Cuộc chơi WTO: Cách đặt vấn đề của J. E. Stiglitz - Trần Hải Hạc (Đại học Paris XIII)
Sau một quá trình đàm phán kéo dài 11 năm, Việt Nam đã trở nên thành viên Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation [WTO]) từ đầu năm nay. Vấn đề bây giờ của Việt Nam, theo dư luận phổ biến hiện nay ở trong nước, là thực thi các cam kết đã thoả thuận, tôn trọng các luật chơi mà ta đã công nhận: thoả thuận này được xem là cân đối, các luật chơi của WTO là bình đẳng.
Theo cách đặt vấn đề này, các
chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề còn lại là “đưa đất nước bay lên từ đường
băng WTO”.[1]
Đường băng này bằng phẳng, và Việt Nam có cất cánh hay không là do
năng lực của bản thân, trước tiến là năng lực cải cách toàn diện: nó tuỳ thuộc
vào “những yếu tố nội tại” mà “tư cách thành viên WTO không tạo nên”.[2]
Theo phát biểu của một chuyên gia: “Thắng, thua trước hết tại mình chứ không
phải tại WTO, vì cho đến nay chưa có nước nào vì vào WTO mà khánh tận, phá sản
và cũng chưa nước thành viên nào nạp đơn xin rút lui khỏi tổ chức này”.[3]
Cũng có
một cách khác để tiếp cận vấn đề, đi từ mặt trái của WTO và cũng là bộ mặt thật
của nó, mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không nêu lên hay tránh không muốn
nếu ra, chí ít trong thời kỳ đàm phán vào WTO, vì nhiều lý do: có thể do yêu
cầu đấu tranh tư tưởng với quan điểm chống gia nhập WTO trong nội bộ của đảng;
cũng có thể do yêu cầu tranh thủ ngoại giao những cường quốc tư bản chủ nghĩa
có tiếng nói quyết định trong việc kết nạp. Bộ mặt này của WTO được nhà kinh tế
Mỹ Joseph Stiglitz vạch ra thẳng thừng trong hai tác phẩm mới đây của ông: Fair
trade for all. How trade can promote development, viết cùng với Andrew
Charlton [2005], và Making globalization work [2006].[4]
Trong kinh
tế học hiện đại, J. Stiglitz được biết đến như là người thầy của kinh tế học vi
mô mới (mà đặc tính là từ bỏ giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo), và
đóng góp của ông cho thuyết về thông tin đã được thưởng giải Nobel kinh tế học
(cùng với George Akerlof và Michael Spence) năm 2001. Stiglitz thuộc trường
phái Keynes mới, chủ trương xác lập cơ sở vi mô của những mất cân bằng vĩ mô
(như thất nghiệp không tự nguyện của Keynes): đối phó với tính bất trắc và
thông tin phi cân xứng, các tác nhân kinh tế có lối ứng xử “cứng nhắc”, họ chỉ
tham gia các thị trường (lao động, tín dụng, đất đai) có những chuẩn tắc mà họ
thương lượng và được nhà nước thể chế hoá. Nói về bàn tay vô hình điều tiết thị
trường của Adam Smith, ông cho rằng: “Đúng là vô hình, bởi vì nó không có. Thị
trường không hề tự điều tiết”.[5]
Ngoài
trường đại học, Stiglitz được tín nhiệm làm chủ tịch của Hội đồng các tư vấn
kinh tế (Council of Economic Advisers) của tổng thống Clinton các năm
1993-1997, rồi làm kinh tế gia trưởng và phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (World
Bank [WB]) các năm 1997-2000. Ở cương vị này, Stiglitz không những công kích
quan điểm chính thống của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund
[IMF]), ông còn gây cuộc tranh cãi trong nội bộ WB giữa phe “tân cổ diển” và
phe “xét lại” mà ông là đại biểu, và cuối cùng ông đã phải từ chức ra đi. Tác
phẩm Globalization and its discontents [2002] tố cáo “sự cuồng tín của
chủ nghĩa tự do” đang chế ngự các định chế tài chính quốc tế: “WB, IMF, WTO đầy
dẫy những chuyên gia giáo điều và tự phụ, những bonsevic của thị trường, đã
chồng chất bao nhiều điều phi lý và tổn hại ở các nước nghèo. Không có gì phải
ngạc nhiên nếu sự nổi giận đang dâng lên từ các nước này”.[6]
Tuy hợp tác thường xuyên và tán thành nhiều
phân tích của phong trào toàn cầu hoá “theo kiểu khác” (altermondialisme),
Stiglitz xác định lập trường riêng biệt của ông, một thứ “con đường thứ ba” bắt
nguồn từ nhận thức tính khiếm khuyết của thị trường và vai trò cần thiết của
nhà nước.[7]
Đối với WTO, ông từ khước hai thái độ đối lập: một bên là thái độ chính thống
tân cổ điển cho rằng cuộc chơi WTO căn cứ trên lợi thế so sánh, cho nên ai cũng
đều có lợi, “không có nước thua cuộc”; bên kia là thái độ phê phán, phủ nhận
WTO của một số tổ chức phi chính phủ chủ trương toàn cầu hoá theo kiểu
khác, như Focus on global south với quan điểm “Một thế giới không
có WTO” – đứng đầu tổ chức này, nhà xã hội học
Philippin W. Bello có đến Việt Nam ba lần để cảnh báo ta không nên tham gia
cuộc chơi WTO nếu không muốn thua thiệt.[8]
Stiglitz không phủ nhận chủ nghĩa tư bản mà chỉ phê phán hình thái tân tự do
hiện tại của nó, và ông chủ trương đấu tranh cải cách WTO “theo kiểu khác”.[9]
Chấp nhận “giả thuyết” về mối liên hệ tích cực giữa mậu dịch và phát triển
trong những điều kiện nhất định [Stiglitz 2005, tr. 30-31], ông cho rằng toàn
cầu hoá là một cơ may cho các nước kém phát triển, nếu nó được cai quản trong
một khung định chế quốc tế dân chủ. Ông chủ trương thiết kế “một chế độ mậu
dịch quốc tế hướng đến lợi ích của các nước nghèo mà vẫn có hiệu ứng tổng thể
tích cực cho các nước công nghiệp tiên tiến –
một số lợi ích riêng ở các nước này, tất nhiên, có thể bị thiệt thòi” [Stiglitz
2006, tr. 129].
Đối với một nước nghèo đã chọn đứng ở trong
WTO, như Viêt Nam, chú trọng cách đặt vấn đề của Stiglitz – người bạn của Việt
Nam, đã bốn lần đến nước ta – ắt là điều hữu ích
và cần thiết. Bài thuyết trình sẽ giới thiệu và triển khai một số quan
điểm của Stiglitz khi ông: xem xét lịch sử WTO (I); xác định hệ tư tưởng WTO
(II); đánh giá sân chơi và luật chơi WTO (III).
I. Lịch sử WTO
Trả lời
những người phê phán nó, WTO thường đáp lại rằng chế độ đàm phán đa phương ở
WTO là dân chủ nhất, bởi cách thức quyết định không theo nguyên tác đa số mà
dựa trên nguyên tắc đồng thuận. Thay vì thiểu số phải phục tùng đa số thì “mỗi
nước phải được thuyết phục để đồng ý” – nếu cần, nước chưa đồng ý phải
nhận được thêm một lợi ích nào đó để đổi lấy sự chấp thuận của nó. Như vậy,
đồng thuận có nghĩa là “tất cả các nước đều chầp nhận quyết định, không có
bất cứ sự phản đối nào”, bởi vì ai cũng đều có lợi.[10]
Đó là hình thức bề ngoài. Trên thực tế, lịch sử
các hiệp định mậu dịch quốc tế trong WTO và tiền thân của nó – Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariff and Trade
[GATT]) – nói lên tương quan sức mạnh hơn là lợi ích so sánh của các nước. Nó
biểu hiện thế bá quyền của các nước phát triển, và vai trò chi phối của “Bộ tứ”
(Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu, Nhật Bản,
Canada).[11]
Stiglitz vạch rõ “thái độ hai mặt” của các nước phát triển hô hào tự do trao
đổi: “Họ đàm phán bãi bỏ trợ cấp và giảm thuế quan trên những sản phẩm mà họ có
lợi thế so sánh, nhưng ngại ngừng mở cửa thị trường và từ bỏ trợ cấp trong
những lĩnh vực mà lợi thế so sánh thuộc về các nước đang phát triển. Kết quả là
chế độ mậu dịch quốc tế hiện nay bất lợi về nhiều mặt đối với các nước đang
phát triển” [Stiglitz 2005, tr. 41].
