và loại hàng hóa mà các khách hàng đó có thể mua được. Còn đối
với các bất động sản là văn phòng thì các yếu tố như sự thuận lợi về vị trí và
cách tiếp cận cho mục đích kinh doanh sẽ quyết định tiền thuê. Đối với bất động
sản công nghiệp và nhà kho thì các yếu tố về cách thức tiếp cận và khả năng
cung ứng của nguồn lao động sẽ là các yếu tố chính.
Ngoài
ra còn có một số loại bất động sản công trình xây dựng khác rất hiếm khi cho
thuê hoặc giao dịch trên thị trường, bởi vậy rất khó khăn trong việc định giá
chính xác giá trị của chúng. Một số ví
dụ điển hình đó là các bất động sản theo qui định của pháp luật, như trạm điện,
xăng dầu, hoặc các bất động sản cho mục đích từ thiện, bất động sản là trường
học.Trong những trường hợp này cần phải xem xét việc sử dụng thay thế của bất
động sản, chi phí để chuyển đổi chúng sang các mục đích thay thế và giá trị
chuyển đổi.
Ngoài
ra giá trị của các bất động sản công trình xây dựng còn phụ thuộc nhiều vào yếu
tố pháp luật. Tức là tính hợp pháp của công trình xây dựng đó. Bởi vậy trong
quá trình định giá cần phải xem xét các yếu tố pháp luật liên quan đến xây dựng
của chính quyền địa phương.
Các
công trình xây dựng bao gồm nhiều loại khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tiến hành
định giá một số công trình xây dựng điển hình như cửa hàng, nhà kho, bất động
sản công nghiệp (nhà xưởng) và văn phòng.
3.4.2 Định giá một số BĐS là công trình
thương mại
3.4.2.1. Định giá bất động sản là Cửa hàng
Loại hình cửa hàng:
Yếu
tố quan trọng của cửa hàng là sự phù hợp của chúng với việc trưng bày và bán
sản phẩm hàng hóa. Mặt tiền để trưng bày hàng hóa là yếu tố cần quan tâm đầu
tiên cùng với các đặc điểm và điều kiện của mặt tiền cửa hàng. Tiếp đến là sự
phù hợp của nội thất bên trong, hệ thống ánh sáng, khu vực nhận và phân phối
hàng hóa (điều này đặc biệt quan trọng khi mà chỗ đỗ xe, chỗ xếp dỡ hàng hóa
đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các cửa hàng nằm trong trung tâm thành
phố), đặc điểm của mặt sàn:có thể sử dụng vào việc gì khác hay chỉ phù hợp với
việc bán hàng, các điều kiện khác về sửa chữa và hệ thống vệ sinh.
Yếu
tố không kém phần quan trọng nữa là người thuê có được quyền trưng bày hàng hóa
ở sân trước cửa hàng hay không.
Khi
xem xét một bất động sản cụ thể thì cần phải quan tâm đến khả năng về sự thay
thế cấu trúc trong tương lai nhằm mục đích cải thiện tài sản.
Trong
việc định giá các bất động sản lâu năm, chúng ta không chỉ quan tâm đến vòng
đời hữu ích của nó mà còn quan tâm đến khả năng trong việc tái thiết lại toàn
bộ hoặc một phần. Ví dụ việc mở rộng khoảng không bán hàng theo qui định của
thành phố.
Đối
với mặt sàn thì yếu tố cần quan tâm là làm thế nào để tận dụng được mặt sàn.
Loại khách hàng thuê.
Điều
này hết sức quan trọng đối với giá trị bất động sản đứng trên quan điểm đầu tư.
Ví dụ các loại hình kinh doanh nhất định, bao gồm như dược, hoa quả thực phẩm
thường đòi hỏi tính ổn định, trong khi những loại hình khác như cafe thì lại khác.
Thời
hạn cho thuê cũng hết sức quan trọng, nó liên quan đến việc đảm bảo thu nhập,
bởi vì việc thanh toán tiền thuê có thể dựa trên thời hạn hợp đồng cho dù lợi
nhuận thu được từ họat động kinh doanh không được như mong đợi.
Các điều khoản của hợp đồng:
Các
bất động sản là cửa hàng có thể được cho thuê dựa trên một số các điều khỏan như
trách nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng BĐS, thuế…
Độ
dài của hợp đồng cũng là một yếu tố cần phải xem xét. Một nhà đầu tư thường
muốn được thuê dài hạn với điều khoản tiền thuê.
Giá trị tiền thuê:
Khi so sánh giá trị tiền thuê giữa các cửa
hàng, chúng ta cần phải xem xét đến qui mô của chúng. Đối với các cửa hàng nhỏ
có thể cung cấp được diện tích mặt sàn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh mang
lại hiệu quả thì thường có nhu cầu lớn hơn; trong khi đó thì những cửa hàng lớn
hơn, nhu cầu thuê sẽ ít hơn và do đó tiền thuê sẽ không tăng theo tỷ lệ diện
tích mặt sàn.
Người
định giá có kinh nghiệm cần phải ước lượng giá trị tiền thuê bằng phương pháp
so sánh trực tiếp với tiền thuê thực tế được trả, sử dụng các điều chỉnh và
kiến thức của mình để thấy được sự biến đổi của tiền thuê /m2 theo
qui mô và vị trí.
Một
số nhà định giá thường so sánh các cửa hàng qua yếu tố mặt tiền, trong khi đó
giá trị tiền thuê lại được thể hiện bằng $/năm theo đơn vị chuẩn như 5,5m x12m
hoặc 6mx15m. Giá trị tiền thuê của các cửa hàng với qui mô khác nhau được xác định
theo phương pháp so sánh với giá trị
tiền thuê của một đơn vị chuẩn trong khu vực đó.
Việc
định giá các bất động sản mở rộng thêm như tầng hầm, mặt đất, và số lượng diện
tích mặt sàn thì có thể gặp khó khăn trong việc quyết định giá trị tiền thuê
dựa trên phương pháp so sánh của các diện tích mặt sàn khác nhau. Nhìn chung,
diện tích mặt sàn là phần có giá trị nhất. Giá trị của phần tầng hầm và diện
tích ở tầng trên có giá trị thấp hơn. So sánh tiền thuê của các cửa hàng có
tầng hầm và mặt sàn với các cửa hàng không có các tiện nghi này, chúng ta sẽ có
được giá trị của các phần tiện ích này. Ví dụ, nếu một cửa hàng không có tầng
trên được thuê với giá $4000/năm và một cửa hàng khác cùng diện tích nhưng có
tầng 1 và tầng 2 ở trên thì được thuê với giá $6000, như vậy chúng ta có thể
coi như tiền thuê của tầng 2 là $2000
Việc
so sánh với một vài trường hợp mà có diện tích tầng trên được cho thuê riêng rẽ
sẽ giúp cho người định giá kiểm tra được các con số này và sẽ quyết định được
mức tiền thuê/m2 một cách hợp lý cho phần mặt sàn tầng 1 và tầng 2.
Giá trị vốn:
Trên
cơ sở giá trị tiền thuê được xác định thông qua phương pháp so sánh, sau đó có
thể sử dụng phương pháp vốn hóa để xác định giá trị vốn của cửa hàng.
Những
phần cho thuê riêng rẽ, ví dụ để ở thì có thể tính riêng ở mức tỷ lệ tiền thuê
khác. Tuy nhiên trong trường hợp bất động sản thuê theo hợp đồng thì nó có thể
liên quan đến các phần của tiền thuê tầng trệt, và phương pháp định giá có thể
khấu trừ tiền thuê tầng trên, sau đó được vốn hóa ở một tỷ lệ phần trăm trung
bình cho toàn bộ bất động sản.Trong một số trường hợp đặc biệt thì bằng chứng
từ các giao dịch thực tế là cơ sở tốt nhất để vốn hóa giá trị tiền thuê
3.42.2.Định giá bất động sản công nghiệp
Để
so sánh với các bất động sản công nghiệp chúng ta cần xem xét các vấn đề sau:
a. Xây dựng:
Đảm bảo ánh sáng tự
nhiên .
