Cơ cấu của quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật hình sự
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cơ cấu của quy phạm pháp luật (QPPL) nói chung và QPPL hình sự (QPPLHS) nói riêng. Theo quan điểm truyền thống được đề cập đến trong Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật học, thì QPPL có thể có ba bộ phận cấu thành là: giả định, quy định và chế tài. Ngoài ra, còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này như: QPPL có hai bộ phận cấu thành là giả định và chỉ dẫn (1);
QPPL có hai bộ phận cấu
thành là quy tắc và bảo đảm (2); QPPL có ba bộ phận cấu thành là giả định, quy
định và bảo đảm (3)... Vậy, QPPL nói chung và QPPLHS nói riêng có mấy bộ phận
cấu thành? Bài viết đưa ra quan điểm của tác giả về cơ cấu của QPPL nói chung
và QPPL hình sự nói riêng.
QPPL là quy tắc xử sự
chung nên thông thường nó phải chứa đựng những nội dung: thứ nhất, dự kiến những
điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống mà chủ thể sẽ gặp phải; đồng
thời chỉ ra chủ thể là tổ chức, cá nhân nào sẽ ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó;
thứ hai, quy định cách xử sự mà Nhà nước cho phép hoặc bắt buộc hoặc cấm tổ
chức, cá nhân ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó thực hiện; thứ ba, hình thức khen
thưởng mà tổ chức, cá nhân có thể được hưởng nếu thực hiện tốt các quy định của
pháp luật hoặc những biện pháp xử phạt mà tổ chức, cá nhân có thể phải gánh
chịu nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ những cách xử sự
mà Nhà nước đưa ra.
QPPL rất phong phú và đa
dạng nên có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức độ phổ
biến của QPPL nói chung và QPPLHS nói riêng trong các văn bản QPPL, có thể chia
chúng thành hai loại là QPPL thông thường (phổ biến) và QPPL xung đột (đặc
biệt). Cơ cấu của hai loại QPPL này có những điểm khác biệt nhau.
1. Quy phạm pháp luật
thông thường (phổ biến)
Cơ cấu của QPPL thông
thường (phổ biến) - chiếm đa số tuyệt đối trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- có ba bộ phận là giả định, quy định và biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật (các
hình thức thưởng, phạt).
1.1. Giả định của quy
phạm pháp luật
Giả định là bộ phận của
QPPL dự kiến trước những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống mà
chủ thể sẽ gặp phải hoặc dự kiến trước những điều kiện, hoàn cảnh, để áp dụng
các biện pháp tác động của Nhà nước. Bộ phận này còn chỉ rõ chủ thể là tổ chức,
cá nhân nào cần phải xử sự trong điều kiện, hoàn cảnh đó hoặc tổ chức, cá nhân
nào sẽ là đối tượng để áp dụng các hình thức khen thưởng hoặc các biện pháp xử
phạt của Nhà nước. Vì vậy, phần giả định của QPPL nói chung và QPPLHS nói riêng
thường trả lời cho các câu hỏi: ai? tổ chức, cá nhân nào? khi nào? trong điều
kiện hoàn cảnh nào?…
Ví dụ 1: khoản 1 Điều 87
của Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Người học các chương trình giáo dục đại
học nếu được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp hoặc do nước ngoài
tài trợ theo hiệp định ký kết với Nhà nước thì sau khi tốt nghiệp phải chấp
hành sự điều động làm việc có thời hạn của Nhà nước; trường hợp không chấp hành
thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo”. Quy định này là một QPPL mà phần
giả định của nó gồm các từ sau: “Người học các chương trình giáo dục đại học
nếu được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp hoặc do nước ngoài tài
trợ theo hiệp định ký kết với Nhà nước thì sau khi tốt nghiệp”, vì nó dự kiến
trước điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống. Đó là có những người
được học đại học hoàn toàn bằng kinh phí đào tạo của Nhà nước và đã tốt nghiệp.