Thành hình năm 1947, GATT đã tập trung cắt giảm
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng công nghiệp mà ưu thế cạnh
tranh thuộc về các nước phát triển. Còn các mặt hàng quan trọng đối với các
nước đang phát triển, như nông sản hay hàng dệt may, thì bị đẩy ra ngoài đàm
phán. Riêng về hàng dệt may, các nước phát triển đã bắt tay nhau để áp đặt thô
bạo Thoả thuận về thương mại quốc tế đối với hàng dệt may bằng bông năm 1961,
rồi Thoả thuận đa sợi (Multi-Fibre Arrangement [MFA]) năm 1973 là những văn bản
công khai vi phạm luật chơi không phân biệt đối xử – nguyên tắc nền tảng của
GATT (họ gọi đó là những “ngoại lệ”). Các “thoả thuận” này cho phép Hoa Kỳ và
Liên hiệp châu Âu hạn chế định lượng nhập khẩu hàng dệt may bằng chế độ hạn
ngạch, mục đích là ngăn chận hàng xuất khẩu đến từ châu Á – khởi đầu là từ các
“nước công nghiệp hoá mới” (new industrial countries) – Hàn Quốc Đài Loan, Hồng
Kông –, sau đó là từ các “nước đang lên” (emerging countries) – Trung Quốc và
ASEAN.[12]
Vào giữa các năm 80, khi lợi thế so sánh bắt
đầu thay đổi trong hoạt động công nghiệp, các nước phát triển chuyển ưu thế
canh tranh sang các ngành dịch vụ, các sản phẩm công nghệ cao và đầu tư ra nước
ngoài. Tại vòng đàm phán Uruguay
(1986-1994) chấm dứt GATT và sáng lập WTO, Bộ tứ đề nghị với các nước đang phát
triển “một cuộc mặc cả lớn”. Các nước phát triển cam kết sẽ đưa hàng nông
nghiệp vào đàm phán của WTO (Hiệp định về nông nghiệp (Agreement on Agriculture
[AoA]) và bãi bỏ hoàn toàn chế độ hạn ngạch hàng dệt may vào năm 2005 (Hiệp
định về hàng dệt và may mặc (Agreement on Textiles and Clothing [ATC]). Phía
các nước đang phát triển cam kết mở cửa thị trường dịch vụ (Hiệp định chung về
thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (General Agreement on Trade in Services
[GATS]), chấp nhận chế độ về quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định về quyền sở hữu
trí tuệ liên quan đến thương mại (Agreement on Trade-Related Aspects of
Intellectual Property Rights [TRIPs]) và không phân biệt đối xử với đầu tư nước
ngoài (Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on
Trade-Related Investment Measures[TRIMs]).
WTO ra đời năm 1995 trong sự hồ hởi của chủ
nghĩa tự do kinh tế toàn thắng, song tác động của nó không như các nước đang
phát triển trông chờ. Họ cảm nhận rằng các hiệp định làm nền tảng cho WTO không
hề cân đối: trong tổng lợi ích mà vòng Uruguay ước tính mang lại hàng năm cho
toàn cầu, thế giới đang phát triển – quy tu 85%
dân số – hưởng được không đến một phần ba; cái
“được” này lại tập trung vào số ít nước xuất khẩu quan trọng trong khi nhiều
nước khác chịu tổn thất, mất mát.[13]
Tương quan mậu dịch quốc tế ngày càng thêm bất bình đẳng: thế giới phía Bắc thu
trên hàng hoá nhập từ các nước phía Nam một mức thuế quan bình quân cao gấp bốn
lần so với hàng hoá thuộc các nước phía Bắc;[14]
và tổng viện trợ phát triển của phía Bắc chỉ bù đắp một phần ba thiệt thòi đó
của phía Nam [Stiglitz 2006, tr. 124-125].
Đối với vấn đề mà các nước đang phát triển bức
xúc nhất, là hồ sơ nông nghiệp, Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu lờ đi các cam kết:
họ khư khư duy trì chế độ trợ cấp nông nghiệp (khoảng 300 tỷ USD/năm) và tiếp
tục cạnh tranh bất chính với các nước đang phát triển: do được trợ cấp, giá
nông sản do Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu xuất khẩu ở dưới mức giá sản xuất của
những nước đang phát triển. Tại hội nghị WTO đầu tiên họp tại Singapore năm
1996, Bộ tứ lại lái chưong trình nghị sự vào những vấn đề không hề là trọng tâm
của các nước phía Nam: đầu tư quốc tế, chính sách cạnh tranh, chế độ mua sắm
của công, điều kiện làm cho thương mại dễ dàng (gọi là “những vấn đề
Singapore”). Năm năm sau khi vòng Uruguay
kết thúc, thế giới phía Nam
nhận thức rõ rằng nó bị đánh lừa trong “cuộc mặc cả lớn”. Hội nghị Seattle năm
1999 đánh dấu một bước ngoặt: lần đầu tiên, các nước đang phát triển đã đương
đầu với các nước phát triển và bác bỏ đề xuất của Bộ tứ mở ra một vòng đàm phán
mới về tự do hoá thương mại (mang tên vòng Thiên niên kỷ). Trong khi đó, bên
ngoài hội nghị, các tổ chức của xã hội dân sự thế giới xuống đường biểu tình ồ
ạt, phản kháng WTO.
Với chuyển biến trong tương quan sức mạnh, từ
nay, Bộ tứ phải thuyết phục các nước đang phát triển bằng cách quan niệm lại
vòng đàm phán WTO: trọng tâm phải đặt vào phát triển, tự do hoá thương mại chỉ
là một phương tiện. Thông qua tại hội nghị Doha năm 2001, tuyên bố khai mạc của
vòng đàm phán “về phát triển” xác định “đặt nhu cầu và lợi ích của các nước
đang phát triển vào trung tâm chương trình làm việc”, và “thương mại quốc tế có
thể giữ vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế và giảm bớt đói
nghèo”.[15]
Dù đặt chữ ký dưới bản tuyên bố này, nhiều nước phía Nam tỏ ra hoài nghi lời hứa của
phía Bắc, và họ đã có lý. Một lần nữa, các nước phát triển nuốt lời cam kết của
họ, trước tiên trong hồ sơ nông nghiệp. Năm 2002, Hoa Kỳ ra đạo luật tăng trợ
cấp cho nông nghiệp lên gấp đôi. Đưa ra ra cùng năm đó, cuộc cải cách chính
sách nông nghiệp chung của Liên hiệp châu Âu hoá ra chỉ là thay đổi hình thái,
màu mè của những trợ cấp trước đây (chuyển trợ cấp nông sản thành trợ cấp nông
dân).
