Đại dương và luật quốc tế hiện đại
Tóm tắt. Tìm hiểu đại dương và chế độ pháp lý của nó từ góc cạnh của Luật quốc tế hiện đại là cần thiết. Điều đó không chỉ vì đại dương chiếm gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, mà nó còn là sự sống, là hiểm hoạ đối với con người. Chúng tôi chọn “Đại dương và Luật quốc tế hiện đại” để trao đổi cùng người đọc.
1. Đại dương và những thách thức mới (1)
Từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI là giai
đoạn của các thành tựu về khoa học kỹ thuật, về toàn cầu hoá
các quan hệ quốc tế và về nền kinh tế tri thức. Thế giới đã
hình thành “khoảng không gian chung” về thông tin – pháp lý và về
kinh tế - tài chính, trong đó có cách nhìn tiệm cận chung về
đảm bảo các quyền của con người, của các dân tộc và của các quốc gia.
Chính trong các điều kiện đó, an ninh cộng
đồng quốc tế cũng phải đối mặt với những mạo hiểm mới, những thách
thức mới và những hiểm hoạ mới. Các vấn đề đó có thể là:
các xung đột trong phạm vi của quốc gia hoặc trong nội khối của
các tổ chức quốc tế; khủng bố quốc tế; các hoạt động tội
phạm có tổ chức; nguy cơ phổ biến vũ khí giết người hàng loạt;
khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu; hiểm hoạ môi trường;
buôn bán ma tuý; và dịch tả trên quy mô lớn. Tất cả các sự
kiện nói trên, trong một chừng mực nào đó có liên quan đến đại
dương và Luật biển quốc tế.
Khó đánh giá hết tầm quan trọng của đại
dương và vai trò của nó đối với đời sống con người. Vì đại
dương là ngôi nhà chung, là cầu nối giữa các lục địa và giữa các
nền văn minh của nhân loại, là tuyến đường giao thông thuỷ đặc
biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các chế độ pháp
lý khác nhau. Trong đó phần lớn là biển cả, vùng biển không thuộc
chủ quyền của bất cứ một quốc gia nào. Điều đó được thể hiện
trong nguyên tắc tự do biển cả: tự do thuỷ vận; tự do hàng không;
tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; tự do nghiên cứu
khoa học; tự do xây dựng các đảo và lắp đặt các công trình nhân
tạo. Tự do biển cả không có nghĩa là tự do một cách tuyệt đối, mà tự do
phải phù hợp với định chế của Công ước Liên hợp quốc (LHQ) về
Luật biển năm 1982 (sau đây gọi là Công ước năm 1982) và các
quy phạm khác của Luật quốc tế [1].
Tự do hợp tác trong khai thác và sử dụng biển
cả một cách hợp lý, vì mỗi quốc gia là một thành viên của cộng đồng
quốc tế nên quyền tự do biển cả cần tính đến sự hài hoà về lợi ích
giữa các quốc gia. Nguyên tắc tự do biển cả (Điều 87) là quy phạm
có tính chất mệnh lệnh của Luật biển quốc tế nên các quốc
gia không thể tự thoả thuận với nhau để thay đổi nó [2].
Đây là nguyên tắc vô cùng quan trọng, trực tiếp giải quyết
một vấn đề có tính toàn cầu đó là nhân loại cùng nghiên
cứu và sử dụng đại dương phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong thế
giới hiện đại, ngành thuỷ vận quốc tế đã ngày một trở nên
quan trọng trong hoạt động thông thương giữa các quốc gia, điều đó
được khẳng định bằng tỷ trọng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển ngày
càng tăng(2). Thế giới ngày càng đa cực, nhưng không vì thế mà hoà
bình và an ninh quốc tế được trường tồn. Do đó các vấn đề
về đại dương, về luật pháp quốc tế và hẹp hơn là Luật biển quốc tế
hiện đại luôn được cộng đồng đặc biệt quan tâm.
Thuật ngữ “những thách thức mới và những hiểm hoạ
mới” đã được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng quốc tế. Trong đó,
thường người ta đề cập đến các vấn đề: về đói ngèo; bệnh tật;
giảm dân số; lan chuyền rộng chất ma tuý; rửa tiền; bảo hiểm xã
hội thấp; vi phạm các quyền cơ bản của con người; sự nguy hiểm
đối với thảm hoạ hạt nhân; nội chiến và các xung đột khu vực
có nguy cơ tiềm ẩn trở thành phổ biến toàn cầu; và môi trường sống
ngày một xấu đi. Khủng bố ngày càng nguy hiểm hơn với tiềm ẩn
sử dụng vũ khí giết người hàng loạt và bên cạnh đó là sung đột sắc
tộc và tôn giáo sâu sắc.
