Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và khả năng đáp ứng của Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đã tham gia dự
07 vòng đàm phán xây dựng Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây
gọi tắt là Công ước) và là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước
(12/2003). Tính đến 20/3/2009, đã có 140 quốc gia ký Công ước và 132 quốc
gia phê chuẩn, gia nhập Công ước.
Ngày 02/12/2008 Chính phủ đã thống nhất
với đề xuất của Thanh tra Chính phủ về việc phê chuẩn Công ước. Theo Luật ký
kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Chủ tịch nước Cộng hoà xã
hội chủ nghiã Việt Nam là cơ quan quyết định phê chuẩn Công ước hoặc đề nghị
Quốc hội phê chuẩn Công ước.
Chính phủ Việt Nam đã tham gia dự
07 vòng đàm phán xây dựng Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây
gọi tắt là Công ước) và là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước
(12/2003). Tính đến 20/3/2009, đã có 140 quốc gia ký Công ước và 132 quốc
gia phê chuẩn, gia nhập Công ước. Ngày 02/12/2008 Chính phủ đã thống nhất
với đề xuất của Thanh tra Chính phủ về việc phê chuẩn Công ước. Theo Luật ký
kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Chủ tịch nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan quyết định phê chuẩn Công ước hoặc đề nghị
Quốc hội phê chuẩn Công ước.
I. Quá trình ra đời của
Công ước và sự tham gia của Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với
xu thế toàn cầu hoá, tham nhũng ngày càng lan rộng và trở thành một vấn đề hết
sức nhức nhối, đe doạ nghiêm trọng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội
của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, việc hình thành một khuôn khổ pháp lý
cho sự hợp tác giữa các quốc gia trên phạm vi quốc tế để phòng ngừa, ngăn chặn
và đấu tranh có hiệu quả với hành vi tham nhũng và tác hại của hành vi
này là một yêu cầu bức thiết của cả cộng đồng quốc tế.
Ngày 4/12/2001, Đại hội đồng Liên
hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 55/61 thành lập một Uỷ ban đặc biệt chịu
trách nhiệm soạn thảo Công ước. Cơ quan thường trực của Uỷ ban này là Uỷ ban
phòng chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC). Từ tháng 2/2002 đến
tháng 10/2003, Uỷ ban soạn thảo Công ước đã họp 7 phiên với sự tham dự của đại
diện hơn 100 quốc gia trên thế giới và gần 30 tổ chức quốc tế, tổ chức phi
chính phủ để thảo luận và xây dựng dự thảo Công ước. Tiến trình đàm phán xây
dựng Công ước được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Tổng Thư ký Liên hợp
quốc đã nhiều lần gửi thông điệp đến các phiên họp của Uỷ ban soạn thảo Công
ước yêu cầu đẩy nhanh tiến trình đàm phán và hoàn thành lộ trình soạn thảo Công
ước mà Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đề ra. Nhiều nhóm quốc gia
cũng tỏ rõ quyết tâm hoàn thành dự thảo Công ước để các quốc gia có thể ký Công
ước trong năm 2003, nhằm sớm tạo ra một công cụ pháp lý cho cuộc đấu tranh
chống tham nhũng trên thế giới.
Theo Nghị quyết số 58/169 ngày
18/12/2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua dự thảo Công ước và chấp
nhận đề nghị của Chính phủ Mê -hi-cô về việc đăng cai Hội nghị chính trị cấp
cao về ký Công ước. Hội nghị chính trị cấp cao về ký Công ước được tổ chức từ ngày
9 - 11/12/2003 tại thành phố Mêrida, Mê-hi-cô với 126 nước tham gia. Đại diện
các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc, 90 tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực
và tổ chức phi chính phủ tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên. Hội nghị
chính trị cấp cao ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng đã được
cộng đồng quốc tế đánh giá là một thành công lớn, đặc biệt là số lượng nước
tham gia đông và số nước ký Công ước ngay tại hội nghị là lớn nhất so với các
hội nghị ký các điều ước quốc tế khác.
Được phép của Thủ tướng Chính
phủ, đoàn đàm phán liên ngành củaViệt Nam đã tham dự đủ các vòng đàm phán
xây dựng dự thảo Công ước. Trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng của Việt Nam đang diễn ra hết sức sôi động và cộng đồng quốc tế đặc biệt
quan tâm đến việc sớm đưa Công ước vào cuộc sống thì việc Việt Nam không ký
Công ước sẽ không phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, gây ra những bất lợi cho
hình ảnh của Việt Nam trên thế giới. Do đó, theo đề nghị của Thanh tra Nhà
nước, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cử Đoàn đại biểu Chính phủ Việt
Nam tham dự Hội nghị chính trị cấp cao về ký Công ước gồm đại diện Bộ Ngoại
giao, Văn phòng Chính phủ và Thanh tra Nhà nước. Tại Hội nghị, nguyên Tổng
Thanh tra Nhà nước Quách Lê Thanh, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã ký
Công ước cùng đại diện của 95 quốc gia khác. Đoàn Việt Nam cũng đã nộp văn kiện bảo lưu
Khoản 2, Điều 66 về thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc.