Hội nghị Cancun năm 2003 chứng kiến phía Bắc từ
chối nhân nhượng trên các hồ sơ mà các nước đang phát triển yêu cầu, mà lại đòi
hỏi họ phải giảm thuế quan và mở cửa thị trường của một số hàng công nghiệp và
dịch vụ; nó còn muốn áp đặt thêm những vấn đề Singapore. Từ “phát triển” đặt tên cho
vòng đàm phán chỉ là bánh vẽ. Phản ứng của phía Nam: nó hình thành một mặt trận
kết hợp các nhóm G 20, G 33 và G 90, mà lợi ích không nhất thiết trùng hợp, và
lần đầu tiền các nước đang phát triển có được tiếng nói thống nhất trong cuộc
đối đầu với các nước phát triển.[16]
Lập trường chung của các nước phía Nam: từ chối giảm thuế quan và mở cửa những
thị trường hàng công nghiệp và dịch vụ, ngày nào mà Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu
chưa từ bỏ chính sách phá giá hàng nông nghiệp và chưa mở cửa thị trường nông
sản của họ. Liên minh của các nước đang phát triển, thực hiện ở Cancun, có ý nghĩa lịch sử, bởi nó chấm dứt thế bá chủ
của Bộ tứ trong WTO. Một thời kỳ dài, hơn nửa thế kỷ, đã kết thúc – thời kỳ mà các nước phát triển, liên minh với nhau,
có thể áp đặt lên phần còn lại của thế giới những thoả thuận về mậu dịch quốc
tế.[17]
Tại hội nghị WTO tiếp theo, họp tại Hồng Kông
năm 2005, cuộc giằng co Bắc-Nam kéo dài, làm tê liệt mọi cuộc thương lượng, cho
dù các nước phát triển rút hầu hết những vấn đề Singapore ra khỏi chương trình
nghị sự. Quan điển của của các nước phía Nam là “thà không có thoả thuận, còn
hơn là một thoả thuận tồi tệ”. Theo lịch trình dự kiến, vòng Doha sẽ kết thúc tại hội nghị WTO tháng 12
năm nay. Cuộc bầu cử cận kề của tổng thống Hoa Kỳ, cũng như lập trường của nước
Pháp quyết bảo vệ đến cùng chính sách nông nghiệp chung của Liên hiệp châu Âu,
khiến cho các nhà quan sát tiên đoán là sẽ không có gì động đậy từ đây đến cuối
năm. Sau cái chết trong trứng nước của vòng Thiên niên kỷ, cái thảm bại được
báo trước của vòng Doha đưa WTO vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, đặt lại vấn
đề “tính chính đáng” và sự tồn tại của nó, chí ít dưới hình thái hiện nay.[18]
Đối với Stiglitz, thế giới cần có một WTO theo kiểu khác để trả lời thách thức
chân chính của vòng Doha:
tổ chức thương mại thế giới như thế nào để nó phục vụ mục tiêu phát triển của
các nước nghèo, chứ không phải chỉ là sân chơi ưu đãi các nước giàu.[19]
II. Hệ tư tưởng WTO
Với chức năng làm diễn đàn đàm phán các vấn đề
thương mại đa phương, WTO thường nhấn mạnh rằng nó không dựa vào một chủ thuyết
nào, cho dù là tự do hay bảo hộ mậu dịch. Trái với cái người ta có thể nghĩ,
văn bản của hiệp định sáng lập WTO không có điều nào quy chiếu vào chủ thuyết
tự do trao đổi cả. Ngược lại, có thể nhận định rằng quan niệm tổ chức thương
mai đa phương, từ GATT cho đến WTO, khá xa lạ với tư tưởng cổ điển và tân cổ
điển về mậu dịch quốc tế, và tương đối gần với tư tưởng Keynes, thậm chí với tư
tưởng trọng thương (mercantilism).[20]
Trước
tiên, cho rằng lợi ích của một nước tham gia ngoại thương là phát triển xuất
khẩu, và hạn chế hàng nhập khẩu từ những nước cạnh tranh bất chính, là một cách
đặt vấn đề thuần tuý trọng thương. Bởi, theo thuyết cổ điển và tân cổ điển
thuần tuý, lợi ích của một nước xúc tiến tự do trao đổi không ở chỗ xuất khẩu
mà ở chỗ nhập khẩu: đó là lợi ích mà ta có được khi mua một mặt hàng nước ngoài
có giá thấp hơn món hàng đó nếu ta sản xuất nó ở trong nước. Cho nên, khác với
tinh thần đàm phán của GATT và WTO, chủ thuyết chính thống về tự do trao đổi
không hề đặt vấn đề có đi, có lại hay trả đũa nước đối tác khi nó bảo hộ thị
trường của nó. Một nước bao giờ cũng có lợi khi quyết định loại bỏ hàng rào
thuế quan và phi thuế quan của nó, bất luận các nước khác chọn lựa làm gì. Tinh
thần của tự do trao đổi, đúng ra, là “tự do trao đổi đơn phương”.[21]
Mặt khác,
theo thuyết cổ điển và tân cổ điển, tự do trao đổi –
ở cấp độ một nước cũng như ở cấp độ thế giới –
không cần một cơ chế tập trung có chủ đích điều tiết nó, bởi vì bản thân thị
trường có khả năng tự điều tiết. Còn cho rằng hệ thống mậu dịch thế giới phải
được tổ chức với những quy tắc đa phưong được định chế hoá là một quan niệm bắt
nguồn từ chủ thuyết Keynes. Cũng cần nhắc rằng đề án đầu tiên tổ chức hệ thống
thượng mại quốc tế là sáng kiến của Keynes năm 1942. Về sau, một phần kế hoạch
của ông về Tổ chức thương mại quốc tế (International Trade Organisation [ITO]) – gắn liền ban đầu với dự án ngân hàng trung ương thế
giới, phát hành tiền tệ quốc tế bancor (International Clearing Union) – được tiến hành trong khuôn khổ của Liên hiệp quốc và
đưa đến ký kết Hiệp ước La Havana 1948: Thượng viện Hoa Kỳ không phê chuẩn nó,
cho nên chỉ có chương 4 của hiệp ước này được đưa vào thực hiện dưới tên GATT,
mà WTO là tổ chức thừa kế.[22]
Song giữa
đề án ITO và WTO khoảng cách khá xa vời.[23]
So với thời kỳ thế chiến thứ hai kết thúc, cục diện thế giới vào đầu những năm
90 đã thay đổi hoàn toàn: Liên Xô và hệ thống mang tên “xã hội chủ nghĩa” biến
mất, chủ nghĩa tư bản toàn thắng, thế giới song cực không còn, các nước gọi là
“thế giới thứ ba” phải một mình đối đầu với các nước tư bản phát triển. Trong
những điều kiện đó, các nước này đã áp đặt quan điểm “tân tự do”, mà biểu tượng
là Đồng thuận Washington
(giữa ba định chế: Bộ tài chính Hoa Kỳ, IFM, WB). Biểu hiện điển hình ở WTO là
những hiệp định TRIPs về thương mại hoá quyền sở hữu trí tuệ và GATS về thương
mại hoá dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ công (giáo dục, ý tế, điện,
nước, bưu điện, đường sắt...). Và tuy không hề khớp với quan niệm và thực tiễn
của WTO, hệ tư tưởng tự do trao đổi chế ngự các vòng đàm phán từ đó.
Stiglitz
cho rằng những người cổ vũ cho tự do trao đổi, ở WTO và các định chế quốc tế
khác, vận dụng thổ thiển một kết luận của học thuyết cổ điển và tân cổ điển về
mậu dịch quốc tế, theo đó “tự do hoá thương mại mang phúc lợi đến cho mọi
nước”. Điều mà họ lờ đi là kết luận này của Ricardo trong thuyết về lợi thế so
sánh, được công thức hoá sau đó vơí mô hình Hecksher - Ohlin - Samuelson, tuỳ
thuộc vào nhiều giả định, trong đó Stiglitz nhấn mạnh đến giả thuyết về thị
trường cạnh tranh hoàn hảo, mà đặc điểm là không có thất nghiệp và không có bất
trắc.
* Học
thuyết Ricardo về trao đổi quốc tế giả định rằng các nước đều ở trong trạng
thái toàn dụng lao động trước khi mở cửa mua bán với nước ngoài. Lúc mở cửa và
chuyên môn hoá theo lợi thế so sánh, mỗi nước phân phối lại lao động, chuyển
lực lượng lao động từ một ngành có năng suất tương đối thấp sang một ngành có
năng suất cao hơn, và sự gia tăng hiệu quả sử dụng lao động này tạo phúc lợi
thêm cho các nước. Trong trường hợp một nước ở vào trạng thái khiếm dụng lao
động – và đó là hoàn cảnh phổ biến ở các nước đang phát triển – lợi ích của nó
có phải là chuyên môn hoá và dẹp bỏ ngành sản xuất không có lợi thế so sánh,
trong khi thất nghiệp còn đầy dẫy? Hay là nước đang phát triển nên khai thác
thương mại quốc tế để giảm thất nghiệp, phát triển ngành có lợi thế so sánh đồng
thời duy trì ngành không có lợi thế đó?[24]
Đối với Stiglitz, Ricardo và những người theo ông không giải đáp về mặt lý luận
một vấn đề chốt: “hiệu ứng của tự do hoá thương mại trong những nền kinh tế
không sử dụng hết những nguồn tài nguyên” –
trước tiên là lao động [Stiglitz 2005, tr. 57].