Để giải quyết các vấn đề nói trên, theo
sáng kiến của Tổng thư ký K. Anna, một Uỷ ban đặc biệt về các vấn đề
toàn cầu: “những thách thức mới và những hiểm hoạ mới” đã được thành
lập và đã nhận được hiến kế của Tổng thống Nga, V.V… Putin. Hiến kế
đó đã được cụ thể bằng một dự thảo về định hướng nhằm tiếp tục nâng
cao hiệu quả hoạt động của LHQ trong việc bảo vệ lợi ích chung của cộng
đồng quốc tế(3). Các vấn đề “những thách thức mới và những hiểm
hoạ mới” đã được Nhóm “Thế giới
ngày càng bình yên: trách
nhiệm to lớn của chúng ta” báo cáo tại cuộc họp lần thứ 59 Đại
hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) (2004) với cơ cấu gồm 6 chương:
1). Chiến tranh giữa các quốc gia; 2). Xung đột trong nội bộ
các quốc gia, bao gồm cả nội chiến xẩy ra trên phạm vị lớn, vi
phạm các quyền của con người và sự diệt chủng; 3). Đói
ngèo, bệnh truyền nhiễm, bệnh tật, sự xuống cấp ngày càng
trầm trọng của môi trường; 4). Vũ khí hạt nhân, phóng xạ, vũ khí
sinh-hoá học; 5). Khủng bố; 6). Tội phạm có tổ chức xuyên quốc
gia.
Các sự kiện liên quan đến đại dương trong những năm gần
đây đã phần nào minh chứng thêm cho báo cáo trên, đó là
nguy cơ đe dọa ngành thuỷ vận và cuộc sống của con người
trên biển: những tên khủng bố Chechen chiếm phà của Thổ Nhĩ Kỳ
“Avrasia” năm 1996; vụ khủng bố nổ tàu khu trục Mỹ “Coul” năm 2000;
vụ tàu chở dầu của Pháp “Limbua” năm 2002; các vụ cướp biển của hải
tặc Somalia (như vụ bắt giữ tàu chở vũ khí MV Faina của Ucraine; và
tàu chở dầu siêu lớn Sirius Star của Saudi Arabia) trong thời
gian gần đây (2008) ở vùng vịnh Aden đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát
của khu vực. Các sự kiện đó đòi hỏi phải có sự nhập cuộc của LHQ, mặc
dù Hội đồng Bảo an LHQ đã thông qua 4 Nghị quyết cho phép tấn
công hải tặc(4). Trên thực tế NATO, Mỹ, Trung Quốc và các quốc gia Châu
Âu đã trực tiếp tham gia chống cướp biển tại khu vực này(5).
Như vậy, khủng bố nhằm vào các tuyến đường giao thông thuỷ, vào các
tàu và các hải cảng có thể là nguyên nhân làm bất ổn về tình
hình chính trị và làm tê liệt nền kinh tế thế giới, vì vận
tải biển ngày càng phát triển theo hướng tự do hoá (kể cả vận tải
trong khuôn khổ WTO/GATS) như là một ngành công nghiệp thúc đẩy sự
tăng trưởng thương mại toàn cầu.
Cộng đồng quốc tế đã thông
qua các biện pháp cứng rắn nhằm đối phó với khủng bố quốc tế và
chấm dứt việc chuyên chở bằng đường biển các loại vũ khí
giết người hàng loạt, ma tuý và các loại hàng cấm khác. Dưới sự bảo
trợ của Tổ chức biển quốc tế và trên cơ sở Công ước về đấu
tranh với các hành vi chống an ninh hàng hải quốc tế, bước đầu cộng
đồng quốc tế đã thông qua Nghị định thư bổ sung cho Công ước này
vào năm 2005 và Nghị định thư về đấu tranh với các hành vi chống an
ninh các công trình ở thềm lục địa năm 1988. Chúng ta biết rằng,
đại dương với các chế độ pháp lý khác nhau có thể được sử dụng để đề
phòng các cú (học thuyết) đánh phủ đầu (the legal doctrine
of preemptive strikes). Mặc dù, điều 51(6) Hiến chương LHQ đã
ghi nhận về quyền tự vệ của các quốc gia, nhưng thế giới đã,
đang và còn tiếp tục phân tích về điều 51 và Điều 51 Hiến chương LHQ
quy định “Không có một điều, khoản nào trong Hiến chương này làm
tổn hại đến quyền tự vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể
trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn công vũ trang cho đến khi HĐBA
chưa áp dụng những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh
quốc tế. Những biện pháp mà các
thành viên LHQ áp dụng trong
việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho HĐBA
và không được làm ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐBA.