Độ cao phù hợp .
Các phương tiện chống
cháy nổ, hệ thống vệ sinh và thông gió.
Kiểu dáng xây dựng
Các dịch vụ cũng là
những vấn đề đáng quan tâm như cung cấp điện, khí gas.
Các tài sản cũng phải
được bố trí sao cho thuận lợi trong sản xuất, thuận lợi cho việc cung cấp và
nhận hàng hóa dịch vụ.
Đối
với các nhà máy lớn thì cần phải có hệ thống nhà ăn, phúc lợi xã hội và bãi đỗ
ô tô
b) Tiền thuê và giá trị vốn:
Trong một số trường hợp
đất đai đã được bán và các nhà xưởng đã bị phá dỡ theo yêu cầu của người mua,
và sẽ không có nhiều bằng chứng về giá trị tiền thuê. Trong những trường hợp
như vậy, khi định giá chúng ta phải quan tâm đến giá trần hơn là giá trị thuê
của bất động sản. Mặc dù vậy chúng ta cũng phải kiểm tra lại giá trị tiền thuê.
Ở các trung tâm thành
phố, một tòa nhà lớn thường cho thuê hết tòan bộ mặt sàn, người thuê sẽ trả
tiền thuê có loại trừ, chủ nhà sẽ chịu trách nhiệm sửa chữa các phần chung như
cầu thang bộ, cầu thang máy.
Phương
pháp để định giá các bất động sản loại này là ước lượng thu nhập ròng trừ đi
các khỏan chi phí vận hành từ tổng tiền thuê, và khi cần thiết có thể kiểm tra
lại các giá trị đó với các bất động sản tương tự.
Tỷ
lệ vốn hóa có thể biến đổi từ 7 đến 12,5%
Trong
việc so sánh giữa một bất động sản và một bất động sản khác cần hết sức chú ý
đến các yếu tố đã đề cập ở trên. Sự khác biệt giữa các yếu tố như vị trí, khu
vực, được xây dựng hiện đại với đầy đủ trang thiết bị như hệ thống thông gió,
hệ thống đường sá sẽ phải được tính toán để xác định mức giá trên một đơn vị
mặt sàn.
Đôi
khi chúng ta nhận thấy rằng một số bất động sản công nghiệp được xây dựng từ
các tòa nhà mới hoặc cũ, một số BĐS có
rất ít giá trị trên thị trường. Chúng có thể được xây dựng cho mục đích kinh
doanh đặc thù và mặc dù đã mở rộng diện tích mặt sàn nhưng giá trị trên thị
trường vẫn thấp.
3.4.2.3. Định giá bất động sản văn phòng.
Phương
pháp để áp dụng trong định giá bất động sản văn phòng là phương pháp vốn hóa.
a) Thu nhập.
Giá
trị thu được hàng năm thường liên quan
đến diện tích cho thuê. Và trong các quảng cáo về diện tích mặt sàn cho thuê,
tiền thuê thường được tính theo m2 mặt sàn. Trước khi các văn phòng
được xây dựng thì thực tế này thường khó tránh khỏi. Nhưng khi các văn phòng đã
được xây dựng thì tiền thuê sẽ được tính theo $/năm.
Việc
cho thuê bất động sản văn phòng thường không ổn định, nó phụ thuộc vào từng
thời điểm và các chủ sở hữu có thể thỏa thuận tiền thuê đối với mỗi người thuê
khác nhau. Yếu tố khác cũng cần quan tâm đó là diện tích mặt sàn. Ví dụ nếu
tòan bộ tầng 5 là một người thuê, trong khi đó tầng 6 có 7-8 người thuê thì thu
nhập từ tầng 6 có thể cao hơn thu nhập từ tầng 5.
Việc
ước lượng của người định giá về tiền thuê sẽ phụ thuộc vào các trường hợp cụ
thể và cách thức mà văn phòng đó được sử dụng một cách tốt nhất. Mức tiền thuê
này có thể được tính dựa trên sự so sánh với việc cho thuê các văn phòng tương
tự trong cùng khu vực.
Khi
định giá các bất động sản văn phòng còn để trống, hoặc ước lượng tiền thuê đối
với bất động sản xây mới sẽ cho thuê thì chúng ta cần phải so sánh với các bất
động sản văn phòng khác đã cho thuê.
b) Các điều khỏan thuê.
Đây là một yếu tố hết sức quan trọng. Các điều
khỏan thuê sẽ qui định các trách nhiệm của người thuê với chủ nhà. Ví dụ như
việc ai là người sẽ phải chịu các chi phí như sửa chữa, bảo dưỡng các yếu tố
như thang máy, thang bộ và các phần khác trong khu sử dụng chung. Người thuê cũng
có thể chịu mọi việc sửa chữa bên trong văn phòng đó. Nếu văn phòng được cho
thuê với những người thuê đơn lẻ thì tiền hợp đồng thuê cần phải có đầy đủ các
điều khoản về sửa chữa và bảo hiểm.
c) Các chi phí.
Việc
khấu trừ một tỷ lệ phần trăm từ tổng tiền thuê sẽ cho ta thu nhập ròng. Chúng
ta cần phải xem xét các chi phí của bất động sản theo kinh nghiệm của bản thân
hoặc so sánh với các bất động sản tương tự khác. Các chi phí đó có thể bao gồm:
-
Sửa chữa:
-
Các dịch vụ
+ Hệ thống điều hòa
nhiệt độ.
+ Hệ thống ánh sáng
và đèn.
+ Cầu thang máy.
+ Dịch vụ vệ sinh
+ Nhân lực. .
+ Bảo hiểm. .
+ Chi phí quản lý.
d) Thu nhập ròng và giá trị vốn.
Việc ước lượng giá trị ròng ở trên không cần
thiết phải liên quan đến thu nhập ròng thực tế của từng năm. Tuy nhiên đây là
khoản thu nhập mong đợi theo từng giai đoạn.
Cơ
sở để vốn hóa giá trị phụ thuộc vào loại hình bất động sản, vào từng trường hợp
cụ thể, và sự cạnh tranh của các bất động sản tương tự trong cùng khu vực và sự
ước lượng của người định giá.
Trong
một số trường hợp, bất động sản định giá bao gồm nhiều loại bất động sản khác ở
bên trong, chúng được định giá ở các tỷ lệ
vốn hóa khác nhau. Ví dụ: Một bất động sản có thể bao gồm cửa hàng ở
tầng trệt, nhà hàng ở tầng hầm, văn phòng ở phía trên. Các bất động sản này sẽ
được định giá theo các tỷ lệ tương ứng.
3.4.2.4.
Định giá bất động sản là trang trại.
Khi định giá BĐS nông nghiệp các nguyeê ắtc
cơ bản của dịnh giá vẫn được vận dụng. Tuy nhiên cần tính đến sự khác biệt liên
quan đến thực tế là giá trị của đất nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất và khả năng thu nhập từ đất.
Trang trại là loại BĐS tạo thu nhập, do đó
giá trị của trang trại phụ thuộc vào thu nhập hàng năm thu được từ hoạt động
kinh doanh trong trang trại. Khi định giá loại BĐS này cần đánh gía được mức
tiền cho thuê (nếu phải đi thuê) để từ đó tính ra giá trị của nó.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị trang trại.
Khi định giá trang trại có một số yếu tố cơ
bản sau cần đánh giá.
-
Vị trí
trang trại: Vị trí trên bản đồ. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị
của trang trại.
-
Các đặc
điểm địa hình của đất đai
-
Khí hậu
và lượng mưa có ảnh hưởng đến tiềm năng của trang trại.