Việc nước ta ký Công ước thể hiện
quyết tâm chính trị của Việt Nam
trong việc ngăn ngừa và loại bỏ tình trạng tham nhũng, góp phần nâng cao uy tín
và vai trò của Việt Nam
trên trường quốc tế. Trước mắt, nước ta sẽ gặp một số khó khăn do pháp luật còn
thiếu hoặc chưa tương thích với một số quy định của Công ước. Tuy nhiên, vấn đề
này sẽ được khắc phục từng bước trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số văn bản
pháp luật có liên quan trong tương lai. Hơn nữa, việc ký Công ước chưa ràng
buộc các quốc gia về mặt pháp lý, do đó, ta sẽ có thêm thời gian để nghiên cứu
và cân nhắc kỹ những thuận lợi và thách thức đối với Việt nam khi phê chuẩn
Công ước.
II. Giới thiệu tóm tắt về
Công ước
Công ước Liên hợp quốc về chống
tham nhũng là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và các tổ chức
quốc tế thoả thuận xây dựng nên qua quá trình đàm phán. Mục tiêu của Công ước
là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia
nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng.
Sau Hội nghị chính trị cấp cao ký
Công ước, Công ước được để ngỏ cho các nước ký tại trụ sở của Liên hợp quốc đến
ngày 09/12/2005. Theo quy định của pháp luật quốc tế, việc mỗi quốc gia ký Công
ước chủ yếu là sự biểu đạt thiện chí chính trị mà chưa có sự ràng buộc về mặt
pháp lý. Để trở thành thành viên chính thức của Công ước, các quốc gia phải
thực hiện việc phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước. Ngày 14/12/2005, sau 90 ngày
kể từ ngày có văn kiện phê chuẩn thứ 30, Công ước đã chính thức có hiệu lực.
Tính đến ngày 20/3/2009, đã có 140 quốc gia ký Công ước và 132 quốc gia phê
chuẩn, gia nhập Công ước.
Công ước là văn bản pháp lý quốc
tế quan trọng bao gồm những quy định tương đối toàn diện về phòng chống tham
nhũng và hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng. Các quy định của
Công ước có nội dung phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong
đó có nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phản ánh kinh nghiệm thực tiễn về phòng,
chống tham nhũng ở nhiều châu lục trên thế giới, đặc biệt là châu Âu và châu Mỹ
la tinh; phù hợp với tình thần và nội dung của Công ước Liên hợp quốc về chống
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Việt Nam đã ký tháng 12/2000).
Công ước gồm 8 Chương và 71 Điều,
cụ thể: Chương I: Những quy định chung, từ Điều 1 đến Điều 4, quy định mục tiêu
và nguyên tắc cơ bản của Công ước. Chương II: Các biện pháp phòng ngừa, từ Điều
5 đến Điều 14, quy định chính sách và hành động chống tham nhũng của quốc gia;
cơ quan phòng, chống tham nhũng; khu vực công; quy tắc ứng xử cho công chức;
báo cáo công khai; khu vực tư; mua sắm tài sản công; quản lý tài chính công; sự
tham gia của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; các biện pháp liên quan đến
truy tố và xét xử hành vi tham nhũng. Chương III: Hình sự hoá và thực thi pháp
luật, từ Điều 15 đến Điều 42, quy định thành tội phạm các hành vi tham nhũng và
các biện pháp hỗ trợ, tăng cường hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với
các hành vi đó. Chương IV: Hợp tác quốc tế, từ Điều 43 đến Điều 50, quy định
hợp tác quốc tế về dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, tương trợ pháp lý,
chuyển giao vụ án hình sự, hợp tác thực thi pháp luật, liên kết điều tra và kỹ
thuật điều tra đặc biệt đối với hành vi tham nhũng. Chương V: Thu hồi tài sản,
từ Điều 51 đến Điều 59, quy định việc phòng ngừa và phát hiện việc chuyển tài
sản tham nhũng; các biện pháp và cơ chế hợp tác quốc tế vì mục đích thu hồi,
hoàn trả và định đoạt tài sản tham nhũng. Chương VI: Hỗ trợ kỹ thuật và trao
đổi thông tin, từ Điều 60 đến Điều 62, quy định về đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật;
thu thập, trao đổi và phân tích thông tin về tham nhũng; các biện pháp khác thi
hành Công ước thông qua phát triển kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật. Chương VII: Các
cơ chế thi hành Công ước, từ Điều 63 đến Điều 64, quy định cơ chế thi hành Công
ước. Chương VIII: Các điều khoản cuối cùng, từ Điều 65 đến Điều 71.