Ngoài ra, phần giả định của quy phạm này còn gồm các từ trường hợp không chấp
hành vì nó dự kiến trước điều kiện để áp dụng biện pháp tác động của Nhà nước -
biện pháp trừng phạt của Nhà nước khi người tốt nghiệp đại học không chấp hành
lệnh điều động của Nhà nước.
Phần giả định của QPPLHS chỉ
nêu lên điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng các biện pháp tác động - các hình phạt
của Nhà nước và chủ thể nào có thể bị coi là người phạm tội, tức là đối tượng
để áp dụng các hình phạt đó. Đồng thời, phần này cũng chỉ rõ rằng, chủ thể của
tội phạm hay chủ thể là đối tượng để áp dụng các hình phạt của Nhà nước hiện
nay chỉ là cá nhân mà không phải là tổ chức. Ví dụ 2: Khoản 1, Điều 182 của Bộ
luật Hình sự năm 1999 (BLHS) quy định về Tội gây ô nhiễm môi trường như sau:
“Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường,
phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở
mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu
quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
Phần giả định của QPPLHS này gồm các từ: “người nào thải vào không khí, nguồn
nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường
bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” vì nó dự kiến trước
ai và trong điều kiện, hoàn cảnh nào có thể bị coi là người phạm Tội gây ô
nhiễm môi trường.
Giả định của QPPL có thể
là đơn giản - chỉ nêu lên một điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong thực tế
mà khi điều kiện, hoàn cảnh đó xảy ra thì, các tổ chức, cá nhân đã được đề cập
đến sẽ chịu sự tác động của quy phạm (trong Ví dụ 1 thì giả định của quy phạm
là đơn giản). Song, giả định của QPPL cũng có thể là phức tạp - nêu lên nhiều
điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống và chỉ khi xảy ra tất cả các
điều kiện, hoàn cảnh đó, tổ chức, cá nhân được đề cập mới chịu sự tác động của
quy phạm (4) .
Ví dụ 3: Điều 19 của Nghị
định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp người được cấp dưỡng một lần lâm
vào tình trạng khó khăn trầm trọng do bị tai nạn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà
người đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực tế để cấp dưỡng cao hơn,
thì phải cấp dưỡng bổ sung theo yêu cầu của người được cấp dưỡng”. Giả định của
QPPL trong quy định này là giả định phức tạp bởi nó nêu lên hai điều kiện, hoàn
cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống: một là, người được cấp dưỡng một lần lâm
vào tình trạng khó khăn trầm trọng, yêu cầu cấp dưỡng bổ sung; hai là, người đã
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực tế để cấp dưỡng cao hơn. Tuy
nhiên, trên thực tế, loại giả định đơn giản được quy định tương đối phổ biến,
còn loại giả định phức tạp thường ít gặp hơn.
QPPLHS cũng có thể có hai
loại giả định như trên, cụ thể: Giả định của quy phạm trong Ví dụ 2 là giả định
đơn giản, còn giả định phức tạp được thể hiện trong Ví dụ 4 sau đây: khoản 1,
Điều 192 của BLHS quy định về Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác
có chứa chất ma tuý như sau: “Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây
cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo dục nhiều lần,
đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính về hành
vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Giả định của
QPPL trong quy định này là giả định phức tạp vì nó nêu lên bốn điều kiện, hoàn
cảnh có thể xảy ra với người phạm tội là: trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây
cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; đã được giáo dục nhiều lần;
đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống; đã bị xử phạt hành chính về hành vi
này mà còn vi phạm. Chỉ khi nào có đủ bốn điều kiện này họ mới bị coi là người
phạm Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy. Như
vậy, căn cứ vào khái niệm về bộ phận giả định của QPPL thì tất cả các cụm từ
người nào trong các quy phạm thuộc Phần các tội phạm của BLHS đều thuộc bộ phận
giả định của QPPLHS. Cụm từ người nào ở đây phải được hiểu là người đủ điều
kiện chủ thể của tội phạm (có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật
định và có thể có thêm đặc điểm đặc biệt khác như: quốc tịch, độ tuổi, giới
tính, chức vụ quyền hạn) và cho đến hiện tại, đây vẫn chỉ là cá nhân mà không
phải là tổ chức.
