Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty theo luật doanh nghiệp năm 2005 có phải là "bình mới rượu cũ"?
Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 (LDN 2005). Những người soạn thảo thường gọi đạo luật này là “Luật Doanh nghiệp thống nhất”, vì nó được xây dựng trên cơ sở (nói đúng hơn là với mục tiêu) hợp nhất hai luật: Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật DNNN).
LDN 2005 ra đời tạo
ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất cả các
loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nói cụ thể hơn, LDN
2005 đã xoá bỏ các mô hình tổ chức pháp lý của các DNNN theo quy định
của Luật DNNN, để chuyển sang các mô hình công ty theo quy định của LDN
2005.
1. Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định của LDN 2005, trong thời hạn bốn năm,
kể từ ngày 01/7/2006, tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang mô hình công
ty. Như vậy, ngày 30/6/2010 là hạn cuối cùng để các DNNN – gồm các tổng
công ty và Công ty nhà nước (CTNN) độc lập – phải chuyển đổi thành Công
ty cổ phần (CTCP) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH).
Vào thời điểm năm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN.
Trong 10 năm vừa qua, chúng ta đã cổ phần hóa được gần 4.000 doanh
nghiệp. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp, tính đến
trước thời điểm 1/7/2010, Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh
nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900 doanh nghiệp thành công ty
TNHH một thành viên. Số còn lại khoảng gần 300 doanh nghiệp, hoặc sẽ
được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được
chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số
không đủ điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành
CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được
theo các hình thức trên thì tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp
bổ sung vốn1.
Trong số gần 300 doanh nghiệp nói trên, có khoảng 40
doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa từ trước ngày 01/7/2010 mà đã xác
định xong giá trị doanh nghiệp, nhóm này sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần
hóa; khoảng 30 doanh nghiệp đến ngày 01/7/2010 tuy chưa xác định xong
giá trị doanh nghiệp nhưng dự kiến trong tháng 7 sẽ xác định xong thì
trong năm 2010 sẽ hoàn thành thực hiện cổ phần hóa, cũng sẽ không phải
chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên; khoảng 40 doanh nghiệp
không đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP để chuyển
đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhóm này sẽ phải tiến hành cơ cấu
lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên,
nếu không sắp xếp được thì tiến hành bán doanh nghiệp hoặc cho phá sản.
Còn khoảng 182 doanh nghiệp phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành
viên và về cơ bản đã được chuyển đổi hết trong tháng 7/20102.
Như vậy, có thể nói là sau tháng 7/2010, chúng ta
đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi các mô hình tổ chức pháp lý DNNN
theo Luật DNNN thành các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005.
2. Sau khi chuyển đổi,
doanh nghiệp nhà nước được quan niệm như thế nào và các hình thức tổ
chức pháp lý mới của doanh nghiệp nhà nước là gì?
Theo quy định của Luật DNNN năm 2003, DNNN được định
nghĩa “là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có
cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức CTNN, CTCP, công
ty TNHH”3. Như vậy, trước khi việc chuyển đổi DNNN hoàn thành
thì DNNN tồn tại dưới các mô hình theo cả hai luật (Luật DNNN 2003 và
LDN 2005), gồm: CTNN (CTNN độc lập và Tổng CTNN); CTCP nhà nước; công ty
TNHH nhà nước một thành viên; công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở
lên; doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước – là doanh
nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ,
Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước, nhưng
phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chỉ chiếm từ 50% trở xuống,
thì không được gọi là DNNN.
Sau khi tất cả các DNNN được thành lập và hoạt động
theo quy định của Luật DNNN đã được chuyển đổi thành CTCP hoặc công ty
TNHH, thì Luật DNNN cũng chấm dứt sự tồn tại và giá trị pháp lý của nó4,
mô hình CTNN (gồm Tổng CTNN và CTNN độc lập) không còn tồn tại nữa.