-
Quy mô
trang trại
-
Chất
lượng đất đai
-
Hệ thống
tưới tiêu cho đồng ruộng
-
Đường và
lối vào
-
Bờ rào
và cổng.
-
Đường
nước và điện
-
Nhà cửa.
-
Các công
trình xây dựng khác.
-
Các yếu
tố khác cũng ảnh hưởng đến mức tiền thuê đó là trách nhiệm sửa chữa và bảo
dưỡng.
3.4.2.5.
Các phương pháp định giá.
Có 3 phương pháp thường được sử dụng để định
giá mức tiền thuê trang trại.
-
Định giá
trên cánh đồng
-
Vốn hóa
của:
o
Lợi
nhuận của trang trại
o
Doanh
thu hay tổng thu nhập
- So sánh mức tiền thuê nhận được trong thị
trường mở.
Để hiểu được việc áp dụng các phương pháp này
chúng ta có thể thấy cách tính toán như
sau:
a) Phương
pháp định giá trên cánh đồng
Đây là phương pháp định giá bằng kỹ năng kinh
nghiệm. Mỗi cánh đồng được kiểm tra và số liệu tại chỗ được thu thập theo đơn
vị sào, mẫu hoặc ha. Nếu trang trại có các mảnh ruộng giống nhau thì chỉ
cần thu thập số liệu tại 1 mảnh ruộng và
nhân lên. Nhiều người định giá có khả năng phân biệt giữa đất tốt, đất trung
bình và đất xấu.
Đánh giá tại chỗ trên đồng ruộng đòi hỏi phải
có hiểu biết tốt về giá trị tiền thuê trong các khu vực lân cận, giống như
trong phương pháp so sánh. Bởi vì những năm doanh thu thấp do thiên tai, địch
họa sẽ gây ra mức tiền thuê thấp.
Trong quá trình đánh giá trên cánh đồng,
người định giá phải luôn ghi nhớ về những nhân tố ảnh hưởng đến mức tiền thuê,
những đặc điểm vật lý, chất lượng đất, những điều khoản và phát biểu về nhà cửa,
hàng rào, đường đi lối lại, và các thiết bị cố định. Rất ít khi nhà cửa và công
trình xây dựng trong trang trại được định giá riêng biệt. Sự đầy đủ của các yếu
tố này được đưa vào tính toán trong định
giá như một BĐS tổng thể. Như vậy nếu có 2 trang trại có sự khác biệt, 1 trang
trại được trang bị tốt hơn sẽ có giá thuê cao hơn.
Định giá trên cánh đồng của ví dụ này có thể
đưa ra như sau: Mức tiền thuê được tính trung bình/ đơn vị diện tích (sào, mẫu
hoặc ha)
- Đất canh tác:
+ Loại 1:
+ Loại 2:
- Đất chăn nuôi
-
Công trình, nhà cửa, đường đi, máy móc thiết bị
Tổng
giá trị trang trại sẽ là tổng cộng giá trị của từng hạng mục ở trên
b) Vốn
hóa lợi nhuận của trang trại
Trong phương pháp này người định giá xem xét
vấn đề trên quan điểm như của người thuê.
Phương pháp này đòi hỏi dự tính thu nhập và chi phí hàng năm dựa trên mức trung bình mà người nông dân xem
xét cho là phù hợp với hệ thống sản xuất của trang trại như sản xuất lương
thực, trồng cây ăn quả, trồng rau. Chăn nuôi lợn, bò sữa hay gia cầm…Sự chênh
lệch giữa giá trị của các yếu tố đầu ra và đầu vào thể hiện sự kết hợp thu nhập
cá nhân của nông dân và chi phí mà người này sẵn sàng trả cho tiền thuê trang
trại.
(1)Ước lượng
giá trị sản phẩm đầu ra:
Sản phẩm trồng trọt
+Lúa
+Ngô
+…
-
Giá trị
sản phẩm chăn nuôi:
+ Lợn thịt
+ Gia cầm
….
(2) Các chi phí đầu vào:
-
Các chi
phí cho ngành trồng trọt
-
Các chi
phí cho ngành chăn nuôi
-
Chi phí
quản lý và chi phí khác
Chênh lệch
giá trị đầu vào và các chi phí đầu ra sẽ cho lợi nhuận từ sản xuất kinh
doanh trong trang trại. Vấn đề ở đây là tỷ lệ đóng góp vào lợi nhuận kinh doanh
được coi như tiền thuê trang trại trên thị trường của BĐS là bao nhiêu? Để xác
định tỷ lệ này người định giá phải dựa trên quan điểm của người đi thuê trang
trại, nếu người này trả cho việc thuê trang trại nhiều thì họ sẽ còn lại ít lợi
nhuận để chi dùng. Nếu một nông dân trẻ hăng hái có thể họ chấp nhận một lượng
thu nhập thấp để có được một trang trại như mong muốn, nhưng đối với những nông
dân đã lâu năm trong nghề, họ sẽ tính đến việc đi vay ngân hàng để mua sắm các
thiết bị sản xuất, do đó lợi nhuận của trang traị sẽ giảm vì họ còn phải trả
lãi ngân hàng. Những người nông dân với
các trách nhiệm gia đình và hướng đến mức sống cao lại có thể đòi hỏi mức thu
nhập cao.
Theo những nghiên cứu của nhiều nhà nghiên
cứu trên thế giới tỷ lệ đóng góp của BĐS vào lợi nhuận kinh doanh của trang
trại mới cho thuê chiếm khoảng từ 25 đến 50%.
c) Vốn
hóa tổng thu nhập của trang trại
Phương pháp này đòi hỏi các số liệu tương tự
như phương pháp trên, nhưng ít hơn. Phương pháp này dựa trên việc ước lượng giá
trị sản phẩm tiềm năng của trang traị, các chi phí được bỏ qua. Việc tính toán
dựa trên hệ thống sản xuất nông nghiệp trung bình của 1 vùng.
Tuy nhiên, do việc tăng chi phí sản xuất
những năm gần đây nên phương pháp định giá này không chắc chắn. Rất khó chỉ ra
một tỷ lệ hợp lý đóng góp của BĐS vào tổng thu nhập trong năm của trang trại
cho mục đích định giá. Nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ lệ này là khoảng từ 8-12%.
Đối với những trang trại chi tiêu tiết kiệm thì tỷ lệ này có thể là 12,5%
Phương pháp “doanh thu” được sử dụng bởi
nhiều thế hệ các nhà định giá, nhưng ít được sử dụng, nhưng phương pháp này có
thể sử dụng để kiểm tra sẽ rất hữu ích.
d) Phương
pháp so sánh
Trong đánh giá mức tiền thuê trong thị trường
mở các bằng chứng so sánh là vô giá, nhưng những thông tin sau đòi hỏi người
định giá phân tích để đi đến kết luận.
-
Các
trang trại phải cùng trong một địa phương.
-
Quy mô
và các máy móc thiết bị cố định phải tương tự nhau.
-
Hệ thống
canh tác hay chăn nuôi phải tương tự nhau
-
Thời hạn
và điều kiện cho thuê cùng với thỏa thuận thuê phải được xem xét và so sánh.
-
Người
định giá cần xem xét tất cả các yếu tố phù hợp liên quan đến việc cho thuê lại.
Phương pháp này bao gồm việc so sánh trực
tiếp các yếu tố và đưa ra kết luận. Nếu những BĐS có thể so sánh được một cách
trực tiếp không sẵn có thì có thể sử dụng các bằng chứng thống kê
3.4.2.6.
Định giá cho việc mua hoặc bán trang trại.