Trong các QPPL được trình
bày ở Phần các tội phạm của BLHS, giả định là bộ phận không thể thiếu vì nếu
thiếu nó thì không thể xác định được ai và khi nào có thể bị coi là tội phạm và
có thể bị áp dụng hình phạt.
1.2. Quy định của quy
phạm pháp luật
Quy định là bộ phận của
QPPL nêu lên cách xử sự hay quy tắc xử sự cho chủ thể (các tổ chức, cá nhân) ở
vào điều kiện, hoàn cảnh đã nêu trong phần giả định của quy phạm. Đây là bộ phận
trực tiếp thể hiện ý chí, mong muốn của Nhà nước, là mệnh lệnh của Nhà nước đối
với các chủ thể, nó chỉ rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia
vào quan hệ xã hội do quy phạm điều chỉnh. Vì vậy, bộ phận quy định của QPPL
thường trả lời cho các câu hỏi: có quyền gì? có nghĩa vụ gì? được làm gì? không
được làm gì? phải làm gì và làm như thế nào?
Từ đó ta thấy, trong QPPL
được trình bày ở Ví dụ 1, phần quy định của nó gồm những từ “phải chấp hành sự
điều động làm việc có thời hạn của Nhà nước”; còn đối với quy phạm trong Ví dụ
3, bộ phận quy định của nó gồm các từ “thì phải cấp dưỡng bổ sung theo yêu cầu
của người được cấp dưỡng”.
Quy định của QPPL có thể
là dứt khoát - chỉ nêu lên một cách xử sự rõ ràng, dứt khoát mà chủ thể không
có khả năng lựa chọn (phần quy định của các QPPL được nêu trong Ví dụ 1, Ví dụ
3 đều thuộc loại quy định dứt khoát); song cũng có thể là tuỳ nghi - nêu lên
nhiều cách xử sự và cho phép chủ thể được lựa chọn, thực hiện một trong các cách
đó. Ví dụ 5: Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng
có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”. Đây là một
QPPL mà bộ phận quy định của nó gồm các từ “có quyền nhập hoặc không nhập tài
sản riêng vào khối tài sản chung” và thuộc loại tùy nghi vì nó nêu lên hai cách
xử sự mà chủ thể có thể lựa chọn một trong hai cách đó. Đối chiếu với phần lý
thuyết nêu trên ta thấy, trong các QPPL được trình bày ở Phần các tội phạm của
BLHS không có phần quy định mà phần quy định của chúng có thể là bộ phận ẩn,
không được trình bày, bởi thông qua việc chỉ ra các hành vi là điều kiện để áp
dụng hình phạt có nghĩa là Nhà nước cấm thực hiện những hành vi đó. Chẳng hạn,
QPPL được nêu trong Ví dụ 2, những hành vi “thải vào không khí, nguồn nước, đất
các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô
nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” là những hành vi bị pháp
luật cấm thực hiện. Do đó, người nào thực hiện những hành vi này đương nhiên sẽ
bị Nhà nước trừng phạt. Cũng có thể phần quy định của các QPPLHS lại được trình
bày trong các văn bản QPPL khác. Ví dụ 6: Điều 4 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 quy định: “Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con,
cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình” và Điều 151 của BLHS
quy định: “Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con,
cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Như vậy, nội
dung phần quy định của QPPL được trình bày trong Điều 151 của BLHS lại được
trình bày trong Điều 4 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Sở dĩ có trường hợp đặc
biệt như trên là vì luật hình sự không có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã
hội như các ngành luật khác mà có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sự xâm
hại của tội phạm. Vì vậy, các QPPL của luật hình sự thường không nêu lên quy
tắc xử sự hay cách xử sự cho các chủ thể như quy phạm của các ngành luật khác,
mà chỉ xác định những hành vi bị coi là tội phạm và quy định những hình phạt
cần áp dụng đối với người phạm tội. Do đó, cơ cấu của các QPPLHS thường chỉ có
hai bộ phận là giả định và biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật - chủ yếu là
biện pháp trừng phạt.