III. Quá trình nghiên
cứu, chuẩn bị phê chuẩn Công ước của Việt Nam
Sau Hội nghị chính trị cấp cao ký
Công ước, ngày 06/01/2004, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Thanh tra Chính phủ
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành nghiên cứu sâu nội dung
Công ước, rà soát hệ thống pháp luật, đánh giá thuận lợi, khó khăn của Việt Nam
để đề xuất với Chính phủ về việc phê chuẩn và thực hiện Công ước.
Quá trình nghiên cứu, đề xuất phê
chuẩn Công ước đã được Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành phối hợp tiến hành
trong thời gian hơn 5 năm dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, với việc tổ chức 01
hội thảo quốc tế, 04 hội thảo liên bộ, ngành, nhiều cuộc hội thảo nhỏ giữa các
chuyên gia trong và ngoài nước. Đặc biệt, 18 bộ, ngành có liên quan đã có ý
kiến đóng góp cho kết quả nghiên cứu và hồ sơ phê chuẩn Công ước; đã có quan
điểm chính thức nhất trí cao với sự cần thiết của việc phê chuẩn Công ước.
Trong đó, Bộ Tư pháp đã có văn bản thẩm định, Bộ Ngoại giao đã có văn bản kiểm
tra đối với hồ sơ đề nghị phê chuẩn Công ước và nhất trí cao với kết quả nghiên
cứu và đề xuất của Thanh tra Chính phủ về việc phê chuẩn Công ước. Có thể nói,
quá trình nghiên cứu, đề xuất phê chuẩn Công ước là quá trình rà soát, đánh giá
khả năng đáp ứng của pháp luật Việt Nam, đánh giá khả năng đáp ứng và sự sẵn
sàng thực thi Công ước của các bộ, ngành và toàn bộ hệ thống chính trị; dự báo
các thuận lợi, khó khăn và các tác động của Công ước sau khi Việt Nam phê
chuẩn. Quá trình này luôn quán triệt sự lãnh đạo của Đảng trong các văn kiện
nghị quyết, nhất là trong Nghị quyết TW 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và luôn gắn
với thực tiễn đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và quốc tế.
Trong quá trình nghiên cứu, đề
xuất phê chuẩn Công ước, những vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các bộ,
ngành và các chuyên gia nghiên cứu là khả năng đáp ứng của pháp luật và thực
tiễn Việt Nam đối với các quy định trong Công ước về các vấn đề như thu hồi tài
sản tham nhũng, kỹ thuật điều tra đặc biệt đối với hành vi tham nhũng, trách
nhiệm pháp lý hình sự của pháp nhân có tham nhũng, điều tra chung hay liên kết
điều tra đối với hành vi tham nhũng, quy định tham nhũng trong khu vực tư, dẫn
độ tư pháp, quy định về hành vi làm giàu bất hợp pháp, cơ chế thi hành Công
ước, các nội dung bảo lưu của Việt Nam khi phê chuẩn Công ước....
Để xây dựng luận cứ khoa học cho
việc đề xuất phê chuẩn Công ước, phương pháp nghiên cứu Công ước và rà soát
pháp luật Việt Nam được dựa trên 2 nhóm tiêu chí lớn: (1) đánh giá sự ràng buộc
của các yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên; (2) đánh giá sự phù
hợp, đáp ứng của pháp luật Việt Nam so với yêu cầu của Công ước.
Về đánh giá sự ràng buộc của các
yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên, công tác rà soát lại căn cứ
vào 3 tiêu chí nhỏ hơn thể hiện các mức độ ràng buộc, đó là: (1) những yêu cầu
mang tính bắt buộc, quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện; (2) những yêu cầu mang
tính tùy nghi, quốc gia có nghĩa vụ xem xét, cân nhắc việc thực hiện trên cơ sở
phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc gia; (3) những khuyến nghị, quốc gia
được khuyến khích xem xét thực hiện. Việc khẳng định mức độ ràng buộc nói trên
là tương đối khó khăn, bởi ngay cả bản dịch Công ước từ tiếng Anh sang tiếng
Việt vẫn tôn trọng cấu trúc ngôn ngữ tiếng Anh để đảm bảo chính xác tinh thần
Công ước. Tuy nhiên, các chuyên gia ngôn ngữ và pháp lý của Việt Nam đã căn cứ
vào lời văn tiếng Anh trong từng quy định của Công ước và dựa trên Bản hướng
dẫn lập pháp thực thi Công ước của Uỷ ban phòng chống ma túy và tội phạm của
Liên hợp quốc (UNODC) để đi đến thống nhất đánh giá một cách tương đối mức độ
ràng buộc của Công ước đối với quốc gia thành viên là: về nội dung, Công ước có
237 yêu cầu, trong đó 135 yêu cầu mang tính bắt buộc, 38 yêu cầu mang tính
khuyến nghị và 64 yêu cầu mang tính tuỳ nghi . Nhận định chung hết sức quan
trọng rút ra từ kết quả nghiên cứu Công ước là: Tính chất khuyến nghị là đặc
trưng cơ bản của Công ước.
