Chuyển đổi công ty nhà nước sang công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các công ty nhà nước phải chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp trước ngày 1-7-2010. Đến nay, thời điểm này đã qua, nhưng không ít vấn đề vẫn đang tồn tại và tiếp tục phát sinh. Vì vậy, cần có nhận thức đúng ý nghĩa và giải quyết một số vấn đề cần thiết, cấp bách nhằm thực hiện nghiêm những quy định của pháp luật.
1 – Ý nghĩa và sự cần thiết chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH) tuy không mang tính đột phá
như cổ phần hóa, nhưng là cần thiết và có ý nghĩa nhất định.
Một là, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các
công ty nhà nước thực hiện theo lộ trình chuyển đổi, nhưng trước ngày
1-7-2006 phải chuyển thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần.
Trên thực tế từ năm 2001 các DNNN (gọi là
công ty nhà nước từ năm 2003 theo Luật DNNN) bắt đầu chuyển thành công
ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 63/2001/NĐ-CP.
Hai là, với việc chuyển đổi doanh
nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn thành công ty TNHH một thành viên, bên
cạnh mục tiêu để thực hiện thống nhất một Luật Doanh nghiệp, còn nhằm
mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, tạo sự bình đẳng với
các loại hình doanh nghiệp khác. Đây là quá trình “công ty hóa” các
công ty nhà nước, tạo vị thế “công ty” cho công ty nhà nước – có địa vị
pháp lý của một pháp nhân kinh tế, có tài sản độc lập với cá nhân và tổ
chức khác, kể cả với Nhà nước, có quyền nhân danh công ty tham gia quan
hệ pháp luật một cách độc lập.
Ba là, việc chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp
nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tạo mặt bằng pháp lý với
các thành phần kinh tế khác, thực hiện cam kết WTO là Nhà nước thực hiện
các quyền chủ sở hữu tương tự như các chủ doanh nghiệp hay cổ đông khác
không phải Nhà nước.
Tính đến tháng 10-2009, có 321 công ty nhà nước
độc lập và đơn vị thành viên của tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước
chuyển thành công ty TNHH một thành viên(1). Nhìn vào cơ cấu doanh
nghiệp chuyển đổi theo cơ quan chủ quản thì thấy rằng phần lớn là DNNN
địa phương (chiếm 65,4%), doanh nghiệp do Trung ương quản lý chỉ chiếm
34,6%, trong đó doanh nghiệp thuộc bộ, ngành là 18,9%, doanh nghiệp
thuộc tập đoàn, tổng công ty chiếm tỷ lệ thấp nhất là 15,7%. Xét theo
quy mô và loại hình doanh nghiệp, hầu hết các công ty nhà nước độc lập
thuộc bộ, ngành, địa phương với quy mô nhỏ hoặc trung bình (chiếm
77,78%). Công ty thành viên hạch toán độc lập và doanh nghiệp hạch toán
phụ thuộc của tổng công ty chiếm tỷ lệ tương ứng là 15,74% và 6,48%.
Trong khi các công ty nhà nước quy mô lớn hơn, có cơ cấu tổ chức phức
tạp hơn gồm các tổng công ty, công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, công
ty mẹ trong mô hình công ty mẹ -công ty con chiếm tỷ lệ là 0% (tính đến
tháng 10-2009).
Số doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty
TNHH một thành viên theo Nghị định số 63/2001/NĐ-CP theo Luật Doanh
nghiệp 1999 chưa điều chỉnh cơ cấu tổ chức và sửa đổi điều lệ theo quy
định của Luật Doanh nghiệp 2005 chiếm tỷ lệ khá cao (45,5%). Điều này
cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa muốn hoặc ngại thay đổi, hoặc cơ quan
nhà nước chưa tạo sức ép hoặc có chế tài buộc các doanh nghiệp tổ chức
theo Luật Doanh nghiệp 2005. Vì thế, doanh nghiệp về cơ bản vẫn trong
tình trạng “bình mới rượu cũ”.
Về tổ chức quản lý, phần lớn doanh nghiệp áp dụng mô
hình Chủ tịch Công ty (chiếm 68,84%); trong đó, Chủ tịch Công ty kiêm
Tổng Giám đốc (Giám đốc) chiếm tới 54,29%. Tỷ trọng doanh nghiệp địa
phương áp dụng mô hình Chủ tịch công ty kiêm Tổng Giám đốc (Giám đốc)
cao hơn rất nhiều (72,5%) so với doanh nghiệp thuộc các bộ, ngành (10%)
và doanh nghiệp thuộc tổng công ty, tập đoàn kinh tế (17,5%).
Để tạo khung pháp lý và cơ chế thúc đẩy chuyển đổi
các công ty nhà nước còn lại, chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô lớn và
các nông – lâm trường quốc doanh trước ngày 1-7-2010, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19-3-2010 về chuyển đổi công ty nhà
nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Một số điểm mới đáng lưu ý của Nghị định số 25/2010/NĐ-CP gồm:
- Đơn giản hóa trình tự, thủ tục chuyển đổi. Chỉ
những doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn thì thực hiện đầy đủ trình
tự, thủ tục. Những doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa nhưng tạm chuyển
thành công ty TNHH một thành viên sau đó tiếp tục chuyển thành công ty
cổ phần thì không phải lập phương án và thực hiện xử lý tài sản, tài
chính, sắp xếp lại lao động, sử dụng đất. Doanh nghiệp là công ty nông
nghiệp, công ty lâm nghiệp, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc
doanh thì đất rừng và các tài sản trên đất rừng được chuyển giao nguyên
trạng sang công ty TNHH một thành viên.