Chiếu theo Hiến chương này, bất kỳ lúc nào HĐBA áp dụng những
hành động mà Hội đồng thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hoà bình
và an ninh quốc tế”.
Việc áp dụng nó như thế nào trong từng sự kiện quốc
tế cụ thể. Ngoài ra, là vai trò và các quyết định của Hội đồng Bảo an
LHQ cũng như các vấn đề khác liên quan đến đánh phủ đầu. Chính vì vai
trò và trọng trách của Hội đồng Bảo an đối với hoà bình và an ninh
quốc tế, cũng như nhiều sự kiện quốc tế đã diễn ra trong thời gian qua
nên cộng đồng quốc tế đã đặt ra những vấn đề cấp thiết như: cần cải tổ
Hội đồng Bảo an, về các tiêu chí phòng ngừa sử dụng vũ lực,
điều kiện cụ thể cho cuộc tấn công tất yếu xẩy ra. Tất cả
điều đó đều có quan hệ trực tiếp với các hành vi trên biển.
2. Pháp điển hoá Luật biển quốc tế(7)
Đại dương và quy chế pháp lý của nó luôn được
các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ đặc biệt chú ý.
Chẳng hạn như, quy chế pháp lý của vùng nước nội thuỷ và
vùng lãnh hải do Viện Luật quốc tế, hiệp hội Luật quốc tế (châu Mỹ, Ý,
Nam Tư, các hiệp hội Luật biển) và các tổ chức quốc tế thực
hiện. Năm 1930, Hội quốc liên đã tổ chức Hội nghị quốc tế
về pháp điển hoá Luật quốc tế, nhưng kết quả đạt được không nhiều,
chỉ công nhận quốc gia ven biển có lãnh hải riêng với ít nhất là 3 hải
lý và một vùng tiếp giáp. Do vậy, trong một thời gian dài, chiều rộng
lãnh hải mà các quốc gia tự xác định rất khác nhau. Ví dụ, từ thế kỷ 18
đến giữa thế kỷ 20, lãnh hải của Anh, Mỹ, Pháp và nhiều quốc gia khác
có chiều rộng là 3 hải lý, Na Uy là 4 hải lý, Tây Ban Nha là 6
hải lý, các nước châu Mỹ-La-Tinh như Pêru, Chilê, Ecuador đã mở rộng
lãnh hải của mình đến 200 hải lý(8). Từ khi thành lập, LHQ luôn
chú trọng đến xây dựng Luật biển quốc tế, do đó đã thực hiện được
những bước đi quan trọng và cụ thể. Đó là 3 lần tổ chức hội nghị
quốc tế về biển vào các năm 1958, năm 1960 và 1973-1982. Tại
hội nghị quốc tế về Luật biển được tổ chức ở (7) Tìm đọc:
S.V. Molsov, Lịch sử biển quốc tế và việc
pháp điển hoá.
Giơnevơ
năm 1958, lần đầu tiên một hội nghị quốc tế được tổ chức
với quy mô mở và bàn luận về chế độ pháp lý quốc tế của đại dương và
chi tiết hoá việc sử dụng các vùng biển của đại dương. Hội nghị đã
nghiên cứu các dự thảo quy chế về biển mà Uỷ ban LHQ về Luật
biển đã chuẩn bị. Trên cơ sở đó Hội nghị đã thông qua được 4 Công
ước điều chỉnh chế độ pháp lý các vùng biển và việc đánh bắt cá
ở thế giới đại dương: 1). Công ước về lãnh hải và vùng tiếp
giáp; 2). Công ước về thềm lục địa; 3). Công ước về biển
quốc tế; và 4). Công ước về đánh bắt cá và bảo vệ nguồn tài nguyên
sinh vật ở biển cả. Nhưng đó là một kết quả còn khá khiêm tốn vì đại
dương đang còn rất nhiều vấn đề cấp thiết mà Hội nghị lần này còn chưa
đồng thuận.