1.3. Biện pháp bảo đảm
thực hiện pháp luật
Biện pháp bảo đảm thực
hiện pháp luật là bộ phận của QPPL nêu lên các biện pháp tác động mà Nhà nước
dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể được nêu trong phần giả định của quy
phạm khi họ có thành tích trong học tập, công tác, lao động, phục vụ, trong khi
thi hành nhiệm vụ, công vụ hoặc trong việc thực hiện pháp luật (các hình thức
khen thưởng); hoặc khi họ vi phạm pháp luật, không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ pháp lý được nêu trong phần quy định
của QPPL (các biện pháp xử phạt).
Khen thưởng và xử phạt
đều là các biện pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và
tự giác. Bởi vì, Nhà nước quy định các hình thức khen thưởng nhằm động viên,
khuyến khích các chủ thể tự giác, nhiệt tình thực hiện đúng và đầy đủ các quy
định của pháp luật liên quan tới hoạt động của mình, phấn đấu đạt được thành
tích cao trong hoạt động để có thể được khen thưởng. Bên cạnh đó, Nhà nước còn
quy định các biện pháp xử phạt nhằm trừng phạt các chủ thể vi phạm pháp luật,
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý
của mình để thông qua đó giáo dục, răn đe, phòng ngừa sự vi phạm pháp luật xảy
ra trong thực tế, góp phần làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
Trong Ví dụ 1, bộ phận
biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bao gồm các từ “thì phải bồi hoàn học
bổng, chi phí đào tạo”. Đây là biện pháp trừng phạt được quy định nhằm
làm cho những sinh viên đã tốt nghiệp đại học vì sợ phải bồi thường học bổng,
chi phí đào tạo mà chấp hành nghiêm chỉnh sự điều động làm việc của Nhà nước.
Các biện pháp tác động mà
Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể có thể là cố định, tức là chỉ
nêu lên một biện pháp tác động, ví dụ “thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào
tạo”; song cũng có thể là không cố định - nêu lên nhiều biện pháp tác động rồi
cho phép chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể lựa chọn và áp dụng một trong các
biện pháp ấy. Ví dụ 7: Khoản 1, Điều 37 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998
(được sửa đổi, bổ sung năm 2003) quy định: “Cán bộ, công chức có thành tích
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xét khen thưởng theo các hình
thức sau: a. Giấy khen; b. Bằng khen; c. Danh hiệu vinh dự nhà nước; d. Huy
chương; đ. Huân chương…”.
Quy định này là một QPPL,
bộ phận biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật của nó gồm các từ "thì được
xét khen thưởng theo các hình thức sau: a. Giấy khen; b. Bằng khen; c. Danh
hiệu vinh dự nhà nước; d. Huy chương; đ. Huân chương…".
Các biện pháp tác động mà
Nhà nước dự kiến ở đây là không cố định, bởi nó bao gồm nhiều biện pháp tác
động và tùy vào thành tích của cán bộ, công chức đạt được mà cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sẽ lựa chọn để áp dụng một trong các hình thức khen thưởng ấy.
Trong Ví dụ 2, bộ phận
biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bao gồm các từ “thì bị phạt tiền từ năm
mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Các biện pháp tác động được nêu trong quy
phạm này là không cố định vì nó bao gồm nhiều biện pháp tác động. Tuỳ theo mức
độ nghiêm trọng của tội phạm mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể lựa
chọn để áp dụng một trong các hình phạt đó đối với người phạm tội.