Cũng có người lầm tưởng rằng, sau khi các CTNN đã được chuyển đổi xong,
Luật DNNN đã hoàn toàn chấm dứt sự tồn tại thì không còn khái niệm, tên
gọi DNNN nữa. Đó là một nhận thức không đúng. DNNN sẽ vẫn tồn tại, tên
gọi DNNN sẽ vẫn còn như nó đã từng có, chỉ có các mô hình tổ chức pháp
lý doanh nghiệp dưới hình thức CTNN là không còn nữa. Tuy nhiên, các
DNNN cũng không còn hoạt động theo một luật riêng, một sân chơi riêng mà
phải hòa cùng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
trong một sân chơi chung, một môi trường pháp lý bình đẳng, với mô hình
tổ chức, quản trị công ty giống nhau. Điều khác biệt giữa chúng chỉ là
vấn đề cơ cấu sở hữu công ty (ngoại trừ mối quan hệ chủ quản hành chính –
đây chímh là điểm mấu chốt cần bàn để trả lời câu hỏi về “bình mới,
rượu có mới?”).
Hiện nay, DNNN được định nghĩa “là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”5 và hiện được tồn tại dưới các hình thức pháp lý sau:
- Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công ty TNHH do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước làm
chủ sở hữu, là công ty TNHH trong đó tất cả các thành viên đều là công
ty của Nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;
- CTCP nhà nước, là CTCP mà toàn bộ cổ đông đều là cổ đông nhà nước, do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;
- CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ.
3. Làm thế nào để tránh tình trạng “bình mới, rượu cũ” đối với các doanh nghiệp nhà nước sau khi đã chuyển đổi
Làm thế nào để việc chuyển đổi các CTNN thành các mô
hình công ty theo quy định của LDN 2005 không chỉ dừng lại ở việc “thay
tên, đổi họ”, tránh được tình trạng “bình mới, rượu cũ”? Có ý kiến cho
rằng, quá trình chuyển đổi DNNN đã không làm theo kiểu “bình mới, rượu
cũ”, không phải bây giờ mới làm, mà đã được chuẩn bị và diễn ra từ nhiều
năm nay. Mặt khác, việc thay đổi, khắc phục các yếu kém trong cách quản
trị doanh nghiệp không thể là việc một sớm một chiều mà cần làm từng
bước. DNNN phải kinh doanh có hiệu quả thực sự và chịu trách nhiệm trước
Nhà nước, phải có lợi nhuận đóng góp cho ngân sách nhà nước. Đồng thời,
các ý kiến này cũng chỉ ra rằng, điểm khác biệt giữa các CTNN theo mô
hình của Luật DNNN trước đây và Công ty TNHH một thành viên là ở mô hình
quản lý, giám sát. Theo đó, tại các Tập đoàn, Tổng CTNN thì Hội đồng
quản trị (HĐQT) lập Ban kiểm soát, Thủ tướng chỉ bổ nhiệm Trưởng ban,
còn các đơn vị thuộc Bộ, địa phương thì Bộ và địa phương quyết định, đó
là kiểm soát nội bộ. Còn Công ty TNHH một thành viên không có Ban kiểm
soát mà có các kiểm soát viên do chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm.
Vậy, thực chất của việc chuyển đổi CTNN thành các mô
hình công ty của LDN 2005 là gì? Điều này tùy thuộc vào mô hình công ty
được chuyển đổi là CTCP hay công ty TNHH một thành viên hay hai thành
viên trở lên. Tuy nhiên, về tổng thể, những nội dung pháp lý cơ bản của
việc chuyển đổi này thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất, đó là việc thay đổi mô hình tổ
chức pháp lý doanh nghiệp gắn với việc thay tên đổi họ theo đúng nghĩa
đen của cụm từ này, từ các CTNN với tên gọi là tổng công ty hay công ty
độc lập nào đó thành các CTCP hoặc công ty TNHH (tuy nhiên, trên thực
tế, về hình thức, hầu hết các Tổng công ty, tập đoàn sau khi chuyển đổi
vẫn giữ tên Tổng công ty, Tập đoàn như trước đây, chỉ xác định rõ thêm
mô hình tổ chức doanh nghiệp là CTCP hoặc công ty TNHH).
- Thứ hai, thay đổi cơ cấu sở hữu (chủ sở
hữu) công ty, từ một chủ sở hữu duy nhất – Nhà nước sang nhiều chủ sở
hữu, trong đó có các ông chủ tư nhân đối với CTCP và công ty TNHH hai
thành viên trở lên (trừ CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên mà
các cổ đông hoặc thành viên đều là Nhà nước và công ty TNHH một thành
viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).
