Copyright-Bản quyền tác giả.
Bạn lang thang trên phố, mua 1 vài đĩa nhạc sẽ có nhan nhản từ Tây, Tàu rồi Ta….Chẳng có bản quyền. Vào một cửa hàng vi tính mua vài đĩa chương trình, họ sẽ đem cho ta rất nhiều loại từ lập trình C++, Pascal… hay hệ điều hành Window từ version cũ thậm chí Vista …. đến các bộ công cụ văn phòng như Ms Office, hay liên quan đến Multimedia như Winamp, JetAudio… Và còn có rất nhiều những sản phẩm khác được bán mà không được bảo hộ.
Theo các thống kê không chính thức thì việc vi phạm nhãn hiệu hàng hoá và bản
quyền tác giả ở châu Á chiếm tỷ lệ rất cao thậm chí ngay trong lòng châu
Âu và nước Mỹ nơi mà Luật bản quyền tác giả được thực thi rất nghiêm khắc. cũng
đạt nức trên dưới 10%. Ở châu Á nói chung thì đều cao ở mức trên 30%, Trung
Quốc sau khi tham gia WTO, thực hiện cam kết về bản quyền tác giả cũng có tỷ lệ
lên đến 40%; Còn Việt nam thì ở mức 70%.....
Tham gia vào quá trình quốc tế hoá thì phải tuân thủ theo Luật bản quyền tác
giả, vì khi đó “tác giả chính thức” sẽ có quyền khiếu kiện và với đầy đủ chứng
cớ sẽ dẫn đến những rắc rối pháp lý.
Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh: copyright) là độc quyền của một tác
giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo
tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) thí dụ như các
bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp,
phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân
và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này. Một phần
người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt
việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái
niệm này đang được tranh cãi gay gắt. Quyền tác giả không cần phải đăng ký và
thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một
phương tiện lưu trữ. Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo
này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất
duy nhất.
Quyền tác giả được quy định khác nhau trong các nước trên thế giới.
Lịch sử phát triển của quyền tác giả
Trong Thời kỳ Cổ đại và Thời kỳ Trung Cổ người ta chưa biết đến quyền cho
một tác phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp chỉ có cho những vật mang tác phẩm
trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu. Thí dụ như là không được phép trộm cắp một
quyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó. Việc nhiều nghệ sĩ và
tác giả cùng làm việc trong một đề tài là một trường hợp bình thường, cũng như
việc các nhạc sĩ khác lấy hay thay đổi các bài hát và tác phẩm âm nhạc. Khi
không muốn bài viết bị thay đổi tác giả chỉ còn có cách gắn một lời nguyền rủa
vào quyển sách của mình như Eike von Repgow, tác giả của Sachsenspiegel, một
quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa những người giả
mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi.
Cùng với phát minh in (khoảng 1440), các bản sao chép lại của một tác phẩm
bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng tác giả
vẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng là
chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền
cho bản viết tay. Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà in
khác in lại. Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên khó khăn đi vì
người này đã đầu tư lao động nhiều hơn và có thể cũng đã trả tiền cho tác giả,
những người in lại tự nhiên là có thể mời chào sản phẩm của họ rẻ tiền hơn. Tác
giả cũng có thể không bằng lòng với các bản in lại vì những bản in lại này
thường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí bài viết còn bị cố ý
sửa đổi.
Vì thế, để chống lại tệ in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ
phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định.
Lợi ích của nhà in trùng với lợi ích của nhà cầm quyền vì những người này muốn
có ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hành trong lãnh địa của họ. Đặc biệt
là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớm nên đã thực hiện được điều này, ít
thành công hơn là ở Đức. Tại Đức một số hầu tước còn cố tình không quan tâm đến
việc các nhà xuất bản vi phạm các đặc quyền từ hoàng đế nhằm để giúp đỡ các nhà
xuất bản này về kinh tế và để mang vào lãnh thổ văn học đang được ưa chuộng một
cách rẻ tiền. Những ý tưởng của Phong trào Khai sáng phần lớn là đã được truyền
bá bằng các bản in lậu.