Xét một cách logic ta
thấy, thường những quy phạm quy định nghĩa vụ cho các chủ thể mới cần có biện
pháp bảo đảm thực hiện pháp luật. Điều đó là đương nhiên vì khi Nhà nước quy
định quyền cho các chủ thể, họ hoàn toàn có thể lựa chọn thực hiện hay không
thực hiện quyền của mình; còn khi Nhà nước quy định nghĩa vụ cho các chủ thể
thì bắt buộc họ phải thực hiện; nếu thực hiện tốt, Nhà nước sẽ khen thưởng, nếu
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, Nhà nước sẽ xử phạt.
QPPLHS là loại quy phạm nhằm bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của các chủ
thể.
Khi ban hành pháp luật,
Nhà nước luôn mong muốn cho các quy định của mình được thực hiện nghiêm chỉnh.
Do vậy, ở phần cuối của nhiều đạo luật, các quy định về việc thưởng, phạt của
Nhà nước thường được đặt liền nhau. Ví dụ 8: Điều 74 của Luật Giao thông đường
bộ năm 2001 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực
hiện Luật Giao thông đường bộ thì được khen thưởng theo quy định của pháp
luật”. Và Khoản 1, Điều 75 của Luật này quy định: “Người nào có hành vi vi phạm
quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra
mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
Mặc dù Nhà nước ta vừa có
Luật Thi đua khen thưởng để quy định các hình thức khen thưởng, vừa có BLHS và
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính để quy định các biện pháp trừng phạt hay chế
tài; ngoài ra, các hình thức khen thưởng và các biện pháp trừng phạt còn được
quy định rải rác trong nhiều văn bản QPPL khác; song nhìn chung, trong số các
biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật được quy định trong hệ thống pháp luật
thì số các biện pháp trừng phạt thường được quy định nhiều hơn. Thêm vào đó,
xét về mặt tâm lý, trong điều kiện ý thức pháp luật của nhân dân ta còn thấp
như hiện nay, mọi người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật chủ yếu là do sợ bị phạt
chứ không phải là mong được thưởng (thực trạng ở nước ta trong thời gian quy
định bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy mới có
hiệu lực pháp luật đã chứng minh cho điều này). Vì thế, không phải ngẫu nhiên
mà quan điểm truyền thống lại cho rằng, bộ phận thứ ba của QPPL là chế tài.
Song, quan niệm như vậy là chưa đầy đủ, vì bên cạnh chế tài thì các hình thức
khen thưởng được quy định ngày càng nhiều hơn và có vai trò ngày càng quan trọng
hơn.
Riêng đối với các quy
phạm trong Phần các tội phạm của BLHS, do tính chất và nhiệm vụ của mình mà chúng
không bao giờ nêu lên các hình thức khen thưởng mà chỉ nêu chế tài. Đây là loại
chế tài nghiêm khắc nhất - chế tài hình sự hay hình phạt. Tuy nhiên, trong Phần
này cũng có những QPPL quy định việc không trừng phạt hay miễn trách nhiệm hình
sự cho chủ thể trong một số trường hợp nhất định, mặc dù rất ít. Ví dụ 9: khoản
6, Điều 289 của BLHS quy định Tội đưa hối lộ như sau: “Người bị ép buộc đưa hối
lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và
được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị
ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn
trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa
hối lộ”; hoặc khoản 3, Điều 314 của BLHS hiện hành quy định: “Người không tố
giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội
phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt…”.
Từ sự phân tích và những
ví dụ trên, có thể thấy, bộ phận biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật của QPPL
không chỉ nêu lên các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích,
các biện pháp xử phạt đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, mà đôi khi còn nêu
lên các biện pháp miễn xử phạt đối với các chủ thể nhất định. Bởi vì đó cũng là
một loại biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với các chủ thể
vi phạm pháp luật trong trường hợp họ chủ động ngăn chặn hoặc giảm bớt những
hậu quả xấu xảy ra cho xã hội. Việc nêu lên các biện pháp tác động này có tác
dụng khuyến khích các chủ thể thực hiện những hành vi có lợi cho bản thân và
cho xã hội, giảm bớt hoặc ngăn chặn những hậu quả nguy hiểm cho xã hội để có
thể được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước. Nói chung, loại biện pháp tác
động này thường ít được quy định hơn so với các hình thức khen thưởng và các
biện pháp xử phạt.