Cũng như với các hình thức BĐS khác, giá trị
vốn của trang trại được xác định bằng cách ước tính thu nhập ròng của sản xuất
trong trang trại, phân bổ thu nhập ròng này cho sự đóng góp của trang trại như
thể phải đi thuê, trừ đi các khoản chi phí liên quan đến BĐS như sửa chữa, bảo
hiểm, thuế…, kết quả nhận được nhân với
số nhân hay chia cho tỷ lệ vốn hóa.
a.
Các khoản chi phí liên quan đến BĐS trang traị
- Thủy lợi phí: Đây là khoản phí các hộ sản
xuất nông nghiệp phải trả, do các công ty thủy nông thu theo đơn vị diện tích
đất đai nhằm mục đích cung cấp nước cho sản xuất và duy tu bảo dưỡng hệ thống
kênh mương.
- Chi phí sửa chữa là chi phí lớn nhất trong
các chi phí liên quan đến BĐS trang trại. Tỷ lệ bao nhiêu của tổng tiền thu từ
trang trại cần được trừ cho chi phí này phụ thuộc vào các điều kiện chung của
các thiết bị cố định. Chế độ quản lý, sử dụng và khấu hao tài sản cố định có
thể tham khảo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12-12-2003 của Bộ Tài chính.
Để xác định trách nhiệm sửa chữa của chủ sở
hữu phụ thuộc vào:
+
Loại, tình trạng và đặc điểm của công trình xây dựng và các thiết bị cố định
khác.
+ Cấu
trúc của công trình, tuổi, quy mô và điều kiện
+ Việc
sử dụng chúng.
+ Sự phù hợp của chúng với những hệ thống sản xuất
nông nghiệp khác nhau.
+ Các
bộ phận của công trình xây dựng dư thừa so với yêu cầu sử dụng thông thường.
- Chi phí bảo
hiểm và chi phí quản lý thường không được trừ một cách tách biệt
b. Tỷ lệ
vốn hóa hay số nhân
Nghiên cứu các cuộc mua, bán trang trại ở một
số nước đã chỉ ra rằng số nhân là khoảng từ 14 đến 89 lần mức tiền thuê được
trả cho trang trại mỗi năm, mức trung bình được tính theo thị trường là 25. Áp
dụng con số này dựa trên tổng thu nhập từ trang trại như được cho thuê và trang
trại được bán cùng với tài sản trên đó. Tuy nhiên để phục vụ cho khung lý
thuyết người định giá có thể lựa chọn giữa 20 đến 50.
Ví dụ:
Thu nhập được phân bổ cho BĐS hàng năm: 103
triệu đồng
Trừ Chi phí sửa chữa 14,4 triệu đồng
Chi
phí quản lý và bảo hiểm, 10% 10,3 triệu đồng
Thu
nhập ròng 78,3 tr.đ
Số
nhân ở tỷ lệ vốn hóa 3,5% 28,57
Giá
trị vốn (giá trị BĐS) 2237 triệu đồng
Vì nhiều lý do không liên quan đến thuế và
lạm phát, nếu cầu về loại trang trại này tăng thì giá trị vốn của trang trại sẽ
tăng.
Định giá trang trại không có tài sản là vấn
đề khó, và việc thu thập và so sánh giá bán những trang trại tương tự là cần
thiết.
3.4.2.7.
Định giá rừng
Khi định giá rừng, các nguyên tắc định giá cơ
bản vẫn được vận dụng, tuy nhiên cần chú ý đến một số nguyên tắc đặc thù trong
việc định giá rừng như sau:
- Giá rừng phải phản ánh trung thực giá trị của
đất đai và giá trị tu bổ nâng cấp. Do đó các yếu tố khí hậu, độ cao, địa hình,
lớp đất canh tác, vị trí của cánh rừng có tác động đến giá trị sử dụng tiềm
năng của đất rừng và giá trị của rừng..
- Giá rừng phải góp phần thúc đẩy nâng cao năng
suất cây trồng và thu nhập cho người trồng và khai thác rừng.
Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28-3-2007 của Chính Phủ về nguyên tắc và phương pháp
định giá các loại rừng cũng đã đưa ra
quy định về những nguyên tắc, căn cứ cơ bản và phương pháp định giá rừng làm cơ
sở để các địa phương xác định khung giá rừng phục vụ cho công tác quản lý Nhà
nước về rừng.
a) Cơ
sở xác định giá rừng
Trong luật Bảo vệ và Phát triển rừng của nước
ta ghi rõ: “Giá rừng là số tiền được tính trên 1 đơn vị diện tích rừng do Nhà
nước quy định hoặc được hình thành trong quá trình giao dịch về quyền sử dụng
rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng”.
Như vậy giá rừng là giá thị trường được hình
thành thông qua giao dịch về quyền sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng
sản xuất là rừng tự nhiên và quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Để xác định một cách cụ thể giá rừng cần đánh
giá đầy đủ và khoa học những yếu tố cấu thành giá trị của rừng.
- Định lượng trữ lượng gốc cây (cây đứng): Giá
trị của rừng phụ thuộc vào số lượng cây đứng (khai thác được hay còn non) trên
diện tích rừng đó. Thống kê số lượng cây
gỗ hay số m3 gỗ có thể đạt được sẽ cho phép đánh giá được trữ lượng
gỗ rừng. Cần liệt kê chi tiết số lượng cây gỗ và theo từng loài cây và theo chu
vi cây gỗ. Thống kê số lượng cây con để xác định chỉ số về triển vọng tái sinh
của rừng. Đối với trường hợp rừng nghèo hoặc rừng có giá trị của cây gỗ thấp so
với giá trị giải trí, có thể đánh giá trữ lượng gỗ trên cơ sở khảo sát chi
tiết. Sau đó áp dụng giá cho 1 m3 gỗ (giá bán gần đây nhất) đối với
mỗi loài cây với chất lượng và đường kính nhất định, chúng ta ước tính được giá
trị của gỗ cây hoặc giá trị của toàn cánh rừng với giả thiết chặt hạ toàn
bộ cây gỗ trên cánh rừng đó. Quy trình
này rất cần thiết trong định giá rừng với tư cách là BĐS, chúng ta không thể
tính giá rừng bằng cách cộng giá trị của cây gỗ giả định được khai thác (động
sản) với đất rừng (BĐS).
- Chất lượng gỗ: Đây là điểm cần lưu ý khi định
giá bởi vì chất lượng gỗ của các loài
cây khác nhau sẽ thay đổi đáng kể. Đối với những cây gỗ có cùng đường kính
nhưng thuộc các loài khác nhau sẽ có giá trị khác nhau, đo đó có thể kiểm tra
việc bán gỗ của cánh rừng đó trong thời
gian trước để tính giá trị của rừng theo vị trí, loài cây và kích thước.
- Chất lượng của đất và tính thích nghi của các
loài cây đối với đất rừng: Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất đất
đai đối với từng loài cây rừng.
- Khí hậu và tính thích nghi của cây với khí
hậu: Mỗi loài cây có yêu cầu khí hậu khác nhau cần đánh giá tính thích nghi của
cây trồng đối với vùng khí hậu của cánh rừng đó.
- Chất lượng cơ sở hạ tầng: Hệ thống giao thông
là yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đi lại chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng.
Những cánh rừng có khả năng tiếp cận tốt sẽ có giá trị cao hơn. Ngoài ra khi
định giá rừng cần đánh giá giá trị tăng thêm của rừng đối với các công trình
xây dựng trên đất rừng như nhà cửa, hồ nước, tường xây…
- Giá trị giải trí, săn bắn: Đối với những khu
rằng phòng hộ, đặc dụng hoặc tự nhiên với hệ động thực vật phong phú thì giá
trị giải trí hoặc giá trị săn bắn có thể
rất cao, do đó cần phải chú ý đến yếu tố này khi định giá rừng.