Khi Thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và
đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác
phẩm của họ. Tại nước Đức thí dụ như là Albrecht Dürer (1511) đã được công nhận
một đặc quyền như vậy. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như là
một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. Giữa
thế kỷ 16 các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất
định trong một thời gian nhất định.
Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng
với việc này họ có được một độc quyền kinh doanh (thuyết về sở hữu của nhà xuất
bản), ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này. Vì thế mà việc in lại
bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại.
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sở
hữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất). Trong một
bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần đầu tiên một độc quyền sao
chép của tác giả được công nhận. Tác giả sau đó nhượng quyền này lại cho nhà
xuất bản. Sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các quyền lại thuộc về
tác giả. Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của nghiệp hội các nhà xuất
bản và phải có thêm ghi chú copyright để được bảo vệ. Phương pháp này được đưa
vào ứng dụng tại Mỹ vào năm 1795 (yêu cầu phải ghi vào danh mục được bãi bỏ tại
Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳ vào năm 1978). Ý tưởng về sở hữu trí tuệ phần
lớn được giải thích bằng thuyết về quyền tự nhiên (tiếng Anh: natural law). Tại
Pháp một Propriété littéraire et artistique (Sở hữu văn học và nghệ thuật) được
đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793. Tại nước Phổ một bảo vệ tương tự
cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837 Hội đồng liên bang của Liên
minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn
này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời (post mortem auctoris)
vào năm 1845. Trong Liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào
năm 1857 và được Đế chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó. Trong Đệ tam
Đế chế các tác giả chỉ là "người được ủy thác trông nom tác phẩm" cho
cộng đồng nhân dân.
Quyền tác giả tại Anh, Mỹ
Copyright là tên gọi của những vùng nói tiếng Anh (Anglo-America) cho quyền
phi vật chất về các tác phẩm trí tuệ. Quyền này tương tự như quyền tác giả ở Đức
nói riêng và châu Âu lục địa nói chung nhưng khác nhau ở nhiều điểm cơ bản.
Ngay cách tiếp cận đã khác nhau: Trong khi quyền tác giả đặt tác giả như là
người sáng tạo và các quan hệ tinh thần của tác giả đối với tác phẩm làm trung
tâm thì Copyright nhấn mạnh đến phương diện kinh tế. Copyright trước nhất là
dùng để bảo vệ các đầu tư về kinh tế. Chính từ nền tảng này mà luật của các
vùng nói tiếng Anh và luật của châu Âu lục địa đã đi đến kết quả khác nhau cho
nhiều vấn đề về luật pháp.
Trong Copyright của hệ thống luật lệ những vùng tiếng Anh, trái ngược với luật
về quyền tác giả của châu Âu lục địa, các quyền sử dụng và quyết định về một
tác phẩm thường không dành cho tác giả (thí dụ cho một nghệ sĩ) mà lại dành cho
những người khai thác các quyền này về mặt kinh tế (thí dụ như nhà xuất bản).
Tác giả chỉ giữ lại các quyền phủ quyết có giới hạn nhằm để ngăn cản việc lạm
dụng của Copyright từ phía những người khác thác các quyền này.
Cho đến những năn gần đây Copyright tại Mỹ vẫn phải đăng ký một cách rõ ràng
và chấm dứt 75 năm sau khi được ghi vào trong danh mục Copyright trung tâm.
Hiện nay các tác phẩm mới tại Mỹ được bảo vệ cho đến 70 năm sau khi tác giả qua
đời hay 95 năm dành cho các doanh nghiệp. Việc đăng ký Copyright tại "Library
of Congress" không còn là cần thiết bắt buộc nữa nhưng vẫn được khuyên nhủ.
Ghi chú Copyright – ký hiệu © hay (c) – sau đó thường là người sở hữu quyền
và năm, hay cũng được gọi là thông báo quyền tác giả có nguồn gốc từ luật Mỹ.
Lý do là theo các luật lệ cũ của Mỹ thì có thể mất các quyền về một tác phẩm
nếu như không có ghi chú Copyright. Sau khi Mỹ gia nhập Công ước Bern về bảo hộ
các tác phẩm văn học và nghệ thuật vào năm 1989 thì ghi chú Copyright không cần
thiết nữa nhưng vẫn có thể được đính kèm tùy theo ý muốn. Trong luật Đức quyền
tác giả tự động có cùng với việc sáng tạo ra một tác phẩm.