Về bản chất, Hội nghị đã pháp điển hoá phần
lớn các quy phạm luật biển quốc tế hiện đại, lựa chọn các quy
phạm dưới dạng tập quán pháp quốc tế và các quy phạm điều ước
điều chỉnh các quan hệ về chế độ pháp lý các vùng biển và các hoạt
động khác nhau ở thế giới đại dương. Trong phần giới thiệu của Công ước
về biển cả đã nhấn mạnh rằng nội dung của Công ước có tính chất
như Tuyên bố chung về các nguyên tắc của Luật quốc tế, điều
đó cũng có nghĩa là nội dung Công ước đã phản ảnh bản chất
luật tập quán chung. Công ước về biển cả đã đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong cái nhìn tổng quát của cộng đồng về biển cả, cũng
như lấy kết quả làm cơ sở để phát triển Luật biển quốc
tế(9).
Có thể nhận thấy rằng, việc thông qua các Công ước
Giơnevơ đã khẳng định Luật quốc tế đã bước sang một giai đoạn phát
triển tiến bộ, vì: Một là, trong Công ước về thềm lục địa, lần đầu
tiên trong lịch sử pháp lý có các quy phạm phối hợp ở tầm quốc tế
về đặc quyền của các quốc gia ven biển trong quản lý nguồn
tài nguyên ở thềm lục địa và về giới hạn chiều rộng của nó.
Mặc dù trong giai đoạn sau đó, cùng với sự phát triển tiến bộ
của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các quốc gia mong muốn thiết
lập giới hạn mới về chiều rộng của thềm lục địa bằng các tiêu
chí mới cho phù hợp với luật quốc tế hiện đại và với vị thế của từng
quốc gia (cần nhấn mạnh rằng, cho đến nay có 2 điều ước quốc tế cơ bản
điều chỉnh quy chế thềm lục địa là: Công ước Giơnevơ năm 1958 về
thềm lục địa và Công ước năm 1982); Hai là, Công ước về vùng tiếp
giáp cũng là một điểm nhấn mới trong luật quốc tế vì đây là lần
đầu tiên các quy phạm về khái niệm và về quy chế pháp lý vùng tiếp
giáp được ghi nhận trên cơ sở một điều ước quốc tế đa phương.
Hội nghị quốc tế về Luật biển lần thứ hai đã được tổ chức vào năm 1960,
các quốc gia tham dự đã mất nhiều thời gian tranh luận về chiều
rộng lãnh hải và vùng đánh cá cho các quốc gia ven biển, nhưng do
bất đồng quan điểm giữa các quốc gia nên Hội nghị đã không đem lại
kết quả, nhưng dù sao đó cũng là tiền đề cho Hội
nghị lần sau.
Do
sự đa dạng của hoạt động ở đại dương và kết quả tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, năm 1970 Đại hội đồng LHQ đã thông qua quyết định
triệu tập Hội nghị LHQ vào năm 1973 [3]. Thủ tục Hội nghị LHQ về Luật
biển lần thứ 3, ngày 16/11/1973, được Đại hội đồng LHQ thông
qua bằng Thoả thuận bất thành văn-Hiệp ước quân tử [4]. Thành công
của Hội nghị lần thứ 3 về Luật biển và việc chính thức thông qua
Công ước năm 1982 là một sự kiện trọng đại nhất trong quan
hệ quốc tế nói chung và Luật quốc tế hiện đại nói riêng. Hội nghị
đã kéo dài từ năm 1973-1982, một kết quả mà nếu tính về thời gian thì
chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của các hội nghị quốc tế.
Công
ước năm 1982 là điều ước quốc tế tổng hợp, là mốc lịch sử
quan trọng trong lĩnh vực pháp điển hoá vì sự phát triển tiến bộ
của các quy phạm pháp luật quốc tế, đồng thời quy định cụ thể hoá hơn
so với Công ước năm 1958.
Công ước năm 1982 đã quy định chế độ
pháp lý của đại dương và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ bản về
sử dụng, nghiên cứu, khai thác và chinh phục đại dương phục
vụ cho các điều kiện phát triển kinh tế-xã hội hiện đại [5]. Cần
nhấn mạnh rằng, lần đầu tiên trong Công ước năm 1982 có những
quy phạm rất đặc biệt (Điều 311) điều chỉnh “thăng bằng”
quyền và lợi ích giữa các quốc gia khác nhau: các quốc gia
hùng mạnh, các quốc gia công nhiệp phát triển, các quốc gia đang
phát triển, và các quốc gia ven biển [6].
Như vậy, Luật biển
quốc tế đã được pháp điển hoá trong một thời gian dài và có
thể tóm tắt làm ba giai đoạn chính: giai đoạn 1, từ những
năm 20 đến trước khi thành lập LHQ; giai đoạn 2, là từ khi
LHQ bắt đầu hoạt động (1946) đến năm 1958; và giai đoạn 3, là từ
giữa những năm 60 đến năm 1982(10).