- Thị trường gỗ và thị trường rừng: Thị trường
gỗ thể hiện quan hệ cung cầu về gỗ, hoạt
động xây dựng và tỷ giá làm thay đổi
cạnh tranh của gỗ nhập khẩu…. Thị trường rừng mang tính chu kỳ do thị hiếu tiêu
dùng hoăc do những quy định về quản lý rừng chi phối hoặc do thiên tai.
b) Các
phương pháp định gía rừng.
* Phương pháp vốn
hóa
-
Phương pháp vốn hóa thu nhập trực tiếp: Đây là phương pháp
xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể căn cứ vào thu nhập thuần tuý
thu được từ rừng quy về thời điểm định giá và tỷ lệ vốn hóa được rút ra từ thị
trường.
Tỷ
lệ vốn hóa trong phương pháp này khó xác định, vì phải căn cứ vào các giao dịch
mua bán rừng trên thị trường. Trong định giá rừng để xây dựng khung giá chuyển
quyền sử dụng rừng hoặc chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của Nhà
nước thì tỷ lệ vốn hóa được tính là lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm
của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa
bàn ở thời điểm định giá.
Thu
nhập thuần túy thu được từ rừng được xác định là số tiền mà chủ rừng thu được
từ hoạt động khai thác lâm sản; kinh doanh
cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) sau khi trừ
chi phí đầu tư tạo rừng, thuế và các khoản chi phí hợp lý khác.
Áp dụng phương pháp vốn hóa thu nhập khi có đủ thông tin
để xác định được các khoản thu nhập thuần tuý mang lại cho chủ rừng từ diện tích
rừng cần định giá và tỷ lệ vốn hóa.
-
Trình tự định giá bằng
phương pháp vốn hóa thu nhập:
1.
Khảo sát, thu thập thông tin về diện tích rừng cần định giá gồm loại rừng theo
mục đích sử dụng rừng, trạng thái rừng, trữ lượng rừng, chất lượng lâm sản và các
quy định về quản lý và sử dụng rừng.
2. Xác định
các nguồn thu và chi phí đối với hoạt động khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh
quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) trên diện tích rừng cần
định giá.
3. Tính thu nhập thuần tuý trong các năm còn lại của chu
kỳ sản xuất (đối với rừng sản xuất là rừng trồng); thu nhập thuần tuý trong các
năm của thời hạn sử dụng rừng (đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản
xuất là rừng tự nhiên) hoặc thu nhập thuần tuý hàng năm bình quân (nếu có) đối
với rừng tự nhiên.
4.
Xác định tỷ lệ vốn hóa hoặc mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm
5.
Xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là
rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
- Phương pháp chiết khấu: Phương pháp này dùng để định giá
rừng bằng cách chiết khấu các khoản thu nhập từ rừng trong tương lai. Nó được áp
dụng để định giá các quần thể rừng sắp được thu hoạch.
Thực hiện phương pháp chiết khấu các khoản thu nhập từ rừng
trong tương lai theo các bước sau:
1.
Đánh
giá đợt thu hoạch cuối cùng và các sản
phẩm trung gian.
2.
Tính
giá trị của quần thể này
3.
Hiện
tại hóa về thời điểm định giá với tỷ suất chiết khấu r.
Ví dụ: Định giá 1 cánh rừng với dự kiến trong 5 năm tới sẽ
thực hiện phát quang (tỉa cây) dự kiến được 30m3 gỗ với giá 600.000đ/m3 và sau 15 sẽ thu hoạch
toàn bộ với dự kiến đạt 400m3 gỗ với giá bán dự kiến 1.000.000đ/m3,
tỷ lệ chiết khấu r = 4%/ năm.
Giá trị của quần thể là:
14,79 tr.đ + 222,2 tr.đ = 236,99
tr.đ
Giá trị tỉa cây: 30m3x 0,6 tr.đ/m3
x (1/(1+4%)5) =18 tr.đ x 0,8222 = 14,79 tr.đ
Giá trị thu hoạch:
400 m3x 1tr.đ/m3 x (1/(1+4%)15)=400tr.đ
x 0,5555 = 222,2 tr.đ
Giá trị của rừng = giá trị quần thể + giá trị của đất.
* Phương pháp
chi phí
Phương pháp chi phí là phương
pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể căn cứ vào các khoản chi
phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng. Phương pháp này chỉ áp dụng cho định giá rừng
sản xuất là rừng trồng khi chưa có giao dịch trên thị trường của loại rừng này.
Để tính chuyển các chi phí đã
đầu tư vào rừng về mặt bằng thời gian tại thời điểm định giá người ta có thể sử dụng tỷ lệ lợi
nhuận hoặc chi phí cơ hội của vốn đầu tư. Theo quy định của Nhà nước tỷ lệ này được tính là lãi suất tiền gửi tiết kiệm
kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất cao
nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá.
Áp dụng
phương pháp chi phí khi có đủ thông tin để xác định được các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng (gồm chi phí trồng, chăm sóc và quản lý
rừng, chi phí cơ sở hạ tầng) đối với diện tích rừng cần định giá tính từ thời
điểm đầu tư đến thời điểm định giá.
Trình
tự định giá bằng phương pháp chi phí:
1.
Khảo sát, thu thập thông tin về hiện trạng rừng, công trình kết cấu hạ tầng gắn
liền với mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời điểm định giá và các quy
định về quản lý và sử dụng rừng.
2.
Thu thập số liệu về chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá.
3. Xác
định tỷ suất lợi nhuận hoặc mức lãi suất tiền gửi cao nhất của ngân hàng thương mại tại thời điểm định
giá.
4.
Xác định giá trị rừng sản xuất là rừng
trồng.
* Định giá theo đất và quần thể.
Đây là phương pháp phổ biến được
áp dụng để định giá rừng khi gỗ có thể khai thác.Giá trị của rừng bao gồm:
- Giá trị của đất: là chi phí có
được mặt đất rừng dự kiến sau khi khai thác, cộng thêm giá trị gia tăng do cơ
sở hạ tầng đem lại (đường rừng, đầm, nhà lâm nghiệp…) và giá trị của hoạt động
săn bắn. Giá trị hoạt động săn bắn được
định giá bằng cách vốn hóa thu nhập từ việc săn bắn (nếu có, thường chiến từ 5-
10% thu nhập cho thuê bãi săn bắn).
- Giá trị của quần thể: đó là
giá trị thu được khi chặt toàn bộ rừng và áp dụng giá trung bình cho mỗi loài
cây và chu vi (đường kính) của cây.
Thông thường giá trị của rừng
không bằng tổng giá trị của đất và quần thể, bởi vì: Thứ nhất, các quy định quản lý rừng không cho phép chặt hết
cây cối trong rừng; Thứ hai, khi bán rừng là yếu tố BĐS bị điều chỉnh bởi các quy định
lớn hơn nhiều so với các quy định bán 1 súc gỗ có bản chất là 1 động sản; Thứ ba, một số khu rừng chưa trưởng
thành sẽ có giá trị khai thác thấp hơn giá trị tương lai.
* Phương pháp so sánh
Phương
pháp so sánh là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể
thông qua việc phân tích các mức giá rừng thực tế đã chuyển nhượng quyền sở hữu
rừng trồng, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng rừng trên thị trường của diện
tích rừng cùng loại, tương tự về trạng thái rừng, trữ lượng rừng; chất lượng
lâm sản để so sánh với diện tích rừng cần định giá.
Phương pháp so sánh được áp dụng để xác định
giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự
nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Áp dụng phương pháp so sánh khi có đủ thông tin về diện
tích rừng cùng loại đã chuyển nhượng, cho thuê trên thị trường hoặc giao dịch
(giữa Nhà nước và chủ rừng) có thể so sánh được với diện tích rừng cần định
giá.
Trong trường hợp diện tích rừng dùng để so sánh và diện
tích rừng cần định giá có những yếu tố không đồng nhất thì có thể dùng các hệ
số để điều chỉnh.