Mặc dù QPPL có thể có các
bộ phận như đã nêu, song trong thực tiễn xây dựng pháp luật, do kỹ thuật xây
dựng pháp luật đòi hỏi các QPPL phải được trình bày một cách ngắn gọn, chặt chẽ,
đầy đủ nhưng không trùng lặp, chồng chéo, nên trong các văn bản QPPL có rất ít
quy phạm được trình bày đủ cả ba bộ phận. Đa số các quy phạm chỉ được trình bày
hai bộ phận: giả định và quy định hoặc giả định và biện pháp bảo đảm thực hiện
pháp luật, thậm chí có quy phạm chỉ trình bày bộ phận quy định như: “cấm cưỡng
ép kết hôn, tảo hôn”; “cấm hành hạ, ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con,
cháu”. Với những quy phạm này, biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật thường
được trình bày trong văn bản QPPL khác như Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
hoặc BLHS.
2. Quy phạm xung đột
Trong hệ thống pháp luật,
ngoài những quy phạm thông thường, phổ biến còn có loại quy phạm ít phổ biến,
đó là quy phạm xung đột. Đây là loại QPPL đặc biệt, không trực tiếp quy định
quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể hoặc các biện pháp tác động của Nhà
nước đối với các chủ thể mà chỉ nêu lên văn bản QPPL nào hoặc pháp luật của nước
nào sẽ được lựa chọn để áp dụng. Cơ cấu của loại quy phạm này không gồm các bộ
phận như đã nêu mà thường chỉ gồm hai phần là phạm vi và hệ thuộc. Trong đó,
phạm vi là bộ phận nêu lên quan hệ xã hội nào sẽ được điều chỉnh bởi quy phạm
đó; còn hệ thuộc là bộ phận nêu lên văn bản QPPL nào hoặc pháp luật của nước nào
sẽ được lựa chọn để áp dụng. Ví dụ 10: khoản 1, Điều 773 của Bộ luật Dân sự năm
2005 quy định: “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp
luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực
tế của hành vi gây thiệt hại”. Quy định này là một QPPL mà phần phạm vi của nó
gồm các từ “việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, tất cả các chữ còn lại
là phần hệ thuộc của quy phạm.
Khác với pháp luật trong
các lĩnh vực khác như dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình..., do đặc thù của
mình nên pháp luật trong lĩnh vực hình sự hầu như không có quy phạm xung đột,
bởi vì Điều 2 của BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Vì thế, khi định tội và định hình phạt
cho một người phạm tội cụ thể, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể
căn cứ vào quy định của BLHS nước ta mà không thể dựa vào quy định trong văn
bản QPPL khác hoặc pháp luật của nước khác.
(1) Xem Nguyễn Minh Đoan,
Bàn thêm về cơ cấu QPPL, Tạp chí Luật học số 3/2000 và Một cách tiếp cận đối
với QPPL, Tạp chí Luật học số 4/2004.
(2) Xem Nguyễn Quốc Hoàn,
Bàn về cơ cấu của QPPL, Tạp chí Luật học số 01/2000 và Vấn đề tiếp cận về cơ
cấu của QPPL, Tạp chí Luật học, số 02/2004.
(3) Xem Nguyễn Thị Hồi và
Lê Vương Long (đồng chủ biên), Nội dung cơ bản của môn học Lý luận nhà nước và
pháp luật, Nxb. Giao thông Vận tải, Hà Nội, 2008, tr. 245-246.
(4) Xem “Nội dung cơ bản
của môn học Lý luận nhà nước và pháp luật”, sđd, tr. 247.
TS. Nguyễn Thị Hồi -
Trường Đại học Luật Hà Nội; TS. Đỗ Đức Hồng Hà - Đại học Luật Hà Nội
Nguồn: nclp.org.vn
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật:
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------