Về đánh giá sự phù hợp của pháp
luật Việt Nam so với yêu cầu của Công ước, công tác nghiên cứu chia mức độ phù
hợp theo 3 cấp độ: cấp độ A - pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp về nguyên
tắc Hiến pháp và pháp luật thực định, có thể áp dụng trực tiếp quy định của
Công ước; cấp độ B - pháp luật Việt Nam đáp ứng về cơ bản – nghĩa là đáp ứng
trên nguyên tắc Hiến pháp; pháp luật thực định đã có quy định nhưng chưa đủ chi
tiết, đồng bộ - cần có hướng dẫn hoặc cụ thể hóa để thi hành; cấp độ C - pháp
luật Việt Nam chưa đáp ứng (nhất là trên phương diện nguyên tắc Hiến pháp và
pháp luật Việt Nam) hoặc chỉ đáp ứng được một phần, cần sửa đổi, bổ sung hoặc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới. Việc đánh giá này là hết sức khó khăn,
phải rà soát pháp luật hiện hành và thực tế đáp ứng. Việc phân biệt cấp độ A và
B chỉ là tương đối trong nhiều trường hợp. Riêng việc xác định cấp độ C phải
rất chính xác. Tuy nhiên, quá trình khảo sát, nghiên cứu của các cơ quan chức
năng đã khẳng định trách nhiệm và đạt tới sự đồng thuận rất cao.
IV. Kết quả nghiên cứu, chuẩn
bị phê chuẩn Công ước của Việt Nam
Căn cứ sự thống nhất cao của các
bộ, ngành của Việt Nam; nhận thấy Việt Nam đã đủ các điều kiện cần thiết, chín
muồi để phê chuẩn Công ước và để đảm bảo thế chủ động và kịp thời của Việt Nam
trong hội nhập quốc tế; xuất phát từ lợi ích trước mắt và lâu dài của nhà nước
ta, ngày 02/12/2008, tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ, tập thể Chính phủ
đã bàn và thống nhất về cơ bản với kết quả nghiên cứu, chuẩn bị phê chuẩn Công
ước, nhất trí với đề xuất của Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành về việc phê
chuẩn Công ước trên các phương diện sau đây:
1. Khả năng đáp ứng
của Việt Nam
đối với Công ước
Mục tiêu và nội dung Công ước
không trái với nguyên tắc Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và đường lối, chính
sách của Đảng ta. Pháp luật của Việt Nam về cơ bản đã phù hợp với nội
dung Công ước và đáp ứng được 135/135 quy định mang tính bắt buộc; 61/64 quy
định mang tính tuỳ nghi; 37/38 quy định mang tính khuyến nghị của Công ước.
Riêng quy định tại Khoản 2, Điều 66 về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các
quốc gia thành viên trong việc giải thích hay áp dụng Công ước, Công ước cho
phép các quốc gia quyền bảo lưu, nếu không thừa nhận áp dụng thủ tục này (Khoản
3, Điều 66 Công ước). Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế cũng cho
phép các quốc gia có quyền bảo lưu những quy định mang tính bắt buộc khác
của Công ước, trừ những quy định cấm bảo lưu hoặc quy định là mục tiêu chung
của Công ước. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng không có quy định
nào cấm bảo lưu.
Về các quy định khá nhạy cảm của
Công ước: (1) các quy định về hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều
20 Công ước); hành vi tham nhũng, hối lộ trong khu vực tư (Điều 21 Công ước);
trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26 Công ước); áp dụng kỹ thuật điều tra
đặc biệt (Điều 50 Công ước): đây là những quy định mang tính tuỳ nghi,
chưa được pháp luật Việt Nam quy định, nhưng không bắt buộc phải thực hiện; (2)
quy định về điều tra chung (Điều 49 Công ước); về việc thành lập cơ quan tình
báo tài chính (Điều 58 Công ước) là quy định mang tính tuỳ nghi, không bắt buộc
phải thực hiện, pháp luật Việt Nam đã đáp ứng một phần; (3) các quy định về
công khai, minh bạch tài chính công (Điều 10 Công ước); phòng chống rửa tiền
(Điều 14 Công ước); bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân (Điều 32 Công
ước); dẫn độ (Điều 44 Công ước); hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham
nhũng (Điều 51 đến 59 Công ước); giám sát tài khoản của những người đã và đang
giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước (Điều 52 Công ước): đây là những quy
định bắt buộc, pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản.