Trình tự định giá bằng phương pháp so sánh:
1. Khảo sát và thu thập thông tin về diện tích rừng cần
định giá gồm loại rừng theo mục đích sử dụng rừng, vị trí rừng, trạng thái
rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản và công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với
mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời điểm định giá và các quy định về quản
lý và sử dụng rừng.
2.
Xác định thông tin về diện tích rừng đã được giao dịch trên thị trường dùng để
so sánh gồm vị trí rừng, trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản và công
trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời
điểm chuyển nhượng, cho thuê hoặc giao dịch trên thị trường.
3.
Phân tích, so sánh để lựa chọn những tiêu chí giống nhau và khác nhau về giá
giữa diện tích rừng so sánh với diện tích rừng cần xác định giá.
4.
Điều chỉnh các yếu tố khác biệt về giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu
rừng trồng giữa diện tích rừng so sánh với diện tích rừng cần định giá.
5. Xác định giá quyền sử
dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên, giá quyền
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
3.4. HỒ SƠ VÀ CHỨNG THƯ ĐỊNH GIÁ BẤT
ĐỘNG SẢN
3.4.1. Hồ sơ định giá bất động sản
3.4.1.1. Khái niệm
Hồ sơ định giá: là
các tài liệu có liên quan đến công việc định giá tài sản do người định giá lập,
thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ trong quá trình thực hiện định giá. Tài
liệu trong hồ sơ định giá được thể hiện trên giấy, phim ảnh hay những vật mang
tin khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
3.4.1.2. Mục đích của
việc lập Hồ sơ định giá
- Lưu trữ những bằng chứng
thu thập được trong quá trình thực hiện định giá và làm cơ sở cho việc đưa ra ý
kiến của người định giá về mức giá bất động sản cần định giá .
- Trợ giúp cho các bước
thực hiện công việc định giá.
- Trợ giúp cho kiểm tra,
soát xét và đánh giá chất lượng công việc định giá.
- Trợ giúp cho việc xử lý
những tranh chấp, khiếu kiện có thể phát sinh trong hoặc sau quá trình định giá
giữa khách hàng (hoặc bên thứ ba) với doanh nghiệp, tổ chức định giá.
3.4.1.3. Nội dung của hồ
sơ định giá
Nội dung hồ sơ định giá
phụ thuộc vào mục đích định giá và loại hình tài sản cần định giá. Nội dung cơ
bản hồ sơ định giá bao gồm:
- Tên và số hiệu hồ sơ,
ngày tháng lập và ngày tháng lưu trữ.
- Những thông tin về khách
hàng và bất động sản yêu cầu định giá.
- Phiếu yêu cầu của khách
hàng
- Hợp đồng định giá ký kết
giữa doanh nghiệp định giá và khách hàng.
- Những phân tích, đánh
giá của người định giá thẩm định viên về những vấn đề định giá liên quan.
- Những ý kiến trưng cầu
tư vấn về các khía cạnh kỹ thuật, pháp lý liên quan đến tài sản cần định giá
(nếu có).
- Báo cáo kết quả định giá
tài sản và phụ lục kèm theo báo cáo.
-
Chứng thư định giá.
-
Biên bản thanh lý hợp đồng
định giá giữa doanh nghiệp, tổ chức định giá và khách hàng.
3.4.2. Báo cáo định giá
3.4.2.1 Khái niệm và yêu cầu của báo cáo định giá
Báo cáo định giá
là tài liệu trình bày kết quả quá trình định giá do định giá viên chuẩn bị. Báo cáo định giá thể
hiện quan điểm và hệ thống thông tin mà người định giá sử dụng để đưa ra kết
luận và ước lượng mức giá (bằng tiền hoặc vật ngang giá khác) của BĐS mà khách
hàng yêu cầu.
Báo cáo kết quả định giá phải thể hiện những thông tin đúng theo thực tế,
mang tính mô tả và dựa trên bằng chứng cụ thể để thuyết minh về mức giá của tài
sản qua định giá. Những thông tin này
phải được trình bày theo một trình tự lô-gíc, hợp lý, từ mô tả về tài sản đến
những yếu tố tác động tới giá trị thị trường của tài sản, phân tích những dữ
liệu thu thập trên thị trường để có được kết quả định giá. Báo cáo kết quả phải
thể hiện được những lập luận, cách thức, phương pháp được áp dụng trong quá
trình định giá và giải thích một cách rõ ràng tất cả những vấn đề có tác động
đến giá trị tài sản nhằm tránh hiểu lầm cho những người sử dụng và các tổ chức
có liên quan.
Để bảo đảm chất
lượng của báo cáo các tổ chức định giá chuyên nghiệp đã đưa ra những yêu cầu
tối thiểu cần đạt được của một báo cáo định giá như sau:
- Báo cáo định giá phải có kết cấu lôgíc,
các nội dung trình bày trong báo cáo phải rõ ràng và chính xác, tránh hiểu lầm.
- Phải chứa đựng đủ thông tin cho phép các
cá nhân, tổ chức có thể dựa vào báo cáo để hiểu được bất động sản một cách hợp
lý.
- Bất cứ giả thiết đặc biệt hoặc điều kiện
hạn chế nào có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc định giá phải được trình
bày một cách rõ ràng và chính xác, chỉ rõ ảnh hưởng của nó đến giá trị.
3.4.2.2. Phân loại và hình thức trình bày
báo cáo định giá
a) Phân
loại báo cáo định giá
Để trình bày kết quả của quá trình định
giá tuỳ theo yêu cầu hay đơn đặt hàng của khách hàng, có thể có 3 loại báo cáo
định giá như sau:
-
Báo cáo đầy đủ
-
Báo cáo tóm tắt
-
Báo
cáo có giới hạn
Sự khác biệt của những báo cáo trên
phụ thuộc vào mức độ yêu cầu chi tiết trong các lĩnh vực nhất định khi trình
bày.
Ở mức đầy đủ nhất là báo cáo đầy đủ,
nó bao gồm các miêu tả một cách chi tiết về số liệu, lý do và phân tích được sử dụng để đưa ra kết luận giá trị. Ở
mức vắn tắt nhất là báo cáo có giới hạn, nó
hầu như không có những thông tin như trong báo cáo đầy đủ. Ở mức trung
bình là báo cáo tóm tắt, nó chứa một số, nhưng không phải tất cả thông tin được
miêu tả.
Trong hoạt động định gía thường có 2
loại: định giá đầy đủ và định giá hạn chế. Sự khác biệt của 2 loại định giá này
phụ thuộc vào khối lượng công việc cần thực hiện trong quá trình thu thập và
phân tích số liệu. Nếu thực hiện định giá hạn chế thì phải thể hiện rõ ràng
điều này trong báo cáo.
b. Hình thức trình bày của báo cáo
định giá
Báo cáo định giá có thể được trình
bày bằng miệng hoặc viết. Báo cáo viết được chuẩn bị dưới các hình thức theo
mẫu có sẵn hoặc hình thức văn tường thuật. Thông thường báo cáo được trình bày
theo yêu cầu của người sử dụng.Tuy nhiên khi khách hàng yêu cầu một báo cáo
không cần đầy đủ, nghĩa là không cần báo cáo chi tiết thì người định giá vẫn
phải thực hiện các phân tích để hoàn tất công việc định giá. Trong trường hợp
đó tất cả các tư liệu, số liệu được sử dụng để chuẩn bị báo cáo được lưu giữ
trong hồ sơ của người định giá. Mặc dù người định giá có thể không bao giờ phải
cung cấp bằng văn bản về quan điểm dưới hình thức viết văn bản, nhưng có thể bị
hỏi để giải thích hoặc bảo vệ quan điểm
trong thời gian sau đó. Quy mô của hồ sơ phụ thuộc vào báo cáo được chuẩn bị.