Quyền tác giả tại Liên minh Châu Âu
Liên minh châu Âu đã đưa ra nhiều chỉ thị để thống nhất quyền tác giả trong toàn
Liên minh châu Âu. Theo Chỉ thị phần mềm (91/259/EWG) ra đời vào năm 1991 thì
các chương trình máy tính được bảo vệ như là các tác phẩm văn học theo ý nghĩa
về quyền tác giả. Trong năm 1993, thông qua Chỉ thị về hòa hợp thời gian bảo vệ
quyền tác giả và một số quyền bảo vệ có liên quan (còn gọi là Chỉ thị về thời
gian bảo vệ), thời gian bảo vệ của các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ấn
định thống nhất là cho đến 70 năm sau khi tác giả qua đời. Các quyền lợi của
những nhà nghệ thuật biểu diễn chấm dứt 50 năm sau khi biểu diễn.
Với Chỉ thị quyền tác giả của Liên minh châu Âu (Chỉ thị 2001/29/EG) các quy
định luật pháp châu Âu về quyền tác giả được nâng lên cùng với thời đại số và
các định ước quốc tế được thực hiện thông qua các hiệp định của Tổ chức Sở hữu
trí tuệ thế giới (WIPO).
Quyền tác giả tại Việt Nam
Quyền tác giả tại Việt Nam
đã được ghi trong Luật dân sự Việt Nam (các điều từ 745 đến 779) và
hiện đang được áp dụng. Trong đó, theo điều 760 thì được phép sử dụng các tác
phẩm nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng không nhằm mục đích
kinh doanh và không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm,
không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả.
Phong trào chống đối
Bên cạnh những người tiêu dùng vì đã quen thuộc với các vi phạm về quyền tác
giả trong các nơi trao đổi âm nhạc trong Internet nên đang tự nhận thấy bị hạn
chế các quyền tự do bởi luật pháp ngày càng nghiêm ngặt hơn cũng có những tác
giả mong muốn đưa các tác phẩm của họ cho cộng đồng sử dụng tự do.
Để thực hiện điều này đơn giản nhất là từ bỏ quyền tác giả. Nhưng điều này
không phải là trong bất cứ một hệ thống luật pháp nào cũng có thể được và vẫn
tiếp tục dẫn đến tình trạng là các phiên bản được cải biến không phải là tự
động được tự do sử dụng vì tác giả của những sửa đổi này không bắt buộc phải từ
bỏ quyền tác giả của họ. Một khả năng để tránh tình trạng này là không từ bỏ
quyền tác giả mà thông qua một hợp đồng bản quyền công nhận các quyền sử dụng đơn
giản cho tất cả mọi người. Trong đó, các cái gọi là bản quyền copyleft yêu cầu
các phiên bản được biến đổi chỉ được phép phổ biến theo cùng các điều kiện tự
do.
Đặc biệt đáng được nêu ra trong phạm vi phần mềm tự do là các bản quyền của
dự án GNU, thí dụ như các bản quyền GPL cho các chương trình máy tính và GFDL
cho sách giáo khoa và các quyển hướng dẫn. Dự án Creative Commons đưa ra những bản
quyền khác được cho là phù hợp tốt hơn với các nhu cầu đặc biệt của nghệ sĩ,
đặc biệt là những bản quyền này không bị giới hạn trong một loại tác phẩm nhất
định nào. Một mặt đó là những bản quyền nội dung mở (open-content) bảo đảm các
quyền tự do tương tự như các bản quyền của phần mềm tự do và về mặt khác là
những bản quyền có nhiều hạn chế hơn.
Kết luận: Quyền tác giả là quyền đáng được trân trọng. Tuy nhiên tồn tại các
khuynh hướng khác nhau trong quản lý bản quyền tác giả là việc đương nhiên.
Chẳng hạn Nhà nước Việt nam đang lựa chọn trong việc áp dụng mã nguồn đóng hay
mã nguồn mở.
Tuy nhiên với tư cách cá nhân, tôi vẫn biết làm thế nào để không mất tiền
khi sử dụng “những thứ đó". Xem điều 760.
(Tổng hợp)
Theo saga.vn