Nhiều biện pháp phòng, chống tham
nhũng đã được thực hiện có hiệu quả tại Việt Nam và hoàn toàn phù hợp với các
quy định tại Công ước như: tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và
trách nhiệm của cán bộ, công chức, của toàn xã hội trong phòng, chống tham
nhũng; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các lực lượng chuyên trách
phòng, chống tham nhũng; xây dựng chiến lược quốc gia về phòng, chống tham
nhũng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ việc tham nhũng;
cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động
công quyền; phát huy vai trò của báo chí và xã hội trong phòng, chống tham
nhũng.....
Nhiều biện pháp hợp tác quốc tế
trong phòng, chống tham nhũng như dẫn độ, trao đổi thông tin về tội phạm, hỗ
trợ điều tra, thu thập chứng cứ về tội phạm đã được thực hiện có hiệu quả trong
thực tiễn tương trợ tư pháp và thể hiện trong Hiệp định tương trợ tư pháp về
hình sự giữa các nước ASEAN năm 2004, Hiệp định về dẫn độ và Hiệp định về hình
sự giữa Việt Nam với Hàn Quốc năm 2003....
Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu,
rà soát cho thấy, một số văn bản pháp luật Việt Nam hiện mới đáp ứng về cơ bản
các yêu cầu của Công ước (nghĩa là đáp ứng trên nguyên tắc Hiến pháp, pháp
luật; pháp luật thực định đã có quy định nhưng chưa đủ chi tiết, đồng bộ; mới
được triển khai trên thực tiễn ở mức độ nhất định). Để nâng cao hiệu quả công
tác phòng, chống tham nhũng thì việc nội luật hoá các quy định của Công ước là
cần thiết và là khả năng thực tế đối với Việt Nam.
2. Sự cần thiết phê
chuẩn Công ước
- Việc phê chuẩn Công ước của
Việt Nam là khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong phòng,
chống tham nhũng “nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững
mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”
và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
- Trong bối cảnh Việt Nam đã gia
nhập WTO và là Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,
việc tham gia đầy đủ và bình đẳng vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu đầu tiên và
toàn diện nhất về chống tham nhũng là sự thể hiện thiện chí hợp tác của Việt
Nam trước cộng đồng quốc tế trong giải quyết vấn đề toàn cầu; góp phần nâng cao
uy tín, vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Công ước tạo ra cơ hội để Việt
Nam tranh thủ sự giúp đỡ của đông đảo các quốc gia thành viên về kinh nghiệm,
về trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ, hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện thể chế
phòng, chống tham nhũng.
- Nhiều quy định của Công ước có
nội dung tiến bộ, có thể nghiên cứu, tiếp thu để bổ sung, hoàn thiện pháp luật
Việt Nam như: xây dựng và đánh giá định kỳ các công cụ pháp lý phòng, chống
tham nhũng; xây dựng các quy tắc xử sự để đảm bảo cho cán bộ, công chức thực
hiện chức năng công chính xác, trung thực; áp dụng các biện pháp lập pháp và
hành chính nhằm đưa ra những tiêu chuẩn về ứng cử và bầu các chức vụ công; xây
dựng các nguyên tắc đảm bảo minh bạch trong quản lý, sử dụng tài chính công;
quy định về phòng chống tham nhũng trong khu vực tư; áp dụng các công cụ đo
lường và đánh giá tham nhũng.....
3. Thuận lợi, khó khăn
và tác động của Công ước đến Việt Nam
3.1. Những thuận lợi cơ bản
và tác động tích cực
- Những thuận lợi cơ bản
+ Việt Nam là một trong những
nước đầu tiên thực hiện sáng quyền lập pháp, với việc tham gia chủ động và đầy
đủ 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước và là một trong những quốc gia đầu tiên
ký Công ước. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và không ngừng hoàn thiện nhiều
chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật quan trọng về phòng, chống tham
nhũng tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho việc hình thành cơ chế phòng, chống tham
nhũng toàn diện, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia phòng,
chống tham nhũng. Tuy Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước, nhưng những nội dung
quan trọng nhất của Công ước đã được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật của
Việt Nam, trong các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ giữa Việt
Nam với các nước. Đây là những thuận lợi cơ bản khi Việt Nam phê chuẩn Công ước.
+ Thuận lợi về cơ chế thi hành
Công ước: Hội nghị các quốc gia thành viên là cơ chế duy nhất thi hành Công ước
được tổ chức hai năm một lần. Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc
gia được quy định tại Điều 4 của Công ước, Công ước không cho phép thiết lập
bất kỳ cơ chế giám sát, thanh sát nào đối với mỗi quốc gia thành viên mà chỉ
trợ giúp và khuyến khích mỗi quốc gia chống tham nhũng vì lợi ích phát triển
của mỗi nước. Công ước đề cao tính tự nguyện trong chia sẻ thông tin và đóng
góp tài chính của các quốc gia thành viên. Nghĩa vụ trực tiếp của quốc gia
thành viên là tham dự Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước và cung cấp
thông tin về phòng, chống tham nhũng của nước mình qua các báo cáo quốc gia
hàng năm, được xây dựng theo phương thức tự đánh giá.