- Bổ sung một số quy định về tổ chức quản lý phù hợp
với đặc thù sở hữu nhà nước. Trong đó, lưu ý bảo đảm sự quản lý, giám
sát của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ thuộc tập đoàn kinh tế
nhà nước, công ty mẹ thuộc nhóm công ty mẹ – công ty con nắm giữ các
ngành kinh tế quan trọng.
- Chủ tịch hội đồng thành viên (HĐTV) công ty mẹ của
tập đoàn kinh tế, tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập không
kiêm Tổng Giám đốc. Đối với công ty mẹ thuộc tổng công ty do bộ, ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập thì chủ sở hữu quyết định việc
kiêm hay không kiêm giữa Chủ tịch HĐTV và Tổng Giám đốc. Cán bộ lãnh đạo
trong bộ máy nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã
hội không kiêm nhiệm làm thành viên HĐTV. Thành viên HĐTV không làm các
chức vụ quản lý, điều hành tại doanh nghiệp thành viên.
- Tăng cường vai trò của kiểm soát viên. Kiểm soát
viên không đồng thời giữ chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc là
người có liên quan đến người quản lý, điều hành doanh nghiệp; có quyền
sử dụng con dấu của công ty để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật và điều
lệ công ty quy định đối với kiểm soát viên.
- Ràng buộc trách nhiệm của các chức danh lãnh đạo quản lý doanh nghiệp bằng cơ chế tiền lương và tiền thưởng.
- Khi công ty mẹ tập đoàn kinh tế chuyển sang công ty
TNHH một thành viên, thì vẫn kế thừa các quy định tương thích của Nghị
định số 101/2009/NĐ-CP để tổ chức, hoạt động và quản lý đối với các tập
đoàn kinh tế.
2 – Một số vấn đề cần quan tâm xử lý trong chuyển đổi công ty nhà nước theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP
Thứ nhất, bảo đảm sự đồng bộ của các văn bản
quy phạm pháp luật khác với Nghị định số 25/2010/NĐ-CP và vị thế của
công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi. Sau ngày 1-7-2010, hàng loạt
các văn bản liên quan không còn hiệu lực thi hành với công ty nhà nước
nhưng chưa được ban hành mới để áp dụng đối với công ty TNHH một thành
viên sau chuyển đổi. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải gấp rút
rà soát lại hệ thống văn bản, sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới cho phù
hợp với những đổi mới của Nghị định 25/2010/NĐ-CP. Lấy ví dụ như Quy chế
tài chính đối với công ty TNHH một thành viên ban hành theo thông tư số
24/2007/TT-BTC (27-3-2007), Nghị định số 86/2007/NĐ-CP, ngày 28-5-2007,
quy định quản lý lao động và tiền lương trong công ty TNHH một thành
viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, các Nghị định số
205/2004/NĐ-CP, 206/2004/NĐ-CP, 207/2004/NĐ-CP… Việc rà soát, bảo đảm sự
đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật là rất cấp bách để tránh sự
vênh váo và khó xử của công ty TNHH một thành viên, hoặc tránh để cho
doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước phải rơi vào tình trạng rủi ro
hoặc nguy hiểm của “khoảng trống pháp lý”.
Bên cạnh đó, Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg về ban hành
tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đang được
sửa đổi, nhưng cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng danh mục doanh nghiệp 100%
vốn, cần hướng đến dài hạn, danh mục cần ổn định tương đối lâu dài để
tránh cho doanh nghiệp hay phải chuyển đổi.
Thứ hai, giải quyết vướng mắc về chọn mô hình
HĐTV hay Chủ tịch Công ty, kiêm nhiệm hay tách bạch giữa Chủ tịch Công
ty và Tổng Giám đốc. Trong vấn đề này rất cần thay đổi thói quen trong
quản lý, điều hành, hoặc viện lý do tránh chồng chéo dễ gây mâu thuẫn,
mất đoàn kết, để thiên về áp dụng mô hình Chủ tịch Công ty kiêm Tổng
Giám đốc như trước đây, làm cho quyền lực tập trung vào một người nhưng không chú trọng giám sát, dẫn đến vi phạm
nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường và
khi rủi ro mới xử lý trong khi lại thiếu cơ chế giám sát, phòng ngừa.
Ngoài ra, điều lệ của công ty TNHH một thành viên cũng cần quy định cụ
thể, chi tiết và tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch Công ty với Tổng Giám đốc.