3. Phân loại các vùng biển(11)
Theo Luật quốc tế hiện đại, đại dương được phân chia
có điều kiện thành ba loại vùng biển với các tính chất pháp lý cơ bản
khác nhau: 1). Loại thứ nhất, các vùng biển là một phần lãnh thổ
không tách rời của quốc gia ven biển, mà trong đó có sự
hiện diện chủ quyền của quốc gia ven biển (như: vùng nội thuỷ được
ghi nhận tại Điều 5 Công ước năm 1958 và khoản 1 Điều 8 Công ước năm
1982; vùng lãnh hải được ghi nhận tại Điều 12 Công ước năm 1982); 2).
Loại thứ hai, vùng biển không là một phần lãnh thổ của quốc gia
ven biển, nhưng lại thuộc quyền tài phán của quốc gia đó (vùng
tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa); và 3).
Loại
thứ ba, đó là vùng biển không thuộc chủ quyền và không
thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào (đó là biển cả
hay còn gọi là biển quốc tế).
Cần nhấn mạnh rằng, chế độ
pháp lý của các vùng biển được phân chia nói trên không
giống nhau. Chẳng hạn như, trong vùng lãnh hải khác với vùng
nội thuỷ là có sự qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài
(quyền qua lại hoà bình cần được thực hiện phù hợp với quy
định tại Điều 17 Công ước năm 1982 và Điều
14 Công ước năm
1958. Quyền qua lại vô hại này tương tự như thương quyền về
tự do bay trên lãnh thổ ký kết không kèm hạ cánh – hay còn gọi
là quyền qua lại vô hại trong luật hàng không dân dụng quốc tế). Trong
vùng tiếp giáp thì các quốc gia ven biển thực hiện quyền kiểm tra
các hoạt động trên biển trong một số lĩnh vực nhất định
(Điều 33). Còn vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa thì
quốc gia ven biển được thực hiện quyền chủ quyền quốc gia theo quy
định tại Điều 77 Công ước năm 1982 và khoản 1 Điều 26 Công ước năm
1958, ví dụ trong vùng thềm lục địa thì quyền của quốc gia ven biển có
tính đặc quyền, tức là các quốc gia khác không có quyền thăm dò, khai
thác nguồn tài nguyên ở thềm lục địa nếu quốc gia ven biển không cho
phép.
Như vậy, trong Luật quốc tế đã xuất hiện quy chế
pháp lý hỗn hợp đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa, vì ở đó có sự hiện diện quyền chủ quyền quốc gia ven biển và
các quy phạm của Luật biển quốc tế được quy định trong Công ước năm
1982. Tất nhiên, cùng với việc thông qua phân loại các vùng biển thì
các vấn đề về eo biển, kênh, nước quần đảo, kể cả Bắc cực và
Nam cực cũng vị trí đặc biệt quan trọng trong Công ước.
Như vậy, phân loại pháp lý các vùng biển
kết thúc bằng việc thông qua Công ước năm 1982, trong đó ghi
nhận cụ thể quyền của các quốc gia đối với các vùng biển và quy
chế pháp lý đối với từng vùng. Cộng đồng quốc tế đã đạt được mục
đích xây dựng được văn bản thành văn về các hoạt động ở thế giới
đại dương.