- Báo cáo bằng miệng: Người định giá có thể báo cáo bằng
miệng khi hoàn cảnh hoặc việc sử dụng dự định
không cho phép hoặc chứng nhận bằng báo cáo viết. Các bằng chứng được các chuyên gia định giá
trình bày khi lấy cung hoặc ở toà án được xem là báo cáo bằng miệng. Nhiều báo
cáo bằng miệng đã không được thực hiện dưới lời tuyên thệ, chúng được thông tin
trực tiếp cho cá nhân người sử dụng hoặc
qua điện thoại. Mỗi báo cáo bằng miệng nên bao gồm miêu tả BĐS, các yếu tố, các
giả thiết và các kết luận và các lý do mà kết luận đã dựa vào. Sau khi thông
báo bằng miệng người định giá nên giữ lại tất cả các ghi chép, số liệu liên
quan đến nhiệm vụ và hoàn tất các ghi nhớ về phân tích, kết luận và quan điểm.
- Báo cáo theo mẫu: Báo cáo theo mẫu là hình thức trình bày báo cáo phổ biến nhất,
loại báo cáo này không phải là báo cáo đầy đủ mà chủ yếu là báo cáo tóm tắt
hoặc báo cáo có giới hạn. Điều này phụ thuộc vào mức độ chi tiết và chất lượng
của tài liệu minh chứng. Các báo cáo theo mẫu thường đáp ứng yêu cầu của các tổ
chức tài chính, công ty bảo hiểm và các cơ quan nhà nước. Báo cáo theo mẫu
thường sử dụng cho việc mua, bán các BĐS dân cư. BĐS thế chấp. Bằng cách hoàn
tất mẫu báo cáo, người định giá bảo đảm rằng không có khoản mục nào mà người yêu cầu định giá bị bỏ
sót.
- Các báo cáo tường thuật:
Bằng việc thoả thuận trước với người
sử dụng dự kiến, người định giá có thể gửi kết quả định giá bằng báo cáo đầy
đủ, báo cáo tóm tắt hoặc báo cáo có giới hạn. Mặc dùng một số chủ đề trong báo
cáo tóm tắt và báo cáo giới hạn có phạm vi hẹp không như trong báo cáo đầy đủ,
nhưng các báo cáo này cũng phải chứa đủ thông tin để dẫn dắt người đọc đến kết luận
của người định giá.Cũng như trong báo cáo bằng miệng, người định giá chuẩn bị
báo cáo tường thuật cần phải lưu giữ tất cả các ghi chép và số liệu để hoàn
thành bản tóm tắt phân tích, các kết luận và quan điểm giá trị.
3.4.2.3.
Nội dung của báo cáo định giá
Nội dung của 1 báo cáo định giá BĐS phù hợp với tiêu chuẩn thẩm định giá
Việt Nam được giới thiệu dưới đây:
1. Những thông tin cơ
bản về:
-
Tên và loại BĐS
-
Vị trí của bất động sản
(đất đai, nhà cửa và công trình kiến trúc khác).
-
Tên, địa chỉ, số điện thoại,
số Fax của khách hàng yêu cầu định giá.
-
Ngày tháng năm định giá .
-
Tên, địa chỉ, số điện
thoại, số fax của doanh nghiệp, tổ chức định giá hoặc chi nhánh.
-
Họ và tên định giá viên lập
báo cáo thẩm định giá.
-
Họ và tên, chữ ký của giám
đốc doanh nghiệp, người đứng đầu tổ chức định giá hoặc phụ trách chi nhánh.
2. Những căn cứ pháp lý để định giá.
Những văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn có liên quan do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền Trung ương hoặc địa phương ban hành.
3. Mô tả đặc điểm của BĐS về mặt kỹ thuật.
-
Vị trí của bất động sản.
+ Vị trí địa lý và hành chính của bất động sản.
+ Đối với đất ở: số lô đất, số địa chính, diện tích đất, phân loại đường
phố, nhóm đất.
+ Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp: số lô đất, số địa chính, diện tích
đất, phân loại nhóm đất, điều kiện thời tiết, đặc điểm địa hình, hệ thống giao
thông, hệ thống tưới và tiêu nước.
+
Đối với công trình kiến
trúc trên đất (nhà cửa, đường xá, cầu cống): loại nhà, cấp nhà, hạng nhà, diện
tích xây dựng và diện tích sử dụng (m2), chất lượng nhà (% còn lại,
tuổi đời), mục đích sử dụng, cấu trúc nhà, số phòng, diện tích sử dụng từng
phòng, hệ thống điện, hệ thống cấp và thoát nước; loại, hạng đường xá, cầu
cống…
+
Vị trí của bất động sản
trong mối tương quan với những trung tâm khu vực gần nhất, điều kiện tự nhiên
và môi trường xung quanh, hình dạng của thửa đất, khoảng cách từ đó đến những
địa điểm giao thông công cộng, cửa hàng, trường
học, công viên, bệnh viện, những trục đường chính.
-
Tác động của quy hoạch,
phân vùng đến giá trị của đất đai, nhà cửa và công trình kiến trúc trên đất.
-
Mục đích sử dụng hiện tại
của bất động sản có theo đúng mục đích được phép sử dụng theo qui hoạch phân
vùng và mang lại giá trị tối ưu cho bất động sản hay không.
4.
Mô tả đặc điểm tài sản về mặt pháp lý.
-
Bất động sản đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà: những nội dung Giấy chứng nhận (bao gồm số lô đất, tên địa phương
và tên nước, ngày cấp và số đăng ký của Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng
tài sản).
-
Bất động sản chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà: nguồn gốc tài sản (nhà,
đất), tổ chức, cá nhân giao tài sản, ngày làm giấy tờ chuyển dịch tài sản, các
giấy tờ kèm theo.
-
Có tranh chấp hay không với
các chủ bất động sản liền kề.
-
Những lợi ích kinh tế thu được từ bất động sản (trường hợp
bất động sản đang cho thuê: giá thuê, thời hạn thuê, hợp đồng thuê, thu nhập
hàng tháng từ người thuê bất động sản để mở cửa hàng, cửa hiệu, văn phòng đại
diện).
-
Những tài liệu khác thể
hiện tính pháp lý của bất động sản.
5. Những giả thiết và hạn chế trong định giá giá trị BĐS.
-
Tính hợp lý của việc đưa ra
những giả thiết và hạn chế liên quan đến đặc điểm thị trường, các nhân tố tác
động đến giá trị thị trường của tài sản.
-
Nếu không đưa ra những hạn
chế như vậy thì kết quả sẽ ra sao, ảnh hưởng đến kết quả thẩm định giá như thế
nào.
6. Kết quả khảo sát thực địa.
-
Mục đích, thời gian, người
tiến hành khảo sát thực địa.
-
Kết quả thu được từ khảo
sát thực địa.
-
Sự chênh lệch (nếu có) giữa
kết quả khảo sát thực địa với hồ sơ địa chính. Nêu rõ lý do sự chênh lệch đó.
7. Những lập luận về mức giá cuối cùng, bao gồm:
-
Phân tích về vị trí, những
nhân tố tác động, xu hướng vận động của thị trường tài sản trong khu vực, hành
vi c��a những người mua, bán trên thị trường này, những ưu thế hoặc bất lợi của
tài sản cần định giá trên thị trường.
-
Mục đích sử dụng tài sản
tốt nhất và tối ưu, mang lại giá trị cao nhất. Trường hợp mục đích sử dụng tốt
nhất và tối ưu khác với mục đích sử dụng hiện tại của tài sản thì trình bày về
tiềm năng của nó, những điều kiện pháp lý, tự nhiên cho phép hoặc không cho
phép ảnh hưởng đến giá trị sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản.
