Cơ chế điều chỉnh lãi suất cơ bản: Giải pháp phù hợp với thực trạng nền kinh tế hiện nay
Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.
Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai
đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản:
- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định
lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng
thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM;
đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường
tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động
cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác
động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.
- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ
chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là
lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là
7% – 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động
trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò
định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền
về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và
lãi suất huy động, cho vay của NHTM.
Từ tháng 5 – 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ "thắt
chặt", các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ
12%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái
chiết khấu từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ
11,7%/năm lên 15%/năm. Từ tháng 10/2008 đến nay, NHNN chuyển hướng điều hành
chính sách tiền tệ từ "thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới
lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh
giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% – 13% – 11% – 8,5% – 7%/năm, lãi suất tái cấp
vốn từ 15% – 13% – 12% – 9,5% – 8% – 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% –
11% – 12% – 10% – 7,5% – 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% –
14,3% – 13,5% – 11% – 9% – 8% – 7,5% – 7%/năm.
Từ thực tế diễn biến tiền tệ, lãi suất trong thời gian qua, có thể rút ra
một số nhận xét sau đây:
Một là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn
được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các
NHTM trong những tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTMCP quy mô nhỏ chuyển
đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố
lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân
hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy độïng vốn
giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao. Cùng với diễn biến lạm phát có xu
hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng
thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu năm
2009 tương đối ổn định.
Hai là, cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu
lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường,
thể hiện là lãi suất thị trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức
lãi suất chủ đạo của NHNN; lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động
theo cung – cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều
hành của NHNN, đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Năm 2008 và những
tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp
với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng.
Ba là, việc điều hành linh hoạt lãi suất cơ bản, vừa là công cụ điều tiết
thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải
pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là "thắt chặt" hay
"nới lỏng" tiền tệ, đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan
trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp, người dân, các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, các NHTM quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản
ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết
quả này có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích
cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế
vĩ mô.
Bốn là, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật NHNN
và Bộ luật Dân sự, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay và các năm tới đây
là kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững.
Tuy vậy, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối
với lãi suất kinh doanh của NHTM, có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa
ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận
trên thị trường. Xử lý vấn đề này, NHNN đã ban hành cơ chế lãi suất cho vay
thoả thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống và phát hành thẻ tín dụng,
đi kèm theo đó là cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế
rủi ro. Hiện nay, đã và đang xuất hiện ý kiến cho rằng NHNN cần dỡ bỏ trần lãi
suất cho vay = Lãi suất cơ bản x 150% mà để cho các NHTM được tự ấn định lãi suất
kinh doanh. Ý kiến này cần được xem xét ở một số khía cạnh: (1) Theo kinh
nghiệm của quá trình tự do hoá lãi suất ở các nước và nước ta trong nhiều năm
qua cho thấy điều kiện để tự do hoá lãi suất là kinh tế vĩ mô ổn định, thị
trường tài chính – tiền tệ minh bạch và có chiều sâu, mục tiêu chủ yếu của
chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát; phát triển hệ thống thanh toán có khả
năng kiểm soát được hầu hết các luồng vốn khả dụng của khu vực ngân hàng, chứng
khoán và các định chế tài chính khác; hệ thống NHTM có năng lực cạnh tranh và
khả năng đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh; ngân sách nhà nước thâm hụt ở
mức thấp. Với các điều kiện này, có lẽ nền kinh tế và thị trường tài chính –
tiền tệ của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được; (2) Khủng hoảng tài chính thế
giới đã trải qua tình trạng tồi tệ nhất, nhưng suy thoái và phục hồi kinh tế
thế giới còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đối với kinh tế và thị
trường tiền tệ trong nước, trước mắt cần thực thi các giải pháp tiền tệ theo
hướng đảm bảo an toàn hệ thống; (3) Kinh tế trong nước, nguy cơ lạm phát cao
chưa được ngăn ngừa một cách vững chắc, kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro, hệ thống các NHTM còn chênh lệch lớn về quy mô, cơ cấu và chất lượng tài
sản nợ và tài sản có; năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh và quản trị kinh
doanh của các NHTM còn nhiều mặt hạn chế; (4) Thị trường hàng hoá, tài chính,
tiền tệ, vàng, ngoại hối, bất động sản, chứng khoán còn chứa đựng những nguy cơ
bất ổn do hiện tượng đầu cơ còn diễn ra khá phổ biến và các biện pháp điều tiết
kinh tế vĩ mô của nhà nước chưa đủ mạnh để có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế các
hiện tượng này, sẽ kéo theo các rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thời gian tới – giai đoạn
hậu suy giảm kinh tế, việc tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là
một giải pháp thích hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, cung – cầu vốn
thị trường. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định được thực
hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp,
điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông.
Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh
giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị trường tài chính
– tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi có thể xảy ra và các biện
pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và phát triển của hệ
thống tài chính.
SOURCE: THỜI BÁO NGÂN HÀNG - TS. NGUYỄN NGỌC BẢO – Vụ trưởng Vụ
Chính sách tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trích dẫn từ: http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tinnghiencuu.jsp?tin=740