- Thứ ba, thay đổi về mô hình tổ chức, quản
trị công ty. Cụ thể như: về tổ chức quản lý, CTNN có hoặc không có HĐQT
do người quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định bổ nhiệm; còn CTCP
thì có Đại hội đồng cổ đông, có HĐQT do Đại hội đồng cổ đông bầu ra;
công ty TNHH thì có Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; về kiểm
soát, đối với những CTNN có HĐQT thì có Ban kiểm soát do HĐQT thành lập;
còn CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức chiếm
trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì bắt buộc phải có Ban kiểm soát
do Đại hội đồng cổ đông bầu; công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên
thì phải thành lập Ban kiểm soát, các trường hợp khác thì có Kiểm soát
viên.
- Thứ tư, về Điều lệ công ty: Các DNNN đã
chuyển đổi thành CTCP hoặc công ty TNHH đương nhiên phải xây dựng lại
Điều lệ công ty theo mô hình công ty mới theo quy định của LDN 2005.
- Thứ 5, về mối quan hệ và quyền của chủ sở hữu đối với công ty:
Đối với CTNN: Nhà nước là chủ sở hữu đối với CTNN.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu
CTNN gồm: Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ (đối với CTNN đặc biệt do Thủ
tướng quyết định thành lập); Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh (đối với
CTNN không có HĐQT); HĐQT của công ty (đối với công ty có HĐQT); Bộ Tài
chính (trong xây dựng chính sách, cơ chế tài chính, cấp vốn đầu tư, giám
sát, đánh giá hiệu quả); Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
(SCIC) (đối với công ty do mình đầu tư toàn bộ vốn điều lệ và phần vốn
do mình đầu tư ở doanh nghiệp khác). Ngoài ra còn có trường hợp CTNN là
đại diện chủ sở hữu đối với phần vốn của công ty đầu tư ở doanh nghiệp
khác. Về quyền của chủ sở hữu, đối với các CTNN thì đại diện chủ sở hữu
nhà nước có các quyền sau: (i) quyết định thành lập, tổ chức lại, giải
thể, chuyển đổi công ty và các vấn đề về tổ chức, nhân sự của công ty;
(ii) quyết định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển công ty, quyết
định các dự án đầu tư có giá trị lớn; (iii) Quyết định mức vốn đầu tư,
mức vốn điều lệ và điều chỉnh mức vốn điều lệ của công ty, quyết định
các dự án vay, cho vay có giá trị lớn; (iv) kiểm tra, giám sát, đánh giá
kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Đối với DNNN đã chuyển đổi: Chủ sở hữu gồm
Nhà nước và bất kỳ tổ chức, cá nhân nào là thành viên góp vốn hoặc cổ
đông của công ty, và quyền của chủ sở hữu nhà nước cũng giống như các
chủ sở hữu tư nhân khác tùy theo mô hình công ty là CTCP hay công ty
TNHH. Ví dụ như quyền của Đại hội đồng cổ đông, quyền của cổ đông sáng
lập, quyền của cổ đông phổ thông trong CTCP; hoặc quyền của thành viên,
Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai
thành viên trở lên; hoặc Chủ sở hữu công ty hay Hội đồng thành viên,
Chủ tịch công ty trong công ty TNHH một thành viên.
Điểm khác biệt cơ bản và vô cùng quan trọng trong
quan hệ sở hữu giữa “ông chủ – Nhà nước” của CTNN với “ông chủ – Nhà
nước” của các DNNN đã chuyển đổi, xét về bản chất pháp lý chính là ở
chỗ: đối với các CTNN thì ông chủ sở hữu cũng chính là các cơ quan chủ
quản hành chính (Bộ, UBND cấp tỉnh) còn chủ sở hữu nhà nước của các DNNN
đã chuyển đổi thì về nguyên tắc (theo LDN 2005) là một trong những
người sở hữu doanh nghiệp (thành viên góp vốn hoặc cổ đông) và bình đẳng
với các chủ sở hữu khác của DNNN, trừ công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu.