Thứ ba, về tên gọi của các tổng công ty, tập
đoàn kinh tế sau chuyển đổi. Vấn đề này chỉ phát sinh đối với tên gọi
của tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Có những ý kiến khác nhau: hoặc
thực hiện theo Luật Doanh nghiệp (đều gọi tên tổng công ty và tên của
doanh nghiệp thành viên là công ty TNHH một thành viên và kèm theo thành
tố tên riêng của doanh nghiệp); hoặc gọi tên của tổng công ty là Tổng
công ty TNHH một thành viên và vì thế cần sửa lại quy định về việc đặt
tên của Luật Doanh nghiệp.
Thứ tư, về vấn đề tái cấu trúc và tăng tính
chủ động, chuyên nghiệp và trách nhiệm của chủ sở hữu. Địa vị pháp lý
của công ty TNHH một thành viên yêu cầu tăng tính chủ động, chuyên
nghiệp và trách nhiệm của chủ sở hữu, khắc phục tình trạng nhiều đầu mối
chủ sở hữu. Vì vậy, các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước hiện nay
phải thực sự cơ cấu lại thành một tổ chức, một đầu mối làm chủ sở hữu và
cần tách chức năng chủ sở hữu ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, tách
hoặc tổ chức thành cơ quan chuyên trách đại diện chủ sở hữu độc lập với
cơ quan quản lý hành chính nhà nước, có bộ máy và cán bộ chuyên trách và
chuyên nghiệp.
Thứ năm, vấn đề giám sát, kiểm soát đối với
công ty TNHH một thành viên. Việc tăng tính chủ động, tăng quyền của
công ty TNHH một thành viên, nhất là đối với các tập đoàn kinh tế và
tổng công ty lớn sau chuyển đổi không thể thiếu cơ chế giám sát, kiểm
soát hữu hiệu của chủ sở hữu. Nền tảng của cơ chế giám sát, kiểm soát là
xây dựng, duy trì:
(1) hệ thống thông tin đầy đủ, tin cậy, cập nhật về công ty TNHH một thành viên (và các doanh nghiệp có vốn nhà nước khác);
(2) có hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí và phương pháp
giám sát, kiểm soát, đánh giá của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một
thành viên (và các doanh nghiệp có vốn nhà nước khác);
(3) có đội ngũ cán bộ chuyên trách và chuyên nghiệp đại diện cho chủ sở hữu;
(4) có hệ thống quy định rõ ràng, minh bạch về quyền
hạn, nhiệm vụ, nghĩa vụ, trách nhiệm, mối quan hệ trong công việc của
các đối tượng có liên quan (là tổ chức hoặc cá nhân).
Thứ sáu, về kiểm soát viên. Kiểm soát viên là
một chức danh mới, có vai trò quan trọng và gắn với chủ sở hữu, giúp chủ
sở hữu kiểm soát được tình hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu,
trong quản lý, điều hành công ty. Việc lựa chọn, bổ nhiệm, thực thi
nhiệm vụ, tăng cường năng lực của các kiểm soát viên, tách riêng nguồn
trả lương, thưởng; cơ chế động lực, trách nhiệm là các vấn đề hiện nay
và lâu dài của công ty TNHH một thành viên. Điều này có ảnh hưởng đến
tính đổi mới, khác biệt, sức sống của mô hình công ty TNHH một thành
viên so với công ty nhà nước. Tuy nhiên lựa chọn, bổ nhiệm kiểm soát
viên là vấn đề mới, chưa có tiền lệ trong công ty nhà nước. Do đó, cần
xem xét các căn cứ và dựa vào các yêu cầu sau đây để bổ nhiệm kiểm soát
viên:
(1) Tiêu chuẩn và điều kiện quy định đối với kiểm soát viên tại Điều 71 Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty.
(2) Bảo đảm kiểm soát viên không đồng thời giữ chức
vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc là người có liên quan đến người
quản lý, điều hành doanh nghiệp.
(3) Kiểm soát viên phải là người của chủ sở hữu, phục
vụ lợi ích của chủ sở hữu, do đó, về nguyên tắc kiểm soát viên phải do
chủ sở hữu trả lương, thưởng theo kết quả và hiệu quả giám sát, kiểm
soát.
(4) Về chế độ tiền lương cho kiểm soát viên, cần
tránh tư duy hành chính hóa, cấp bậc hóa, căn cứ vào cấp bổ nhiệm để xếp
lương và thang, bảng lương, mà coi kiểm soát viên là người thực thi
nhiệm vụ của chủ sở hữu giao, dựa vào hiệu quả giám sát, kiểm soát để
quyết định mức lương.
Để kiểm soát viên có thể hoạt động, phát huy vai trò
giám sát, kiểm soát doanh nghiệp, cần khẩn trương ban hành quy chế hoạt
động của kiểm soát viên, kể cả đối với trường hợp có 1 kiểm soát viên
hay 2 hoặc 3 kiểm soát viên./.
________________________________________________
(1) Số liệu được trích nguồn từ Báo cáo sơ kết của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH
một thành viên trên cơ sở tổng hợp từ 13 bộ, ngành; 45 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; 14 tổng công ty và tập đoàn kinh tế.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 16 (208) NĂM 2010 - TS. TRẦN TIẾN CƯỜNG – Trưởng Ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Email: contact@sunlaw.com.vn & guicauhoitructuyen@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------