* Nối tiếp
Ricardo, học thuyết tân cổ điển xây dựng mô hình tự do trao đổi trong khung lý
luận về thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà giả định cơ bản là không có bất trắc;
còn nếu có bất trắc, thì phải có những thị trường rủi ro hoàn hảo. Stiglitz cho
đó là “thế giới huyền thoại”, bởi những bắt trắc không thể quy thành xác suất
là bản chất của nền kinh tế thị trường. Thị trường bảo hiểm hoàn hảo không hề
hiện hữu tại các nền kinh tế thị trường phát triển, huống chi là ở những nền
kinh tế thị trường đang phát triển. Hơn thế, hiệu ứng trực tiếp rõ nhất của tự
do hoá thương mại quốc tế là tăng tính bất ổn định kinh tế và tính bất an xã
hội: nó giải thích vì sao bao nhiêu người phản kháng WTO ở mọi nơi trên thế
giới. Stiglitz đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề lao động: ở các nước tư bản phát
triển, người lao động không thể mua bảo hiểm để đối phó với rủi ro mất việc
làm, song cuộc đấu tranh của phong trào công nhân đã đưa đến một chế độ bảo hộ
xã hội bù đắp đôi phần những mất mát của người thất nghiệp; còn tại các nước
đang phát triển, nhà nước không có phương tiện và người thất nghiệp phải tự
xoay xở lấy. Trong những điều kiện kinh tế đầy bất trắc, có thể chứng minh rằng
“tự do trao đổi đưa mỗi cá nhân đến một trang thái tồi tệ hơn, theo tiểu chuẩn
Pareto, so với khi còn tự cung, tự cấp” [Stiglitz 2005, tr.58].
Sử dụng
phương pháp kinh trắc học, các nhà kinh tế đã thử xác minh mối liên hệ tích cực
giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế, nhằm chứng dẫn rằng “các nước tự
do hoá thương mại càng nhiều thì tăng trương kinh tế càng cao”. Khi tổng kết
những công trình nghiên cứu này, hầu hết các nhà kinh tế công nhận rằng kết quả
không có xác chứng. Bởi đó là một mối liên hệ phức tạp, hiệu ứng của tự do hoá
thương mại trên tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác. Và nếu
các công trình thống kê đã chứng minh được tầm quan trọng của những nhân tố như
giáo dục, y tế, định chế, địa lý..., vai trò của tự do hoá mậu dịch quốc tế vẫn
là điều tranh cãi và, theo Stiglitz, “hầu như chắc chắn rằng nó không phải là
nhân tố quan trọng nhất”. Song, ở chiều ngược lại, các nghiên cứu nói trên cũng
không xác minh mối liện hệ giữa bảo hộ mậu dịch và tăng trưởng kinh tế. Kinh
trắc học không mang đến những trả lời rõ ràng cho các vấn đề nêu lên – ngoài việc loại trừ lập trường cực đoan ở hai phía,
tự do hoá thương mại hoàn hảo và tự cung tự cấp tuyệt đối. [Stiglitz 2005, tr.
66-69].
Xét về mặt
lịch sử kinh tế, không có nước giàu hiện nay nào đã công nghiệp hoá bằng con
đường tự do hoá mậu dịch – từ Anh, Mỹ cho
đến Nhật Bản, Hàn Quốc. Tất cả đã phát triển với những chính sách mà hiện nay
họ ngăn cản các nước nghèo sử dụng để phát triển: bảo hộ ngành công ghiệp non trẻ,
trợ giúp xuất khẩu, kiểm soát đầu tư nước ngoài, giới hạn quyền sở hữu trí tuệ.[25]
Như cách nói hình tượng của Chang Ha-Joon: “Không khác nào là các nước phát
triển, khi đạt tới đỉnh, đá hất đi cái thang mà họ đã leo lên, để các nước khác
không thể trèo theo”.[26]
Nhắc lại “quá khứ bảo hộ chủ nghĩa” của các nước phát triển, tất nhiên, không
có nghĩa là các chính sách thương mại đề ra mang tính tối ưu và nhà nước vận
dụng chúng không có khiếm khuyết. Nhưng, chí ít, nó cho thấy con đường phát
triển lịch sử không ăn nhập gì với lý luận tân cổ điển. Stiglitz quan tâm đến
hai ví dụ hiện nay:
- Trung Quốc, nước hội nhập thành công vào hệ thống thương mại quốc tế
với chiến lược riêng, không theo chỉ dẫn của Đồng thuận Washington. Trong chiến lược phát triển của
Bắc Kinh, “tự do hoá thương mại không hề là nguyên nhân của tăng trưởng”: nền
kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng nhanh vào cuối thập niên năm 70; tự do
hoá thương mại khởi đầu vào cuối thập niên 80 và chỉ thật sự vận động trong
thập niên 90, tức là sau khi tăng trưởng kinh tế đã tăng tốc mạnh [Stiglitz
2005, tr. 73].[27]
- Mêhicô, nước tham gia Hiệp định tự do trao đổi Bắc Mỹ (North
American Free Trade Agreement [NAFTA]) năm 1994. Mười năm sau, nền kinh tế
Mêhicô tăng trưởng thấp hơn những thập niên trước (giai đoạn 1948-1973), tiền
lưong bình quân thực tế giảm, đói nghèo tăng; khu vực tăng trưởng cao nhất, là
công nghiệp, mất một phần ba số việc làm so những năm đầu của hiệp định. Theo
Stiglitz, hai bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm này: (1) “Tự do hoá thương
mại, tự nó, không đảm bảo tăng trưởng kinh tế”; hiệu ứng của nó có thể bị những
nhân tố khác vô hiệu hoá. (2) “NAFTA, thực ra, không hề là một hiệp định trao
đổi tự do”; trong nông nghiệp, vận dụng chế độ trợ cấp, Hoa Kỳ xuất nông sản
(như bắp) với mức giá thấp hơn giá của thị trường nội địa Mêhicô; đồng thời,
vận dụng các biện pháp phi-mậu dịch, Hoa Kỳ ngăn chận nông sản (như cà chua)
nhập từ Mêhicô [Stiglitz 2005, tr. 54-55].[28]
Stiglitz cho rằng các nhà kinh tế đã học hỏi
nhiều điều về quá trình phát triển kinh tế, song còn nhiều điều họ chưa hiểu
biết. Bởi mối liên hệ giữa thương mại và tăng trưởng vẫn là một vấn đề
mở, họ “nên để cho các nước đang phát triển tự do xây dựng chiến lược
riêng tuỳ theo hoàn cảnh riêng của mỗi nước” [Stiglitz 2005, tr. 47]. WTO không
nên hạn chế chủ quyền các nước phía Nam chọn lựa con đường phát triển
của họ. Trong hướng đó, WTO cần trước hết đáp ứng yêu cầu lâu nay và cấp thiết
của phía Nam và xã hội dân sự thế giới: tổng kết một cách chi tiết và rõ ràng
kết quả thực hiện các hiệp định vòng Uruguay – đặc biệt là hiệu ứng đối với các
nước đang phát triển –, trước khi bàn tới một vòng đàm phán mới (hiệp định
thành lập WTO hứa tiến hành tổng kết đó trễ nhất vào năm 1999). Điều khẩn
trương hiện nay không phải là tự do hoá thương mại, mà là làm rõ sự thật về
công cuộc tự do hoá trong mười hai năm qua.
III. Sân chơi và luật chơi WTO
Đối với các nước phía Nam, WTO thường
giới thiệu nó như là một hệ thống đa phương vận động theo quy tắc pháp chế, chứ
không phải theo tương quan về quyền lực. Nó giảm bớt tính bất bình đẳng giữa
nước nghèo và nước giàu trong các thương lượng song phương: “Thiếu một cơ chế
đa phương như WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý
muốn của họ cho các nước yếu hơn”.[29]
Lập luận rằng không nước nào bị buộc phải vào khuôn khổ pháp quyền này và
nước nào cũng có quyền đi ra nếu thấy không có lợi, WTO nhận xét: chưa thấy
nước nào sử dùng quyền đó, chỉ thấy các nước chen chân xin gia nhập. Đúng vậy,
nhưng đỡ tệ không có nghĩa là tốt.