Và vì vậy, chúng tôi cho rằng, nếu việc chuyển đổi
các CTNN này không cùng đồng thời với việc cắt bỏ mối quan hệ chủ quản
hành chính của các cơ quan nhà nước để thay bằng một cơ chế đại diện chủ
sở hữu khác đối với các DNNN đã chuyển đổi sang CTCP hoặc công ty TNHH,
đặc biệt là các công ty TNHH nhà nước một thành viên, thì e rằng, tình
trạng “bình mới, rượu cũ” là khó tránh khỏi.
Việc chuyển đổi mô hình tổ chức pháp lý mới chỉ là
một nửa của vấn đề. Chúng tôi quan niệm đổi mới, sắp xếp DNNN phải luôn
đi bằng hai chân: một là, chuyển đổi mô hình tổ chức pháp lý doanh
nghiệp (trong đó bao gồm cả đổi mới quản trị nội bộ doanh nghiệp theo
quy định của LDN 2005); hai là, phải chuyển đổi cơ chế quản lý, giám sát
của Nhà nước (chủ sở hữu) đối với DNNN. Nếu hai việc này chúng ta không
cùng làm một lúc thì chưa thể đem lại hiệu quả thiết thực và toàn diện
được.
Đối với việc chuyển đổi mô hình tổ chức pháp lý doanh
nghiệp đến thời điểm này có thể nói về cơ bản là xong, tất nhiên việc
đổi mới quản trị nội bộ công ty thì còn là một câu chuyện dài. Mặt khác,
chúng ta sẽ còn tiếp tục sắp xếp, cổ phần hóa những doanh nghiệp mà Nhà
nước vẫn còn nắm giữ 100% vốn điều lệ, để DNNN dù ít nhưng mạnh, chỉ
còn là những tập đoàn, những công ty nắm giữ những lĩnh vực then chốt,
có vai trò chủ đạo và có khả năng khoả lấp được những mất cân đối của
nền kinh tế thị trường xét về chiến lược và là công cụ ổn định thị
trường khi có khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, nhưng không tạo ra độc
quyền doanh nghiệp.
Đối với việc đổi mới cơ chế quản lý, giám sát của Nhà
nước đối với DNNN không phải là chúng ta chưa làm mà đã và đang tiếp
tục làm (sự ra đời của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước –
SCIC – là một ví dụ). Nhưng cần phải nhìn nhận rằng, ở thời điểm hiện
nay, khi việc chuyển đổi mô hình tổ chức pháp lý doanh nghiệp về cơ bản
đã được thực hiện thì việc đổi mới cơ chế quản lý, giám sát là chưa
tương xứng. Tình trạng lỏng lẻo và thiếu các quy định pháp luật về cơ
chế giám sát việc sử dụng vốn, tài sản, đánh giá hiệu quả, xác định
trách nhiệm ở các Tập đoàn, Tổng CTNN trong thời gian qua, điển hình là
trường hợp Vinashin, đã chỉ rõ điều đó. Do vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh
việc đổi mới cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá hiệu quả đối với DNNN để
tương xứng với việc chuyển đổi về mô hình tổ chức pháp lý. Tức là làm
thế nào để “hai cái chân” nói trên phải cùng đồng hành, không lệch pha
nhau. Nói một cách hình ảnh, nếu hai cái chân đó không bước đi theo nhịp
thì “bình mới nhưng chưa chắc rượu đã mới”. Có nghĩa là DNNN có tên gọi
mới, có hình thức tổ chức pháp lý mới, nhưng chưa có mô hình quản trị
mới, cơ chế quản lý, giám sát mới thì chưa thể MỚI hoàn toàn được.
Điều quan trọng nhất trong đổi mới cơ chế quản lý,
giám sát của Nhà nước đối với DNNN hiện nay sau khi đã được chuyển đổi
thành CTCP, công ty TNHH là cần đổi mới mối quan hệ của chủ sở hữu (Nhà
nước) với doanh nghiệp, tức là quan hệ quản lý chứ không phải quan hệ
quản trị doanh nghiệp. Vì quản trị doanh nghiệp là phải tuân theo các
quy định của LDN 2005 về từng mô hình công ty: CTCP, công ty TNHH một
thành viên hay hai thành viên trở lên. Nhưng có một vấn đề mà LDN 2005
không thể với tay tới được đó là mối quan hệ quản lý, giám sát (thậm chí
là chi phối về mặt hành chính) của ông chủ sở hữu Nhà nước (“ông hành
chính chủ quản”) đối với doanh nghiệp. Nếu chúng ta chưa đổi mới được
vấn đề này thì DNNN dù đã là CTCP, công ty TNHH, đặc biệt là công ty
TNHH một thành viên, vẫn rất có thể sẽ là một thứ “bình mới, rượu cũ”.