+ Tính chất khuyến nghị là đặc
trưng cơ bản của Công ước: Đây là nhận định quan trọng rút ra từ thực tiễn đàm
phán xây dựng Công ước và thực tiễn nghiên cứu. Tuy số lượng các quy định mang
tính bắt buộc là 135/237 quy định, nhưng về nội dung, hầu hết những quy định
này chỉ là sự khái quát những biện pháp phòng, chống tham nhũng mà các quốc gia
đã tiến hành khi chưa có Công ước, kể cả Việt Nam. Chẳng hạn như: Công ước yêu cầu
các quốc gia phải có hệ thống chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng,
có chế tài đối với hành vi tham nhũng, có cơ quan chuyên trách về phòng, chống
tham nhũng, có hành động thực tiễn phòng, chống tham nhũng, có biện pháp tăng
cường liêm chính, minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức.
+ Về việc áp dụng và thực hiện
Công ước: Quốc gia thành viên có thể không áp dụng trực tiếp các quy định của
Công ước. Để thực thi Công ước, mỗi quốc gia có thể bổ sung, sửa đổi hay xây
dựng mới các quy định pháp luật của mình trên cơ sở nguyên tắc Hiến pháp và
pháp luật của quốc gia, đồng thời, Công ước khuyến khích các quốc gia đàm phán,
ký kết các thoả thuận tương trợ tư pháp song phương hoặc đa phương sau khi phê
chuẩn Công ước (Điều 59 Công ước), trên nguyên tắc có đi có lại. Trong quan hệ
tương trợ tư pháp với nước khác, Công ước cho phép các quốc gia vận dụng các
quy định mang tính “rào cản” của Công ước để từ chối hoặc tạm hoãn thực hiện
các yêu cầu tương trợ tư pháp (Khoản 21, Điều 46 của Công ước).
- Những tác động tích cực
Sau khi phê chuẩn Công ước, việc
thực thi Công ước sẽ có những tác động tích cực như: (1) góp phần hoàn thiện
thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, đặc
biệt là lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; (2) phát huy tốt hơn quyền tham gia
và giám sát của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước và phòng, chống tham
nhũng; (3) góp phần xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch; phòng
ngừa và loại bỏ các yếu tố phát sinh tham nhũng trong bản thân doanh nghiệp và
trong mối liên hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước; (4) tiếp thu kinh
nghiệm, thông tin, tài chính của nước ngoài trong hợp tác phòng, chống tham
nhũng; (5) được thực hiện các quyền của quốc gia thành viên Công ước như quyền
yêu cầu các quốc gia thành viên khác tương trợ tư pháp.
3.2. Những khó khăn và
tác động bất lợi
- Khó khăn
+ Tuy đã đáp ứng về cơ bản yêu
cầu của Công ước nhưng pháp luật Việt Nam
và các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước còn thiếu cụ thể và
chưa đồng bộ. Quá trình đàm phán, ký kết mới hay bổ sung, sửa đổi các hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước; quá trình nghiên cứu, xây dựng
mới hay sửa đổi các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đảm
bảo lợi ích quốc gia và đảm bảo sự đồng bộ với quy định của các điều ước quốc
tế khác mà Việt Nam đã tham gia là những việc cần phải có kinh nghiệm, thời
gian, nhân lực, tài chính và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam.
+ Điều kiện vật chất, kỹ thuật và
kinh nghiệm hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam
còn hạn chế. Rào cản về ngôn ngữ, việc thiếu kỹ năng, kinh nghiệm làm việc
trong môi trường quốc tế; việc tiếp cận các thể chế chính trị và pháp lý khác
biệt sẽ là những trở ngại, thách thức đối với cán bộ, công chức của Việt Nam
khi tham gia hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng.
+ Nhận thức về Công ước và việc
thực thi Công ước trong cán bộ, công chức và trong nhân dân, nhìn chung còn bất
cập do công tác nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến về Công ước thời gian qua
còn hạn chế.
- Tác động bất lợi
Điều 1 của Công ước đã tuyên bố
mục đích chung của Công ước là thúc đẩy, tạo điều kiện, trợ giúp và khuyến
khích các quốc gia trong phòng, chống tham nhũng. Do đó, Công ước không gây bất
lợi cho bất kỳ quốc gia thành viên nào. Tuy nhiên, chủ thể của hành vi tham
nhũng chủ yếu tập trung vào khu vực công nên quá trình thực thi Công ước, các
cơ quan chức năng của Việt Nam cần chủ động áp dụng các quy định mang tính chất
“khoá an toàn” trong cơ chế thi hành và áp dụng Công ước để xử lý những tình
huống nhạy cảm, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại an ninh quốc
gia như: (1) công khai trước quốc tế báo cáo quốc gia hàng năm của Việt Nam về
phòng, chống tham nhũng; (2) chủ động tham gia các đối thoại, hội thảo, diễn
đàn về phòng, chống tham nhũng; (3) chủ động tham gia quan hệ tương trợ tư pháp
về hình sự, dẫn độ, thu hồi tài sản tham nhũng với các quốc gia thành viên Công
ước.....