Vả lại, Stiglitz, cũng như phần lớn phong trào
toàn cầu hoá theo cách khác, không chủ trương dẹp bỏ WTO mà đặt vấn đề cải cách
nó như thế nào mà các nước nghèo có được điều kiện để phát triển. Cơ chế bình
đẳng về pháp quyền không thể che lấp sự thống trị của các nước tư bản phát
triển. Cho nên, vượt lên tính bình đẳng hình thức, Stiglitz nêu lên vấn đề “công
bằng”, mà ông hiểu theo tiêu chuẩn của J. Rawls[30]
và định nghĩa như sau: “Mọi thoả thuận gây hại nhiều hơn cho các nước đang phát
triển, hoặc mang lợi nhiều hơn cho các nước phát triển (thu hoạch ròng của một
nước được tính theo phần trăm tổng sản phẩm trong nước [GDP] của nó) phải được
xem là phi công bằng” [Stiglitz 2005, tr. 114]. Một chủ trương được coi là công
bằng khi nó mang đến cho nước nghèo một phần lợi, theo tỷ lệ, lớn hơn phần của
nước giàu. Cho đến nay, các nước phát triển đã hưởng phần lớn những lợi ích do
các hiệp định thương mại tạo nên, sự công bằng đòi hỏi bây giờ họ đóng góp
nhiều hơn cho các nước đang phát triển. Nói cách khác, tinh thần thương lượng
mậu dịch giữa nước phát triển và nước đang phát triển không thể là “có đi, có
lại” hoàn toàn.
Vấn đề đã từng được nêu lên trong phần IV của
Hiệp định GATT (“Thương mại và phát triển”) theo đó các nước phát triển “không được
đòi hỏi có đi có lại” trong đàm phán thương mại với các nước đang phát triển.[31]
Trong hiệp định thành lập WTO, nguyên tắc được nhắc lại qua khái niệm “Đối xử
đặc biệt và khác biệt” [SDT]. Và khi đặt trọng tâm vòng đàm phán vào “phát
triển”, tuyên bố Doha năm 2001 đương nhiên phân biệt nước nghèo với nước giàu
với tinh thần nước giàu phải đối xử ưu đãi với nước nghèo: điều 44 của bản
tuyến bố xác định rằng “những quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt nằm
trong các hiệp định WTO” và sẽ được vòng đàm phán xem xét lại “nhằm củng cố
chúng, làm cho chúng rõ ràng hơn, hiệu quả hơn và mang tính tác chiến nhiều
hơn”.[32]
Tất nhiên, đó chỉ là diễn từ và SDT đã nhanh chóng biến mất khỏi chương trình
nghị sự. Cải cách WTO theo kiểu khác chính là nhằm biến lời cam kết nói trên
thành hiện thực có hệ thống của quan hệ Nam - Bắc.
Với mục đich đó, Stiglitz xem xét lại sân chơi
và các luật chơi của WTO. Không công bằng bắt đầu tự chỗ chọn sân chơi: quyết
định sân chơi là các nước phát triển, do họ làm chủ chương trình nghị sự các
hội nghị (chí ít cho đến Cancun). Nhờ đó, các
cuộc đàm phán cho đến nay tập trung vào những lĩnh vực mà các nước phát triển
quan tâm, thay vì những vấn đề trọng tâm của các nước đang phát triển. Vì sao
WTO bàn nhiều về lưu thông vốn và có hiệp định TRIMs bảo vệ đầu tư nước ngoài
(lợi thế của các nước phát triển), mà hầu như không nói đến lưu thông lao động
và không có hiệp định tương đương bảo về người lao động nhập cư (lợi thế của
nước đang phát triển)? Và khi hiệp định GATS về thương mại hoá dịch vụ đề cập
đến xuất khẩu lao động, vì sao WTO chỉ quan tâm đến việc đi lại của người lao động
chuyên môn cao (lợi thế của các nước phát triển), và loại ra khỏi chưong trình
nghị sự vấn đề đi lại của người lao động không chuyên môn (lợi thế của các nước
đang phát triển)? Chương trình nghị sự của một vòng đàm phán thực sự chú tâm
vào phát trển sẽ rất khác Doha
hiện nay. Trước hết, nó sẽ thu gọn các lĩnh vực đưa ra đàm phán, bởi các nước
đang phát triển không có phương tiện để thương lượng hữu hiệu trên quá nhiều hồ
sơ cùng lúc. Mặt khác, nó sẽ loại bỏ những lĩnh vực không phải trọng tâm của
các nước đang phát triển như: các vấn đề Singapore, những vấn đề đầu tư quốc
tế và tự do hoá thị trương vốn, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ... Vả lại, theo
Stiglitz, các hiệp định TRIMs (đầu tư), TRIPs (sở hữu trí tuệ) và GATS (dịch
vụ) cần được thương lượng lại, bởi chúng gồm nhiều điều thiệt thòi cho các nước
đang phát triển. [33]
Không ít luật chơi WTO mang tính phi công bằng
rõ rệt. Hãy xét, với Stiglitz, vài trường họp liên quan đến thủ tục đàm phán,
biện pháp bảo vệ và điều kiện gia nhập.
- Lấy lý do rằng không thể tổ chức đàm phán
cùng lúc với hàng trăm nước, WTO đã đặt ra thủ tục gọi là “phòng xanh” cho phép
Bộ tứ tổ chức thương lượng riêng và trực tiếp với một số nước phía Nam mà họ
chọn: bị “nhốt” suốt đêm với đại diện Bộ tứ trong phòng đàm phán (thường màu
xanh lá cây) của WTO, bộ trưởng thương mại của nước “được” chọn buộc phải đi
họp một mình, các chuyên gia cố vấn không được tham dự.[34]
Tuy, hiện nay, thủ tục này chính thức không còn, thực tiễn thương lượng không
công khai và dưới sức ép vẫn tiếp tục, mục đích là tách nước phía Nam này ra khỏi
những nước khác. Ngoài ra, thế yếu trong đàm phán của các nước đang phát triển
xuất phát cơ bản từ trạng thái “thông tin không cân xứng” giữa các nước phía
Bắc và phía Nam. Tại trụ sở Genève của WTO, Hoa Kỳ có một đoàn đại diện thường
trực gồm 150 cán bộ, trong khi hơn ba mươi nước phía Nam không có được một đại
diện thường trực; và tại hội nghị Cancun, đối mặt với 500 đại biểu Hoa Kỳ, hầu
hết các nước phía Nam không có khả năng huy động nhân sự, hiểu biết và tài
chính cần thiết để vào cuộc chơi trên thế bình đẳng. Muốn khắc phục phần nào
quan hệ phi cân xứng đó, WTO – theo Stiglitz – cần tạo ra trước hết một cơ quan
có nhiệm vụ đánh giá khách quan tác động trên các nước của mỗi đề nghị đưa ra
thảo luận giữa các nước phía Bắc và phía Nam.