8. Phương pháp thẩm định giá:
+
Phương pháp so sánh trực
tiếp: kết
quả :
+
Phương pháp chi phí:
kết quả :
+
Phương pháp chiết khấu dòng
thu nhập: kết quả :
+
Phương pháp khác:
kết quả:
+
Hòa hợp các chỉ số giá trị
từ các phương pháp khác nhau: Những so sánh, phân tích và điều chỉnh, điều kiện
giả thiết, bảng tính tóan các mức giá thu được từ các phương pháp nêu trên để
đi đến mức giá cuối cùng thể hiện giá trị thị trường của tài sản. Trường hợp
chỉ áp dụng được 01 hoặc 02 trong các phương pháp thẩm định giá nêu trên thì
nêu rõ lý do vì sao có sự hạn chế đó.
9. Xử lý những hạn chế, không rõ ràng trong quá trình định giá
- Không rõ ràng về tình trạng pháp lý của tài sản.
- Hạn chế về thông tin, dữ liệu liên quan cần thu thập đối với BĐS.
- Phân loại, hạng BĐS.
- Lượng hoá những nhân tố tác động đến giá BĐS.
Những hạn chế, không rõ ràng trên đã được xử lý
như thế nào, cách thức xử lý trong quá trình định giá, mức độ tác động của
những hạn chế nêu trên đến mức giá của BĐS cần định giá.
10. Những quyền và lợi ích cá
nhân (nếu có) của định giá viên liên
quan đến BĐS cần định giá, có thể làm nảy sinh những xung đột lợi ích trong quá
trình thực thi nhiệm vụ.
11. tên, chữ ký của định giá viên
tiến hành định giá BĐS.
12. Phụ lục đính kèm báo cáo kết
quả định giá.
Phụ lục là những thông tin bổ sung, thuyết minh cho báo cáo kết quả định
giá. Phụ lục bao gồm:
a- Đối với bất động sản:
- Hộ khẩu thường trú của chủ bất động sản (bản sao) -
đối với tài sản cá nhân.
-
Giấy phép đăng ký kinh
doanh (bản sao) - đối với tài sản doanh nghiệp.
-
Bản đồ quy hoạch tổng thể
khu vực (trích lục).
-
Bản đồ quy hoạch chi tiết
khu vực (trích lục).
-
Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu tài sản
-
Một trong các loại giấy
chứng nhận nguồn gốc bất động sản (trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản) bao gồm:
+ Quyết định giao, cấp đất ở của Uỷ
ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố hoặc UBND quận, huyện.
+ Quyết định phân nhà, phân đất của
thủ trưởng cơ quan đơn vị.
+ Hợp đồng mua nhà của các đơn vị có
tư cách pháp nhân được UBND tỉnh, thành phố giao đất làm nhà bán.
+ Các giấy tờ về đất ở do cơ quan có
thẩm quyền của chế độ cũ cấp.
Trường hợp chủ nhà có các giấy tờ kể trên nhưng không
đúng tên chủ đang sử dụng thì phải có các gíây tờ kèm theo như: giấy tờ mua bán
nhà, giấy tờ thừa kế, chia, tặng... nhà ở, đất ở.
-
Giấy phép xây dựng nhà, bản
vẽ thiết kế xây dựng, sơ đồ vị trí bất động sản và các bản vẽ khác (bản sao).
-
Chi tiết về qui hoạch từ cơ
quan có chức năng ở địa phương hoặc của văn phòng qui hoạch đô thị (bản sao).
-
Các hợp đồng mua, bán và
cho thuê bất động sản (bản sao).
-
Anh chụp toàn cảnh bất động
sản.
-
Những tài liệu khác trực
tiếp bổ trợ cho báo cáo kết quả thẩm định giá.
b- Đối với máy móc thiết bị được gắn trong BĐS:
-
Các hợp đồng mua, bán vật
tư, máy móc, thiết bị, hàng hoá.
-
Catalô, các thông số kinh
tế kỹ thuật chủ yếu của vật tư, máy móc, thiết bị, hàng hoá.
3.4.3. Chứng thư định giá
Chứng thư định giá: là văn bản do doanh nghiệp, tổ
chức thẩm định giá lập nhằm công bố cho khách hàng hoặc bên thứ ba về những nội
dung cơ bản liên quan đến kết quả định giá.
Chứng thư định giá được lập thành 03
bản, có giá trị pháp lý như nhau. 02 bản giao khách hàng, 01 bản lưu tại hồ sơ
định giá của doanh nghiệp, tổ chức định giá.
Hình thức và nội
dung Chứng thư thẩm định giá trị quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc trên
đất theo quy định tại Phụ lục số 02 của Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số
04.
Dưới đây trình bày mẫu chứng thư định giá
theo tiêu chuẩn thẩm định giá VN, do Bộ Tài chính ban hành.
Mẫu: Chứng
thư thẩm định giá
(áp dụng đối với đất đai, công trình
kiến trúc trên đất)
SỐ /TĐG – CT
(kí hiệu DN, tổ chức định giá)
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
§éc lËp-Tù do-H¹nh
phóc
|
....,
ngày ... tháng... năm…
CHỨNG THƯ THẨM ĐỊNH GIÁ
Kính gửi: ........
Theo đề nghị của ông/bà/ doanh nghiệp … tại văn bản số.... ngày.... về
việc thẩm định giá .....
1. Mục đích thẩm định giá:
Xác định giá tài sản phục vụ mục đích....
2. Thời điểm thẩm
định giá:
Tại thời điểm thẩm định giá (ngày
… tháng .... năm....)
3. Cơ sở thẩm định giá (nêu rõ
những căn cứ chủ yếu để thẩm định giá)
- Căn cứ hồ sơ, giấy tờ pháp lý do ông/bà/ doanh
nghiệp... cung cấp (kèm theo công văn đề nghị số....).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ngày... tháng... năm ... của Uỷ ban Nhân dân
tỉnh ..... cấp cho.......
-
Giấy phép xây dựng số ...
ngày .... (nếu có)
-
Bản vẽ hoàn công.... (nếu có)
-
Hồ sơ quyết toán công
trình......(nếu có)
- Những căn cứ pháp lý khác
4. Thực trạng đất, nhà, ...
4.1 Đất:
Vị
trí: mô tả cụ thể vị trí địa giới hành chính, vị trí địa lý, hướng...
- Diện tích: tổng diện tích, diện tích từng phần, kích thước các chiều.
- Tình trạng pháp lý.
4.2 Nhà:
- Mô tả chung: loại nhà, cấp nhà, diện tích xây dựng, diện tích sử dụng, số
tầng, số phòng.
- Kết cấu: kết cấu tổng thể toàn bộ nhà và từng bộ phận (móng, tường,
mái...)
- Thực trạng: mô tả chi tiết từng bộ phận cấu thành ngôi nhà (nền, tường,
mái, cửa, công trình phụ, ban công...): loại vật liệu, thiết bị được sử dụng,
tình trạng thực tế từng bộ phận.
4.3 Tài sản:
-
Các thống số kỹ thuật, thực
trạng của tài sản.
-
Tính pháp lý của tài sản.
5. Phương pháp thẩm định giá:
Sử dụng phương pháp......
6. Kết quả thẩm định giá:
Trên cơ sở các tài liệu do ông/bà/ công ty.... cung cấp, qua khảo sát thực
tế tại hiện trường; với phương pháp thẩm định giá..... được áp dụng trong tính
toán, doanh nghiệp thẩm định giá (ghi rõ tên doanh nghiệp) thông báo kết quả
thẩm định giá tài sản..... tại thời điểm ..... như sau:
Giá đất:
Giá nhà:
Tổng giá trị đất
và nhà:
Làm tròn
(viết bằng chữ: ...... đồng)
Doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá trả lời để ông/ bà/ quý đơn vị có cơ
sở..... theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thẩm định viên về giá Giám đốc
(Ký tên) (Ký
tên, đóng dấu)