Theo chúng tôi, để đổi mới triệt để cơ chế quản lý,
giám sát các DNNN khi đã chuyển đổi thành các CTCP, công ty TNHH, để
tránh tình trạng “bình mới, rượu cũ” thì phải xóa bỏ được mối quan hệ
hành chính chủ quản doanh nghiệp và thay thế bằng một cơ chế quản lý,
giám sát mới – cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các DNNN và
phần vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp khác – để các doanh nghiệp độc
lập và hoạt động theo pháp luật.
Muốn xóa bỏ được mối quan hệ hành chính chủ quản thì
đương nhiên phải tìm ra được một hình thức thay thế nó. Tức là các DNNN
hiện tại dù đã chuyển đổi sang các mô hình công ty theo LDN 2005 thì về
cơ bản vẫn chịu sự quản lý và lệ thuộc về mặt hành chính vào một cơ quan
quản lý nhà nước là Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nếu xóa bỏ quan
hệ hành chính chủ quản này thì phải có một hình thức đại diện thực hiện
quyền của chủ sở hữu nhà nước để thay thế, và khi đó, các DNNN sẽ độc
lập và hoạt động theo LDN 2005, đại diện chủ sở hữu sẽ thay cơ quan hành
chính chủ quản thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với công ty TNHH
một thành viên của Nhà nước hoặc đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà
nước ở các CTCP, hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Như vậy, theo chúng tôi, để đổi mới toàn diện các
DNNN sau khi đã được chuyển đổi mô hình tổ chức pháp lý, nhằm bảo đảm
tính độc lập, tăng cường tính trách nhiệm, đem lại sự minh bạch và hiệu
quả của DNNN thì cần tiếp tục phải đổi mới cách quản trị các DNNN và cơ
chế thực hiện đại diện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp.
Mô hình quản trị nào, đặc biệt là mô hình thực hiện đại diện quyền của
chủ sở hữu nhà nước nào sẽ thay thế cho mối quan kép hiện nay của các cơ
quan nhà nước đối với các DNNN (vừa là quan hệ hành chính chủ quản –
thực hiện quản lý hành chính đối với doanh nghiệp, vừa là đại diện chủ
sở hữu – tham gia tổ chức, quản trị doanh nghiệp)? Tổng công ty Đầu tư
và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) có phải là đơn vị duy nhất và là tất
cả trong việc này hay không? Xin được tiếp tục trao đổi về vấn đề này
trong một dịp khác.
Chú thích:
(1) http://www.chinhphu.vn: “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Không làm kiểu “bình mới, rượu cũ”. 12:56 PM, 06/07/2010.
(2) Trang Web đã dẫn.
(3) Điều 1 Luật DNNN năm 2003.
(4) Theo quy định của LDN 2005 thì Luật DNNN năm
2003 hết hiệu lực từ ngày 01/7/2006 (ngày LDN 2005 có hiệu lực). Tuy
nhiên, một số quy định của Luật DNNN năm 2003 vẫn còn có giá trị pháp lý
áp dụng cho các CTNN chưa chuyển đổi trong thời gian bốn năm chuyển đổi
như đã nói trên. Do vậy, có thể nói đạo luật này chỉ thực sự chấm dứt
sự tồn tại sau khi tất cả các CTNN đã được chuyển đổi sang các mô hình
công ty theo LDN 2005.
(5) Khoản 22 Điều 4 LDN 2005.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - PGS. TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ
Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/chuyen-111oi-doanh-nghiep-nha-nuoc-thanh-cong-ty-theo-luat-doanh-nghiep-2005-co-phai-la-201cbinh-moi-ruou-cu201d
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)