- Những nước hô hào tự do trao đổi mạnh nhất
cũng là những nước biết vận dụng chế độ bảo hộ một cách hệ thống nhất, căn cứ
vào quyền bảo vệ mậu dịch mà WTO công nhận, chống lại cạnh tranh không chính
đáng: quyền tự vệ, quyền chống trợ cấp, quyền chống phá giá. Song, các biện
pháp nhằm bảo đảm mậu dịch công bằng thường biến dạng để phục vụ thương mại phi
công bằng, và chận đứng những mặt hàng có tính cạnh tranh của phía Nam đã chiếm
được thị phần ở phía Bắc: khi sản phẩm của một nước đang phát triển xâm nhập
thành công thị trường Hoa Kỳ hay Liên hiệp châu Âu, biện pháp chống phá giá,
hay một chướng ngại phi thuế quan khác, lập tức đánh vào nó. Stiglitz nhắc lại
vụ cá ba sa của Việt Nam:
Vào những năm 90, Việt Nam
đã xâm nhập thị trường cat-fish Hoa Kỳ, thị phần lên đến 20%. Thượng viện Mỹ ra
đạo luật quy định rằng chỉ có cat-fish của Mỹ mới được bán dưới tên gọi
“cat-fish”. Một cách khá thông minh, Việt Nam trở lại thị trường Mỹ với tên
cá mới là “ba sa”, và hình ảnh của một sản phẩm chất lượng cao, bán với giá
cũng cao hơn, đánh bại catfish của Mississipi. Cùng đường, Hoa Kỳ rút ra vũ khí
chống phá giá, tố cáo Việt Nam
xuất khẩu cá dưới giá thành của nó. Điều quyết định ở đây là đưa ra chứng cứ
theo đó chi phí sản xuất hàng cao hơn giá xuất khẩu của nó sang Mỹ: lấy cớ
rằng kinh tế Việt Nam, Trung Quốc và Đông Âu cựu xã hội chủ nghĩa chưa phải là
những nền “kinh tế thị trường,” Hoa Kỳ từ chối căn cứ vào chí phí sản xuất nội
địa, và lấy chi phí sản xuất của “một nước thay thế” làm chuẩn (trong hồ sơ
chống phá giá đối với túi kéo đựng gậy golf nhập khẩu từ Ba Lan, họ đã chọn
Canada làm chuẩn, trong khi giá cả ở nước này cao đến mức mà nó không có khả
năng sản xuất loại túi kéo đó). Stiglitz vạch rõ cách xử lý khác nhau của luật
pháp chống phá giá Hoa Kỳ đối với nội thương và ngoại thương: nếu lấy chuẩn tắc
xét xử hàng nội hoá mà áp dụng cho hàng nhập khẩu thì Mỹ sẽ bị xử phạt trong
hầu hết các vụ kiện nước ngoài phá giá; và nếu mang chuẩn tắc, mà Hoa Kỳ dùng
trong ngoại thương, để xét các vụ kiện nội thương thì phần lớn các hãng ở Mỹ sẽ
bị kết án là phá giá. Với kinh nghiệm làm việc trong chính quyền Clinton,
Stiglitz không ngần ngại cho rằng: “Chúng ta [người Mỹ] vừa là biện lý buộc
tội, vừa là thẩm phán xét xử, vừa là ban hội thẩm, và quy tắc về chứng cứ của
chúng ta sẽ làm cho ‘người phân xử’ trong một ‘tòa án’ của mafia phải xấu hổ đỏ
mặt”. Đề xuất của ông là phải giao các vụ kiện chống phá giá cho một toà án
quốc tế: để cho toà án của chính nước phát đơn kiện xét xử là điều không thể
chấp nhận trong thế giới cai quản theo pháp chế [Stiglitz 2006, tr. 144-145].
- Tự hào là một tổ chức căn cứ trên những quy
tắc chung, WTO lại không có tiêu chuẩn khách quan và thủ tục rõ ràng để kết nạp
thành viên. Khuyết điểm này tạo cơ hội cho các nước phía Bắc áp đặt thêm những
điều kiện gia nhập mà các nước đã là thành viên không phải tôn trọng, gọi là
“WTO-cộng”. Riêng Hoa Kỳ thường áp đặt trong các hiệp định song phương những
điều kiện không có ở WTO, rồi biến chúng thành những điều kiện gia nhập WTO.
Như trong hiệp định mậu dịch Viêt-Mỹ, Việt Nam
đã chấp nhận những cam kết về quyền sở hữu trí tuệ cao hơn những điều trong
hiệp định TRIPs, gọi là “TRIPs-cộng”: khi Việt Nam được kết nạp vào WTO, cam kết
này trở thành một ràng buộc cho các nước sẽ vào sau. Còn trong hiệp định đầu tư
Việt-Nhật, ta chấp nhận từ bỏ những điều kiện buộc nhà đầu tư nước Nhật phải
xuất khẩu 50% sản phẩm và mang vào những công nghệ mới nhất (điều khoản
này sẽ tự động chuyển thành cam kết của Việt Nam với mọi nước khác chứ không
chỉ dành riêng cho Nhật Bản).[35]
Gia nhập WTO, Việt Nam
đã buộc phải cam kết thêm nhiều điều khác: bãi bỏ ngay mọi trợ cấp trong xuất
khẩu nông sản (các nước thành viên khác đến năm 2013 mới cắt giảm); từ bỏ quyền
sử dụng biện pháp tự vệ trong nông nghiệp (các nước thành viên khác vẫn giữ
quyền đó). Vào WTO, Trung Quốc đã phải chấp nhận: giảm thuế quan trên nông sản
ở dưới mức mà các thành viên khác có cam kết; quyền của các nước khác áp dụng
biện pháp tự vệ đặc biệt đối với hàng mà Trung Quốc xuất khẩu. Thuộc nhóm các
nước kém phát triển nhất (Least-developed countries [LLDCs]), Campuchia cũng
phải chấp nhận: từ bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản (Hiệp định về nông nghiệp AoA
quy định đó là quyền của các LLDCs); áp dụng hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ
TRIPs trong thời hạn ba năm (Tuyên bố Doha quy định các thành viên LLDCs được
thời hạn đến năm 2016); có cam kết về dịch vụ nghe nhìn và dịch vụ phát hành
trong hiệp định GATS (không một nước đang phát triển nào có cam kết trong lĩnh
vực này cả). Cũng phải nói phạm trù phân biệt đối xử “kinh tế thị trường / phi
thị trường”, không có trong các văn kiện WTO, mà Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu tự
đặt ra để vận dụng một cách tuỳ tiện trong các vụ kiện Việt Nam hay Trung Quốc
bán phá giá (thay vì so sánh giá xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ với giá bán ở Việt
Nam, Hoa Kỳ dùng giá bán ở một nước khác, miễn là có lợi cho nó).
Đối với Stiglitz, một WTO theo kiểu khác là một
WTO hạn chế đàm phán vào các vấn đề liên quan đến thương mại và góp phần vào
phát triển: tất cả những gì có hiệu ứng tiêu cực trên các nước đang phát triển
phải bị loại ra khỏi chường trình nghị sự. Ông đề xuất một quan điểm mở cửa thị
trưởng một cách công bằng hơn, theo đó mỗi thành viên WTO sẽ mở cửa
hoàn toàn thị trường của mình cho những hàng hoá đến từ các nước nghèo hơn và
nhỏ hơn”. Nói cách khác, “các nước đang phát triển sẽ xuất khẩu tự do vào thị
trường của các nước có GDP cao hơn và GDP/người cao hơn”. Trong điều kiện đó,
các nước nghèo nhất và nhỏ nhất sẽ có được thu hoạch quan trọng nhất, và các
nước giàu nhất và lớn nhất sẽ phải tự do hoá thương mại nhiều hơn cả. [Stiglitz 2005, tr. 135 và150-151]
Thay lời kết
luận
1. Hai tác phẩm năm 2005 và 2006 của Stiglitz không phải là những văn bản
lý luận, mà nhắm đến công chúng rộng rãi. Cho nên có thể và đã có những phê
phán trên bình diện học thuật, khi Stiglitz sử dụng thống kê đôi lúc thiếu
chính xác; hay lúc ông đưa ra lập luận đôi khi thiếu chặt chẽ. Song điều quan
trọng, ở đây, là cách đặt vấn đề của Stiglitz có xác đáng hay không? Cải cách
WTO cho nó “công bằng” hơn, nhằm tạo điều kiện để các nước nghèo phát triển,
thay vì chỉ làm sân chơi ưu đãi của các nước giàu – theo tôi – là một cách đặt
vấn đề vừa xác đáng, vừa chính đáng. Tất nhiên, tương quan về quyền lực trên
thế giới hiện nay, tuy có chuyển biến từ Cancun, chỉ cho phép tiến từng bước.
Đó là mục tiêu đấu tranh mà Stiglitz đề nghị không riêng cho các nước phía Nam.
Ông nhắm trước hết dư luận sáng suốt ở các nước phía Bắc: bởi cái mà những nước
tư bản phát triển đã làm sau thế chiến thứ hai – điều tiết nền kinh tế thị
trường với những định chế chính trị - xã hội trong khuôn khổ của mỗi nước , tại
sao họ không thể xây dựng trong khuôn khổ toàn cầu với những định chế chính trị
- xã hội quốc tế thích ứng?
Hai tác phẩm của Stiglitz còn chứa đựng một chủ đề quan trọng khác mà bài
viết này không đề cập ở đây: đó là mối liên hệ giữa tự do hoá thương mại và
tăng trưởng kinh tế với bất bình đẳng xã hội và đói nghèo. Trong cuộc chơi WTO,
có nước thắng cuộc và nước thua cuộc, nhưng không chỉ thế: ở các nước nhìn tổng
thể là thắng cuộc, có người “được” và người “mất”; và ở các nước nhìn tổng thế
là thua cuộc, cũng có người “mất”và người “được”. Nói chung, tự do hoá thương
mại gia tăng bất bình đẳng trong xã hội. Sau khi giảm nhiều trong giai đoạn
tăng trưởng ban đầu, đói nghèo ở một số nước đang phát triển – như Việt Nam và
Trung Quốc – phải chăng sẽ ngừng giảm, hay thậm chí tăng trở lại? Đó là một đề
tài nên khảo sát ở một lần hội thảo hè tiếp theo.