4. Công ước năm 1982(12) và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam
Dưới sự bảo trợ của Tổng thư ký LHQ và sự
tham gia trực tiếp của Uỷ ban về đại dương và Luật biển của LHQ
(Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea) nên
việc áp dụng Công ước năm 1982 ở các quốc gia luôn nhận được sự
tham vấn từ các tổ chức chuyên môn. Nhưng, thực tiễn cho thấy Công
ước năm 1982 còn thiếu các quy phạm dự báo về các yếu tố pháp lý
cấu thành tội phạm có tính chất khủng bố và các biện pháp
đấu tranh chống khủng bố. “Chỗ dột” này đã được bổ sung trong Công
ước về đấu tranh với các hành vi chống lại an ninh hải vận
và trong Nghị định thư về đấu tranh với các hành vi chống an ninh cảng tàu ở thềm lục địa năm 1988. Vì hoạt động của các quốc gia ở thế giới đại dương ngày càng đa dạng và phức tạp, theo chúng tôi, cộng đồng quốc tế cần phải bổ sung và hoàn thiện các loại văn bản này(13) . Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, năm
1994(14)
Việt Nam đã gia nhập Công ước năm 1982 và khẳng định chủ quyền
đối với vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải, quyền chủ quyền và
quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa, chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt Nam là một quốc gia ven bờ
biển Đông, vùng biển của Việt Nam án ngữ trên các tuyến hàng hải và
hàng không huyết mạnh giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa
các châu: Âu, Phi, Trung cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản
và các nước trong khu vực. Biển Đông cũng là một trong 6
biển lớn nhất của thế giới với diện tích 3.447.000km2 , là vùng
biển nửa kín(15), được bao bọc bởi 9 quốc gia: Trung Quốc, Việt
Nam, Philippines, Malayxia, Indonesia, Brunei, Campuchia,
Singapore và Thailan. Đây cũng là vùng biển có nhiều tiềm năng
về nguồn tài nguyên thiên nhiên nên đã từ lâu là đối tượng tranh
chấp không chỉ của các quốc gia trong khu vực ASEAN mà còn có sự
tham gia tích cực của một số quốc gia khác trên thế giới, do đó luôn
tiềm ẩn nguy cơ xung đột, đe doạ hoà bình, ổn định và phát triển bền
vững trong khu vực và xa hơn là trên toàn thế giới.
Việc gia nhập Công ước năm 1982 đối với Việt Nam
là vô cùng quan trọng, vì mọi vấn đề về tranh chấp biển, về vùng
chồng lấn trên biển và thềm lục địa ở biển Đông sẽ được giải
quyết trên cơ sở Công ước năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế
hiện hành. Trong Nghị quyết của Quốc hội Việt Nam ngày 23/6/1994 về
phê chuẩn Công ước năm 1982 đã ghi nhận mọi tranh chấp sẽ
được giải quyết trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết, tôn
trọng lẫn nhau, tôn trong luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ
quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc
gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Cần nhấn mạnh rằng, vận tải biển của Việt Nam
chiếm trên 80% lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, nên để nâng cao uy
tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế thì
Việt Nam phải tuân thủ và thực thi các quy phạm Luật quốc tế,
các quy phạm trong các Công ước về Luật biển. Trong đó, quan
trọng nhất là Công ước năm 1982 và một số các Công ước khác về bảo
vệ môi trường biển, về đảm bảo quyền lợi cho các tổ chức vận tải
và đánh cá. Ngoài ra, Việt Nam cần tham gia vào các điều ước,
các công ước và các thoả thuận quốc tế mới.
Đại hội đồng LHQ, trong các nghị quyết hàng
năm của mình về đại dương và về Luật biển đều kêu gọi các
quốc gia điều chỉnh, sửa đổi pháp luật của quốc gia mình cho
phù hợp với định chế của Công ước năm 1982. Điều đó đã được nhấn
mạnh trong tuyên bố của thẩm phán Toà án biển quốc tế về
thả lập tức vụ “Juno Trader”(16). Chính vì vai trò đặc biệt
quan trọng của Công ước năm 1982 đối với con người ở đại
dương, nên chúng tôi tạm mượn câu nói của giáo sư-chuyên gia
Luật quốc tế Duff John để thay cho lời kết của bài viết, đó
là chính phủ Mỹ cần phải phê chuẩn Công ước năm 1982 vì Công ước này
có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: an ninh quốc
gia, triển vọng quốc phòng, ngoại giao, thương mại biển, các
định hướng nghiên cứu khoa học biển, các quan điểm về khả năng phân
định thềm lục địa, triển vọng công nghệ, công nghiệp và vấn đề về bảo
vệ môi trường [7].
Chú thích:
(1) Tìm đọc thêm: The Law of the Sea.
Progress and Progress. Ed. by D. reestone, R. Barnes, D. Ong. Oxford
University Press, 2006; Churchill R.R., Lowe A.V. The law of the
sea. 3nd ed. Manchester University Press, 1999; Public International
Law. An Australian Perspective. 2nd ed./Ed. By Sam Blay, Ryszard
Piotrowicz, Martin Tsamenyi. Oxford University Press, 2005; Reuter
P. Le development de l?ordre Juridique international. Ecrits de
droit international. Paris: Economica, 1995; Bolla Alexander
J., Duff Jonh A., McDorman Ted L. International Ocean Law:
Materials and Commentary. Carolina Academic Press, 2004; The law
of the sea/ Ed. with an Introduction by U.N. Gupta. Vol.II. New
Delhi, 2005; Evans M.D. International Law. 2nd ed. Oxford
University Press, 2006; Cobalev A.A. Luật biển quốc tế hiện đại
và việc áp dụng trong thực tiễn. M., 2003; Bicisev C.A. Luật biển quốc
tế//Giáo trình công pháp quốc tế. M., 2004; Calotcin A.L. Luật
biển quốc tế//Giáo trình công pháp quốc tế. M., 2001; Gusuliac V.N.