4. Kiến nghị
4.1. Về thời điểm phê chuẩn
Công ước.
Thời điểm mà Việt Nam phê chuẩn
Công ước là thời điểm sớm nhất có thể trong năm 2009, lý do là: (1) Năm 2009,
Việt Nam tiếp tục là Uỷ viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc, việc phê chuẩn Công ước sẽ nâng cao uy tín chính trị và đảm bảo thế chủ
động của Việt Nam trên trường quốc tế; (2) Việt Nam đã tham gia chủ động và đầy
đủ sáng quyền lập pháp xây dựng Công ước và là một trong những quốc gia đầu
tiên ký Công ước nhưng hiện là một trong số ít quốc gia chưa phê chuẩn Công
ước; (3) mặt thuận lợi và tác động tích cực là cơ bản, đồng thời khả năng khắc
phục khó khăn của Việt Nam là thực tế trong quá trình thực thi Công ước; (4)
các cơ quan chức năng của Việt Nam đã chuẩn bị tích cực, kỹ lưỡng cho việc phê
chuẩn và thực thi Công ước từ năm 2004.
4.2. Về thẩm quyền phê chuẩn
Công ước.
Luật Ký kết, gia nhập và thực
hiện điều ước quốc tế năm 2005 đã quy định Chủ tịch nước có thẩm quyền quyết
định phê chuẩn những điều ước quốc tế có quy định phải phê chuẩn, những điều
ước quốc tế được ký nhân danh nhà nước, những điều ước quốc tế được ký nhân
danh Chính phủ có quy định trái với quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc có quy định liên quan đến
ngân sách nhà nước; Quốc hội có thẩm quyền quyết định phê chuẩn điều ước quốc
tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký với người đứng đầu Nhà nước khác; phê chuẩn
các điều ước quốc tế khác theo đề nghị của Chủ tịch nước. Kiến nghị: Chủ tịch
nước quyết định phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, lý do
là: (1) pháp luật Việt Nam đã đáp ứng các quy định mang tính bắt buộc của Công
ước; (2) xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, Công ước không
bắt buộc Việt Nam phải xây dựng mới hay sửa đổi, bổ sung bất kỳ văn bản pháp
luật cụ thể nào, việc sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới pháp luật thuộc toàn quyền
chủ động của Việt Nam với một lộ trình thích hợp trên cơ sở phù hợp với nguyên
tắc Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn của Việt Nam; (3) đảm bảo sự phê chuẩn
Công ước được thực hiện trong năm 2009 và sự linh hoạt cần thiết trong trường
hợp Việt Nam rút khỏi Công ước.
4.3. Về tuyên bố bảo lưu và
áp dụng Công ước.
- Về tuyên bố nội dung bảo
lưu của Việt Nam khi phê chuẩn Công ước, Chính phủ kiến nghị: Kế thừa nội dung
bảo lưu khi Việt Nam ký Công ước, Việt Nam cần tuyên bố bảo lưu về thủ tục giải
quyết tranh chấp quy định tại Khoản 2, Điều 66 của Công ước, vì: Quan điểm nhất
quán của Việt Nam là những tranh chấp mà Việt Nam là một bên chỉ được đưa ra
giải quyết bằng hoà giải, trọng tài hoặc toà án quốc tế trên cơ sở có sự đồng ý
của tất cả các bên tranh chấp nhằm đảm bảo quyền chủ động của Việt Nam trong
từng trường hợp giải quyết tranh chấp cụ thể. (Đây cũng là nội dung bảo lưu của
Trung Quốc, Cu Ba, Inđônêxia, Hoa Kỳ và hầu hết các quốc gia có bảo lưu quy
định này khi ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước, riêngTrung quốc chỉ bảo
lưu duy nhất quy định này).
Chính phủ cũng kiến nghị không
bảo lưu các quy định: hành vi tham nhũng trong khu vực tư; hình sự hoá hành vi
làm giàu bất hợp pháp, kỹ thuật điều tra đặc biệt, trách nhiệm hình sự của pháp
nhân, điều tra chung vì đây là những quy định mang tính tuỳ nghi hoặc khuyến
nghị của Công ước. Theo quy định của pháp luật và tập quán quốc tế, các quốc
gia không cần phải bảo lưu những quy định mang tính tuỳ nghi, khuyến nghị;
không bảo lưu các quy định về hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham
nhũng, dẫn độ vì tuy là những quy định bắt buộc nhưng pháp luật Việt Nam đã đáp
ứng.