2. Riêng đối với Việt Nam, cách đặt vấn đề của Stiglitz về WTO không đối
lập với cách đặt vấn đề hiện nay của đảng cầm quyền. Chúng bổ sung cho nhau. Vấn đề của Việt Nam không chỉ
là thực thi những cam kết mà ta đã thoả thuận; đó không chỉ là tôn trọng các
luật chơi mà ta đã công nhận. Vấn đề của Việt Nam còn là đấu tranh cải cách sân
chơi WTO cho nó bình đẳng hơn; đó còn là thay đổi luật chơi để WTO công bằng
hơn đối với các nước đang phát triển.
Đặt vấn đề này ra, chí ít, có một hệ luận.
Trước hết, đàm phán WTO không chỉ là vấn đề của nhà nước, mà còn là vấn đề của
xã hội dân sự Việt Nam.
Trong cuộc đấu tranh cải cách WTO, nhà nước có những ràng buộc của nó, cho nên
cần một xã hội dân sự để thúc đẩy nó; cần những tổ chức phi chính phủ có tính
phản biện cao. Đó là điều kiện để đảm bảo thành công tại WTO. Và, trước mắt,
điều có thể tiến hành ngay là cung cấp cho dư luận bản dịch tiếng Việt của hai
bộ sách Stiglitz.
Đồng thời, Việt Nam phải hội nhập vào xã hội dân sự
thế giới. Trong một bài bình luận đăng trên VietNamNet ngày 27.1 2007 và
phản ảnh quan điểm của chính phủ, người ta có thể đọc rằng Việt Nam đứng trước
chọn lựa giữa Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum), họp hàng năm
tại Davos (Thụy Sĩ), và Diễn đàn xã hội thế giới (World Social Forum), lúc ấy
họp tại Nairobi (Kenya), là tập họp của các tổ chức phi chính phủ chủ trương
toàn cầu hoá theo cách khác. Cũng theo bài đó, sự kiện thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đi đến Davos đã nói lên rõ ràng chọn lựa của Việt Nam. Nhưng tại
sao phải chọn lựa? Ai buộc Việt Nam
phải chọn lựa? Ngay nhiều nước tư bản phát triển có đại diện của chính phủ tại
hai diễn đàn, Việt Nam
tại sao không thể làm điều đó? Huống chi là kinh nghiệm, chí ít từ Seattle, cho thấy rằng
nếu không có sức ép và cuộc vận động của xã hội dân sự thế giới, khó lòng WTO
bước vào con đường cải cách vì công bằng.[36]
Bởi vì, nói cho cùng, WTO là gì, nếu không phải
là cái mà các thành viên của nó tạo ra? WTO là cái mà các nhà nước và xã hội
dân sự những nước thành viên của nó làm nên.
Tháng 7
2007
Chú thích
[1] Theo cách nói của bộ trưởng thương mại Trương
Đình Tuyển (VietNamNet, 4.1 2007)
[2] Bài viết của Phan Minh Ngọc, khoa kinh tế, trường đại hoc Kyushu, Nhật Bản (Thời báo kinh tế Sài Gòn, 24.8
2006)
[3] Bài viết của Lê Đăng Doanh, chuyên viên cao cấp bộ kế hoạch và đầu tư (Thời
báo kinh tế Sài Gòn, 31.8 2006)
[4] J. Stiglitz, Fair trade for all. How trade can promote development,
(viết cùng với Andrew Charlton), Oxford University Press 2005; bản dịch tiếng
Pháp: Pour un commerce mondial plus juste, Fayard 2007. J. Stiglitz, Making
globalization work, W.W. Norton 2006; bản dịch tiếng Pháp: Un autre monde.
Contre le fanatisme du
marché, Fayard 2006. Các
chỉ dẫn về trang trong bài viết là của bản dịch tiếng Pháp.
[5] Trong Wither socialism? [1996], Stiglitz vận dụng kinh tế học
thông tin để phân tích sự thất bại của mô hình về chủ nghĩa xã hội áp dụng vào
các nước Đông Âu. Đồng thời ông cũng phê phán sai lầm của mô hình tân cổ điển
về cạnh tranh thị trường sử dụng để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản. Bản dịch tiếng
Việt của Nguyễn Quang A, Chủ nghĩa xã hội đi về đâu (Tủ sách SOS²,
2003). Xem: www.talawas.org
[6] Ở chiều ngược lại, bộ trưởng tài chính Larry Summers đánh giá Stiglitz
là người “lạc hậu” đi theo Keynes, và tố cáo ông đã “làm chậm trễ quá trình
bình ổn các nền kinh tế phía Nam” khi chống lại các nguyên tắc cổ điển về phi
quy định hoá thị trường vốn và phi nhà nước hoá khu vực công.
[7] Stiglitz gắn liền “con đường thứ ba” với một số gương mặt lãnh đạo chính
trị: Bill Clinton (đảng Dân chủ Mỹ), Tony Blair (Công đảng Anh), Gerhard
Schroeder (đảng Dân chủ xã hội Đức).
[8] Năm 1999, bà Aileen Kwa, một trách nhiệm khác của Focus on global
south, có khuyên Việt Nam đừng vào WTO, vì sẽ như “một đội bóng thiếu nhi 5
tuổi đấu với đội người lớn 20 tuổi”, chắc chắn sẽ thua.
[9] Gần với quan điểm của Stiglitz, có thể kể đến Susan George (Remettre
l’OMC à sa place, Mille et une nuits, 2005) thuộc tổ chức phi chính phủ Attac
(Pháp); hay Oxfam (Anh) là tổ chức có nhiều báo cáo quan ngại về những điều
kiện Việt Nam gia nhập WTO, như: ‘Tống tiền ở cửa vào’ (Extortion at the
gate: Will Vietnam join the WTO on pro-development terms?, 2004) và ‘Hãy
làm như tôi nói, chớ làm như tôi làm’ (Do as I say, not as I do: The unfair
terms of Vietnam entry to WTO, 2005). Cũng có thể kể đến: UNDP, Các quy
định thương mại tuỳ tiện. Chống phá giá và quy chế nền kinh tế thị trường áp
đặt cho Việt Nam, http://www.undp.org.vn/undpLive/digitalAssets/6459_00612_-_antidumping_v_.pdf
[10] WTO, Mười điều thường hiểu sai về WTO, www.wto.dddn.com.vn
[11]Xem Mehdi Abbas, ‘L’agenda de
l’Organisation mondiale du commerce et l’économie politique internationale’,
Annuaire français des relations internationales, tháng 4 2002.
Theo tác giả, bá quyền của Bộ tứ có tính định chế: các nước thuộc Bộ tứ “tạo ra
thể chế” (regime makers) còn lại là những nước “chấp nhận thể chế” (regime
takers) [tr. 735].
[12]Xem Đỗ Tuyết Khanh, ‘Ngành dệt may sau
2004: viễn tượng và thách thức’, Thời Đại Mới, số 2, tháng 7/2004. Cập
nhật: Ngày 1.1 2005, chế độ hạn ngạch MFA chính thức chấm dứt thì chỉ vài tháng
sau, lấy cớ “tự vệ”, Hoa Kỳ (một cách đơn phương) và Liên hiệp châu Âu (qua
thương lượng) lập lại biện pháp hạn ngạch tạm thời đối với hàng nhập khẩu từ
Trung Quốc. Lý do nêu lên hoàn toàn không chính đáng: các mặt hàng dệt may của
Trung Quốc tràn vào thị trường Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu không hề gây “thiệt
hại nghiệm trọng cho các nhà sản xuất nội địa”, bởi từ lâu nay họ đã mất tính
cạnh tranh và hầu như vắng mặt trên thị trường. Tác động chủ yếu của nhập khẩu
từ Trung Quố tăng vọt là làm giảm lượng hàng dệt may mà Mỹ và châu Âu mua từ
các nước đang phát triển khác (trong đó có Việt Nam) – tổng thể sản lượng nhập
khẩu không xê xích bao nhiêu.
[13] Theo Stiglitz, hiệu ứng của những hiệp
định WTO là gây cho các nước châu Phi phía Nam Sahara mất mát 1,2 tỷ USD/năm.