Luật biển quốc tế (công pháp và tư pháp). M., 2006; Calotcin A.L.,
Gusuliac V.N. Luật biển quốc tế//Giáo trình Luật quốc tế. M., 2003;
Covaleva A.A., Checnichenco S.V. Luật quốc tế. M., 2006;
Scaridov A.S. Luật biển. Xanh – Petebua., 2006.
(2) Tìm đọc: United Nations Conference on the Trade
and evolopment, Geneva. Review of Martime Transport 005, Report
by the UNCTAD secretariat/UN. New York
and Geneva, 2005; Báo cáo
tóm tắt của Ban thư ký Liên ợp quốc về vận tải biển năm 2004 tại Hội
nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển. Genever, 2004.
(3) Tìm đọc: Izovetia, 2003. Ngày 03 tháng 12 năm 2003.
(4) Đọc thêm: Báo Pháp luật, Số 351 (1868), 23.12.2008, Tr.16.
(5) http://vietbao.vn/index2.php?option=com_content&task=view&id=62247206&pop=1&p…
(6)
Điều 51 Hiến chương LHQ quy định “Không có một điều, khoản nào
trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ chính đáng
của cá nhân hay tập thể trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn
công vũ trang cho đến khi HĐBA chưa áp dụng những biện pháp cần thiết
để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp mà các thành
viên LHQ áp dụng trong việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy
phải được báo ngay cho HĐBA và không được làm ảnh hưởng gì đến quyền
hạn và trách nhiệm của HĐBA. Chiếu theo Hiến chương này, bất kỳ
lúc nào HĐBA áp dụng những hành động mà Hội đồng thấy cần thiết để
duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế”.
(7) Tìm đọc: S.V. Molsov, Lịch sử biển quốc tế và việc pháp điển hoá. M., 1987. Tr.67-68.
(8) http//vi.wikipedia.org./
(9) Xem cụ thể thêm: L.V. Scalova, Khái niệm và quy chế pháp lý biển cả. M., 1988. -Tr. 11-14.
(10) Nhiều nhà khoa học có các quan điểm phân
chia các giai đoạn khác nhau. Ví dụ, theo Calotcin A.L. thi
giai đoạn 1, là từ khi chuẩn bị và thông qua công ước về luật biển
năm 1958; giai đoạn 2, từ sau công ước năm 1960; và giai đoạn 3, là từ
khi chuẩn bị công ước năm 1982 (Xem.: Calotcin A.L. M., 1972. Tr.
26-30). Hoặc là, theo Gusuliac V.N. cho rằng, trong lịch sử phát
triển luật biển quốc tế hiện đại có thể chia thành hai giai
đoạn, giai đoạn 1 gắn với sự thông qua công ước về luật biển năm 1958;
và giai đoạn 2 là từ hội nghị quốc tế lần 3 về luật biển 1973-1982
(Xem.: Gusuliac V.N. Luật biển. M., 2000. Tr.7) .
(11) Tìm đọc thêm: Gureeva S.A. Giáo trình Luật
biển quốc tế. M., 2003; Colosova U.M và Cudonhesov V.I. Luật quốc tế.
M., 1955. -Tr.457-459; Tuncin G.I. Luật quốc tế. M., 1982.
-Tr. 413-415; Basegov U.G. Đại dương: pháp luật, chiónh trị
và ngoại giao. M., 1983. -Tr. 87-96; Labrecque Georges. Les
Frontieres Maritimes Internationales. Geopolitique de la
delimitation en mer. Collection Raoul-Dandurand.
France-Hongrie-Italie. Paris, 2004; Clingan Thomas A. Maritime
Boundary// The Law of the Sea. Ocean Law and Policy. New York;
Oxford, 1994. P.225-229; Elferink Alex G. Oude. The Law and Politics
of the Maritime Boundary Delimitations of the Russian
Federation. Part 2//The International Journal of Marine and
Coastal Law. 1997. Vol. 12. No1. P.5-35; Duff John A. A Note on
the United States and the Law of the Sea: Looking Back and
Moving Forward// Ocean Dovolopment and International Law.