- Về tuyên bố áp dụng Công ước.
Khi phê chuẩn Công ước, tuyên bố
của Việt Nam như sau: Chỉ thực hiện các quy định của Công ước khi quy định đó
phù hợp với nguyên tắc và pháp luật thực định của Việt Nam; chỉ thực hiện các
yêu cầu tương trợ tư pháp của quốc gia khác trên cơ sở các hiệp định tương trợ
tư pháp giữa Việt Nam với quốc gia đó trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc
gia và có đi có lại.
- Quan điểm của Việt Nam về nội dung tuyên bố bảo lưu của các nước
khác: Việt Nam chấp nhận bảo
lưu của các nước tham gia ký kết, phê chuẩn và gia nhập Công ước; lý do là: ở
thời điểm hiện tại, các bảo lưu đó không liên quan tới lợi ích của Việt Nam. Tuy nhiên,
về lâu dài, nếu Việt Nam
hợp tác tương trợ tư pháp với các nước có bảo lưu thì cần phải dựa trên các
hiệp định song phương với nước đó trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
và có đi có lại.
- Quan điểm của Việt Nam về dẫn độ
tội phạm tham nhũng.
Theo quy định của Công ước, khi
phê chuẩn Công ước, các quốc gia phải thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc
việc có coi Công ước là cơ sở pháp lý của dẫn độ hay không. Về nội dung này,
kiến nghị: Việt Nam không coi Công ước là cơ sở pháp lý của dẫn độ vì tuy pháp
luật Việt Nam đã có quy định về dẫn độ, nhưng quy định này mới được thể hiện ở
Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và một số ít hiệp định tương trợ tư pháp giữa
Việt Nam với các nước. Vì vậy, Việt Nam cần tuyên bố với Liên hợp quốc như sau:
(1) thực hiện dẫn độ trên cơ sở các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã
ký với các nước khác có nội dung dẫn độ; (2) dẫn độ trên cơ sở nguyên tắc và
quy định của pháp luật Việt Nam; (3) không dẫn độ công dân Việt Nam cho nước
ngoài; (4) hợp tác quốc tế về dẫn độ theo nguyên tắc có đi có lại.
4.4. Về việc nội luật hoá.
Công ước không bắt buộc quốc gia
thành viên phải sửa đổi hay xây dựng mới bất kỳ quy định pháp luật cụ thể nào
sau khi phê chuẩn Công ước, nếu việc đó gây bất lợi cho quốc gia thành viên.
Quá trình nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện đã đáp ứng các quy định
của Công ước, nhất là đáp ứng các quy định mang tính bắt buộc. Do đó, vấn đề
bắt buộc phải sửa đổi hay xây dựng mới các quy định pháp luật cụ thể để thi
hành Công ước là không đặt ra với Việt Nam. Tuy nhiên, Chính phủ kiến
nghị: bổ sung, hoàn thiện thể chế theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị số
48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII. Việc nội luật hoá được thực hiện theo Kế
hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 mà Bộ
Chính trị đã cho ý kiến.
4.5. Về kế hoạch tổ chức thực
hiện Công ước.
Phù hợp với thực tiễn Việt Nam và
theo một lộ trình thích hợp, trong phạm vi trách nhiệm được pháp luật quy định,
Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao xây dựng đề án, kế hoạch và hướng dẫn
áp dụng Công ước trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam, ưu tiên ký kết và
áp dụng các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước về phòng,
chống tham nhũng, đồng thời, cụ thể hoá các văn bản pháp luật hiện hành để thực
hiện được các quy định của Công ước mà Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản; các cơ
quan, tổ chức hữu quan chủ động đưa nội dung của Công ước vào chương trình, kế
hoạch hoạt động của mình gắn với nội dung của Chiến lược quốc gia về phòng,
chống tham nhũng đến năm 2020.
Theo quy định của Công ước, khi
phê chuẩn Công ước, mỗi quốc gia phải thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc
tên cơ quan trung ương làm đầu mối quốc gia trong quan hệ quốc tế về phòng,
chống tham nhũng. Căn cứ pháp luật hiện hành và căn cứ vào thực tiễn quản lý
nhà nước về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, Chính phủ kiến nghị: chỉ định
Thanh tra Chính phủ là cơ quan làm đầu mối quốc gia và hỗ trợ thông tin với
quốc tế trong phòng, chống tham nhũng.
Cũng
theo quy định của Công ước, khi phê chuẩn Công ước, quốc gia thành viên phải
chỉ định cơ quan trung ương có trách nhiệm và quyền hạn tiếp nhận các yêu cầu
về tương trợ tư pháp của nước ngoài. Kiến nghị: chỉ định Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận và thực hiện các yêu
cầu về tương trợ tư pháp theo quy định tại Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
Ths.
Nguyễn Quốc Văn - Phó Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế, Thanh tra Chính phủ