[14] Năm 2001, theo Stiglitz, hàng dệt may và
giày dép, tuy chỉ chiếm có 6,5% kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ, đã phải trả gần
phân nửa tổng thuế nhập khẩu do chính phủ Mỹ thu. Và, mặc dù giá trị giày dép
nhập khẩu chỉ bằng một phần mười kim ngạch nhập xe ô-tô, chính phủ Mỹ đã thu
trên giày dép nhiều thuế nhập khẩu hơn là trên xe ô-tô.
[15] WTO, Hội nghị bộ trưởng Doha
2001: Tuyên bố của các bộ trưởng, WT/MIN(01/DEC/1 2001.
[16]Nhóm Cairnes (hình thành từ năm
1986): gồm 17 nước xuất khẩu nông sản quan trọng thuộc thế giới phát triển
(Canada, Australia, Tân Tây Lan...) và thế giới đang phát triển (châu Mỹ:
Brasil, Argentina, Chi Lê...; châu Á: Thái Lan, Malaysia, Indonesia...; châu
Phi: Nam Phi). Nó bảo vệ chủ trương tự do hoá các thị trường nông sản.
- Nhóm G20: gồm
19 nước đang phát triển, trong đó có các nước đang phát triển thuộc nhóm
Cairnes và một số nước đang phát triển thuộc G33 (như Ấn Độ và Trung Quốc). Nó
thực hiện sự nối kết giữa các nước đang phát triển của nhóm Cairnes và các nước
đang phát triển khác.
- Nhóm G33: gồm
42 nước đang phát triển, trong đó có những nước của G20 không thuộc nhóm
Cairnes và một số nước của G90. Nó bảo vệ quyền bảo hộ nông nghiệp của các nước
đang phát triển.
- Nhóm G90: gồm
79 nước đang phát triển, trong đó có các nước kém phát triển nhất. Được hưởng
chế độ ưu đãi thuế quan của Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu, các nước này e ngại
chủ trương giảm thuế quan của G20 làm họ mất ưu thế hiện có.
[17]Xu hướng hiện nay là hình thành mộ Bộ tứ
“mới” gồm Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu, đại biểu cho các nước phát triển, Brasil
và Ấn Độ, đại biểu cho các nước đang phát triển.
[18]Mehdi Abbas, ‘De Doha à Cancun: Eléments
d’analyse de la crise du multilatéralisme commercial et de l’Organisation
mondiale du commerce’, AFRI 2005, tr. 880.
[19]Trong hướng ngược lại, M. Abbas [tài liệu
vừa dẫn, tr. 895-896] cho rằng WTO không kham nổi mục tiêu phục vụ phát triển.
Vòng Doha đã thất bại và WTO bị tê liệt chính vì nhiệm vụ gán cho nó nằm ngoài
năng lực của nó: “WTO không có gì để đề xuất trên bình diện phát triển cả”.
[20]J.M. Siroen, L’OMC et la mondialisation
des économies, IRES và CFE-CGC, 1998.
[21]Jagdish Bhagwati, Protectionism,
MIT Press, 1988; bản dịch tiếng Pháp, Protectionnisme, Dunod 1990, tr.
23-33.
[22] Susan George, ‘Une autre organisation du
commerce était possible...’, Le Monde Diplomatique, tháng 1 2007. Xem thêm: Susan Ariel Aaronson, Trade
and the American dream: A social history of postwar trade policy, UP Kentucky 1996.
[23]Khác biệt đáng chú ý nhất đối với
WTO hiện nay là ITO gắn mậu dịch thế giới với những mục tiêu về phát triển,
toàn dụng lao động, tiến bộ xã hội. Nó nhấn mạnh đến những phương tiện nhằm
giảm thất nghiệp, cải thiện tiền lương, ấn định quy chuẩn lao động.
[24]Trong ví dụ cổ điển của Ricardo với
2 nước (Anh và Bồ Đào Nha) và hai sản phẩm (vải và rượu), Bồ Đào Nha có lợi thế
tuyệt đối trong cả hai sản phẩm, song lợi thế so sánh là ngành rượu, cho nên,
trong chuyên môn hoá quốc tế, Bồ đào Nha chỉ sản xuất rượu và Anh chỉ sản xuất
vải. Nếu Bồ Đào Nha ở trong trạng thái thất nghiệp thì lợi ích của nó
không phải là chuyển lực lượng lao động từ ngành vải sang ngành rượu, mà là sử
dụng lao động thất nghiệp để sản xuất thêm cả rượu lẫn vải, và xuất khẩu hai
sản phẩm qua Anh. Nếu nước Anh muốn duy trì công ăn việc làm, nó phải từ bỏ
ngoại thương và trở về tự cung tự cấp.
[25]Kinh tế gia trưởng của Chương trình
phát triển Liên hiệp quốc [UNDP] ở Việt Nam, Jonathan Pincus, nhắc rằng:
“Không có nước giàu nào trả tiền sở hữu trí tuệ khi họ bắt đầu công nghiệp hoá.
Nhật Bản thì nhập khẩu và sao chép công nghệ của Đức. Hàn Quốc thì nhập và chép
công nghệ của Nhật. Mỹ thì nổi tiếng là “cóp” ý tưởng của Anh khi mới lập quốc,
và bây giờ họ muốn các nước đang công nghiệp hoá phải chi tiền. Điều đó sẽ vô
cùng đắt và ngăn cản Việt Nam
tiếp cận công nghệ. Nhưng Mỹ rất chú ý bảo vệ sở hữu trí tuệ vì những công ty
lớn của họ đang kiếm lãi từ đó”. [VietNamNet 13.12 2004].
[26]Chang Ha-Joon, ‘Du protectionnisme au
libre échangisme, une conversion opportuniste’, Le Monde Diplomatique,
tháng 6 2002. Xem thêm:
Kicking away the ladder. Development strategy in historical perspective,
Anthem Press 2002.
[27]Trong chiều ngược lại, những tác giả
ủng hộ chủ nghĩa tự do cho rằng các chính sách kinh tế của nhà nước Trung Quốc
có hiệu ứng tiêu cực, và tăng trưởng của Trung Quốc sẽ cao hơn nếu nhà nước
không có tiến hành những chính sách đó.
[28]Trong bài phỏng vấn nói trên [VietNamNet
13.12 2004], Pincus còn lên tiếng cảnh giác Việt Nam:
“Vào WTO: Đừng để Việt Nam
trở thành Mêhicô thứ hai”.
[29]WTO, Mười lợi ích của hệ thống
thương mại WTO, www.wto.ddn.com .
[30]John Rawls, A theory of justice,
Harvard Press University
1971. Trong một khung triết học khác, Amartya Sen đi đến những kết luận tương
tự trong Development and freedom (Oxford University Press 1999).
[31]MUTRAP II, Tự điển chính sách
thương mại quốc tế, MUTRAP 2006, tr. 252.
[32] WTO, Hội nghị Doha 2001: Tuyên bố các bộ
trưởng, WT/MIN(01)/DEC/1 2001.
[33]J. Bhagwati cho rằng phải đưa vấn đề
sở hữu trí tuệ ra khỏi các cuộc đàm phán về thưong mại. Ông cũng phê phán tự do
hoá thị trường vốn và cho nó không nằm trong lý luận về tự do trao đổi. Xem Free
trade to day (Princeton 2002); bản dịch tiếng Pháp (Eloge du
libre-échange, Ed. Organisation 2005) có kèm theo bản dịch của bài ‘The
capital myth: The difference between trade in widgets and dollars’, Foreign
Affairs tháng 5-6 1988.
[34] Xem Thư ngỏ của 11 nước đang phát triển gửi cho Hội đồng WTO liên
quan đến thục tục phòng xanh.
[35] Được hỏi về điều khoản này, Stiglitz khuyên Việt Nam “tìm cách
sáng tạo để đặt lại những điều kiện đó với nhà đầu tư mà không vi phạm cam kết”
(!). Xem bài phỏng vấn J. Pincus, VietNamNet 13.12 2004.
[36]Cũng trong hướng này, xem bài của F.
Gendreau (chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt), ‘Le Vietnam, l’OMC et la
mondialisation’, Courrier du Vietnam, 7.3 2004.
© Thời Đại Mới - Số 12 - Tháng
11/2007
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------