2004. Vol.35.ạ3. P. 195-219; Rosenne Shabtai. Geography in
International Maritime Boundary-Making// Law of the Sea/ Ed. by
Hugo Caminos. England, 2001. P.225-240; Kwiatkowska Barbara.
Equitable Maritime Boundary Delimitation – A Legal Perspective//
Law of the Sea/ Ed. by Hugo Caminos. England, 2001. P.241-260.
(12) Tìm đọc thêm: Scott Shirley V.
Convention as a Constitutional Regime for the Oceans//
Stability and Change in the Law of the Sea: The Role of
the LOS Convention/ Ed. By Alex G. Oude Elferink. Leiden;
Boston, 2005. P.9-38; Treves Tullio. The General Assembly and
the Meeting of States Parties in the Implementation of the
LOS Covention//Ibid. P.55-74; Churchill R.R. The Impact of
State Practice on the Jurisdictional Framework contained in the
LOS
Covention//Ibid. P.9-144; Freestone David, Elferink Alex G.
Oude. Flexibility and Innovation in the Law of the Sea – Will the LOS
Convention Amendment Procedures Ever Be Used?//Ibid. P.169-222; Joyner
Christopher C., Martell Elizabeth. Looking Back to see Ahead: UNCLOS
III and Lessons for Global Commons Law//International Law.
Classic and Contemporary Readings/Ed. by Charlotte Ku
and Paul F.
Diehl. London, 2003. P.441-469; Boyle Alan E. Further
development of the Law of the Sea Convention: mechanisms for
change// International and
Comparative Law Quarterly. 2005.
No54 (3). P.563-584; Song Yann-Huei. Declarations and Statements
with respect to the 1982 UNCLOS: potential legal disputes
between the United States and China after U.S. accession to the
Convention// Ocean Development and International Law. 2005. No36 (3).
P. 261-289; Treves Tullio. The Law of the Sea Convention. Ten Years
after Entry into Force: Positive Developments and Reasons for
Concern// Bringing New Law to Ocean Waters/Ed. by David D.
Caron, Harry N. Scheiber. Leiden; Boston. 2004, Vol.47. P.349-354;
Calotcin A.L. Công ước Liên hợp quốc về Luật biển: Ý nghĩa
và các quan điểm mới trong áp dụng//Luật quốc tế. 2001. số 4
(13).
(13) Hiện nay đã có 13 Công ước quốc tế có định hướng chống khủng bố.
(14) Đọc thêm: Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính
phủ Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa, Việt Nam thiết lập vùng đặc quyền kinh tế là 200 hảI
lý; Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở.
(15) Theo điều 122 Công ước năm 1982 thì biển kín
hay biển nửa kín là một vịnh, một vũng hay một vùng biển do hai hay
nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với
đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn chủ yếu do các lãnh hải
và các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành.
(16) Declaration of Judge Kolodkin. Case No13. The
“Juno Trader” Case (Saint Vincent and the Grenadines v.
Guinea-Bissau), Prompt Release. Judgment of 18 December 2004//
www.itlos.org/start2_en.html
Tài liệu tham khảo
[1] Lê Văn Bính, Tiệm cận các quy phạm Luật quốc tế, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế-Luật 24 (2008) 93.
[2]
I.A. Brounli, Luật quốc tế, Quyển 1, M., 1977; A.L. Calotcin,
Đại dương, Chế độ pháp lý quốc tế, Những vấn đề cơ bản, M., 1973.
[3] U.G. Basegov, Đại dương: pháp luật, chính trị và ngoại giao, M., 1983.
[4] G.I. Cudieucov, Luật quốc tế, Phần chung, Cadan, 2007.
5]
D.D. Larson, Conventional, Customary, and Consensual Law in
the United Nations Convention on the Law of the Sea, Ocean
Development and International Law 25 (1994) 83; D.A. Govrilin, Những
vấn đề lý luận trong thực
hiện Công ước Luật biển 1982 trong hệ thống pháp luật Nga, Tạp chí Luật Quốc tế 4 (2001) 179.
[6] A.L. Calotcin, Công ước Liên hợp quốc về
Luật biển: Ý nghĩa và các quan điểm mới trong áp dụng, Tạp chí
Luật quốc tế 4 (2001) 383.
[7] A. Duff John, A Note on the United
States and the Law of the Sea: Looking Back and Moving Forwrad,
Ocean Development and International Law 35 (2004) 195.
Guinea-Bissau), Prompt Release. Judgment of 18 December 2004// www.itlos.org/start2_en.html
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI - LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội