Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài về giáo dục
Bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tiêu đề "đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà". Được biết, bài viết đã có sự tham khảo của một số nhà khoa học, nhà giáo.
Trong bài viết hơn
4.000 từ này, có nhiều vấn đề đã từng đặt ra từ trước tới nay; đồng thời nêu 6
vấn đề "cơ bản và cấp bách" nhằm "triển khai có
kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào tạo. Để rộng đường dư luận,
VietNamNet giới thiệu bài viết này.
Đổi mới có tính cách mạng nền giáo
dục và đào tạo của nước nhà
Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ và
năng lực sáng tạo của con người Việt Nam và cộng đồng dân tộc Việt Nam, là động
lực quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đưa nước ta tiến lên nhanh và vững, hội nhập quốc tế thắng lợi, sánh vai cùng
các nước tiên tiến trên thế giới.
Đảng ta đã xác định rất đúng đắn: Giáo dục và đào tạo cùng với khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội và sự
nỗ lực phấn đấu của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có một số
tiến bộ mới: Ngân sách đầu tư cho giáo dục nhiều hơn, cơ sở vật chất kỹ thuật
được tăng cường, quy mô giáo dục được mở rộng, trình độ dân trí được nâng cao.
Những tiến bộ ấy đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, cho đến nay, nền giáo dục và đào tạo của nước nhà vẫn tồn tại
nhiều yếu kém, bất cập, từ việc xác định quan điểm và mục tiêu giáo dục đào
tạo, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, đội ngũ thầy giáo, hệ thống
tổ chức cho đến công tác quản lý. Chất lượng giáo dục và đào tạo ở cả phổ thông
và đại học đều thấp. Nội dung chương trình quá tải, sách giáo khoa có nhiều mặt
lạc hậu; cách dạy và học nặng về nhồi nhét kiến thức một cách thụ động, thiếu kết
hợp học với hành, giáo dục và đào tạo với thực tiễn kinh tế, sản xuất và đời
sống. Học sinh, sinh viên kém năng lực chủ động, sáng tạo, kém khả năng thực
hành, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước trong tình hình mới.
Hiện tượng mua bằng cấp, gian lận trong thi cử, bệnh chạy theo thành tích còn
phổ biến. Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sáng kiến tiến hành cuộc vận
động “hai không”, kết quả bước đầu cho thấy, sự yếu kém về chất lượng giáo dục
và đào tạo đã bộc lộ một cách rất đáng lo ngại. Sự bất cập thể hiện ở cả ba
phương diện: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài.
Nhìn chung, hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta đang tụt hậu xa hơn so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới (1). Thực trạng này đã sớm được
phát hiện. Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết và chủ trương đúng đắn mà
chưa được thực hiện nghiêm túc. Mấy năm qua, chúng ta đã trăn trở tìm tòi cách
giải quyết, nhưng tình hình chuyển biến rất chậm. Cho đến nay, vẫn còn những
quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau chưa được đưa ra trao đổi, bàn
bạc để tìm ra phương sách chấn chỉnh có hiệu quả. Sự yếu kém, bất cập kéo dài
của hệ thống giáo dục và đào tạo đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
kinh tế, văn hóa và xã hội.
Nhìn lại tình hình đất nước, trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi
mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy
nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển
(2).
Trong khi Việt Nam bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
nhiều nước đã vượt qua thời đại cách mạng công nghiệp đi vào thời đại cách mạng
thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Khoảng cách về
trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa nước ta với các nước phát triển
trên thế giới, kể cả một số nước trong khu vực, có xu hướng ngày càng mở rộng
thêm, mà một nguyên nhân quan trọng là do chất lượng trí tuệ, năng lực sáng tạo
và kỹ năng chuyên môn còn bất cập của nguồn nhân lực (3).
Trước những thách thức của thời đại cách mạng tri thức gắn liền với quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khi mà nước ta đã trở thành thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong cuộc đua tranh quyết liệt
về mọi mặt, mà chủ yếu là đua tranh về trí tuệ của các quốc gia trên toàn cầu,
sự yếu kém, bất cấp và tụt hậu của giáo dục và đào tạo đang trở thành lực cản
đối với sự phát triển nhanh và vững của đất nước.
Chúng ta đang ở vào thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc và nhanh chóng chưa
từng thấy trong lịch sử nhân loại. Trước những thách thức và yêu cầu của thời
đại mới - thời đại của sự phát triển dựa chủ yếu vào nguồn lực thông tin và tri
thức với xu thế toàn cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia, các nước
trên thế giới, ở mức độ khác nhau, đều thực hiện những thay đổi có tính cách
mạng nền giáo dục và đào tạo. Ngay từ những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, một làn
sóng cải cách giáo dục đã diễn ra trên thế giới, trước tiên là ở các nước công
nghiệp phát triển. Nước Mỹ đã đề ra chương trình cải cách giáo dục 10 điểm để
chuẩn bị hành trang cho người Mỹ tiến vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ
XXI, gần đây lại đưa ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho kỷ nguyên
thông tin. Liên minh châu Âu gồm 29 nước đã thống nhất đổi mới hệ thống giáo
dục, coi việc xây dựng không gian giáo dục và đại học châu Âu, không gian
nghiên cứu châu Âu, không gian tri thức châu Âu là nền tảng cho sự tăng trưởng
mới nhằm biến châu Âu thành một nền kinh tế tri thức hiệu quả nhất trong kỷ
nguyên thông tin và toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI…
Tư tưởng chủ đạo của làn sóng cải cách giáo dục trên thế giới ở cuối Thế kỷ
XX là chuyển hệ thống giáo dục và đào tạo cũ được xây dựng để đáp ứng yêu cầu
của kỷ nguyên công nghiệp cổ điển sang một hệ thống giáo dục và đào tạo
mới thích ứng với những đòi hỏi của kỷ nguyên thông tin và tri thức.
Ngay từ đầu thập niên 90 của Thế kỷ XX, Tổ chức UNESCO nêu lên 4 trụ cột của
cải cách giáo dục đã đặc biệt nhấn mạnh: Thời đại mới đòi hỏi con
người phải có cách nhìn mới, cách nghĩ mới và những kiến thức, kỹ năng mới của
chính thời đại mình. Nói cụ thể hơn, con người mới đó phải có khả
năng tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống và cách nhìn toàn thể; có
năng lực sáng tạo và tinh thần đổi mới; có khả năng thích ứng với sự thay đổi
thường xuyên, đa dạng, phức tạp, đầy biến động bất ngờ và bất định; có năng lực
hành động hiệu quả và tinh thần hợp tác trong một môi trường đa văn hóa của một
thế giới toàn cầu hóa.
Nền giáo dục của kỷ nguyên thông tin là một nền giáo dục cho mọi
người, tạo điều kiện để mọi người được học, giúp cho mọi người
biết cách học, biết cách tự học, học tập liên tục, học suốt đời; là một nền
giáo dục mở và liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáo dục chung của thế
giới.
Nền giáo dục mới là một nền giáo dục hiện đại, sử
dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông, mạng máy tính và Internet để
tổ chức và triển khai quá trình dạy và học với những phương pháp và hình thức
linh hoạt nhằm nâng cao nền tảng văn hóa và tinh thần chung của xã hội, mở ra
những khả năng mới hỗ trợ cho quá trình học tập liên tục, học tập suốt đời, học
ở mọi nơi, mọi lúc, học từ xa và đặc biệt là tự học của mọi người. Học trực
tuyến và tương tác qua mạng Internet sẽ trở thành một hiện tượng toàn cầu…
Chúng ta cần nghiên cứu những quan điểm và bài học kinh nghiệm của các nước
về cải cách giáo dục và đào tạo để có thể vận dụng thích hợp vào hoàn cnh cụ
thể của nước ta.
Mục tiêu sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, đưa
đất nước phát triển nhanh, bền vững, hội nhập quốc tế, sánh vai cùng các nước
tiên tiến trên thế giới trong thế kỷ XXI mà Đại hội X của Đảng đã nêu ra, cũng
cần được hiểu với một tầm nhìn mới, nhận thức mới, bởi
vì trong thế kỷ XXI, các mục tiêu đó chỉ có thể đạt được nếu ta xây dựng được
nước ta trở thành một nước độc lập, có năng lực sáng tạo mạnh mẽ, góp phần tạo
nên những thành tựu và cống hiến đặc sắc, độc đáo vào sự phát triển chung của
một thế giới của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức toàn cầu hóa.
Một nền giáo dục hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội đó phải là một nền
giáo dục mở, hướng tới đối tượng trung tâm là người học, có trách
nhiệm tạo điều kiện và môi trường cho mọi cá nhân người học được trang bị một
nền học vấn vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, vừa hiện đại về tri thức, khoa
học và công nghệ,…
Mỗi con người mà nền giáo dục đó đào tạo phải có: 1. những
hiểu biết và cảm thụ sâu sắc đối với những tinh hoa của truyền thống văn hóa
dân tộc; 2. những kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại; 3. năng lực tư duy
độc lập trên cơ sở kết hợp tư duy khoa học với phương pháp tư duy hệ thống, tư
duy phức hợp, để có khả năng sống và hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo
trong một thế giới phức tạp, đầy những bất định và đổi thay, đan xen những
thách thức và cơ hội…
Trong lúc ấy, nền giáo dục của nước ta về cơ bản vẫn dựa trên mô hình cũ. Để
đưa đất nước phát triển nhanh với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại
trong kỷ nguyên thông tin và tri thức, chúng ta cần tiến hành một
cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào
tạo của nước nhà.
Để thực hiện chủ trương này, cần tập hợp một số chuyên gia hàng đầu về giáo
dục, khoa học và quản lý để giúp Đảng và Nhà nước nghiên cứu, kiểm
điểm, đánh giá tình hình giáo dục và đào tạo một cách khách quan
khoa học với tinh thần nhìn thẳng và sự thật, làm rõ những kết quả đạt được, vạch
rõ những yếu kém, bất cập, đặc biệt làm rõ những nguyên nhân vì
sao mấy năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng tìm cách chấn chỉnh nhưng tình
trạng yếu kém, bất cấp trong giáo dục vẫn tồn tại, chậm chuyển biến, để đi đến
một nhận thức mới, một quyết tâm mới, một chương trình hành động mới làm chuyển
biến căn bản nền giáo dục và đào tạo của nước nhà. Trước hết, cần
đổi mới tư duy về quan điểm và mục tiêu giáo dục và đào tạo, từ
đó mà đổi mới chương trình, nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục, đổi
mới hệ thống tổ chức, công tác quản lý và hệ thống chính sách nhằm hiện đại hóa
nền giáo dục của nước ta phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc
và xu hướng phát triển chung của thời đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát
triển và hiện đại hóa đất nước ta trong tình hình mới.
Ngành giáo dục và đào tạo phải đổi mới tư duy và có quyết tâm cao đối với
công cuộc đổi mới nền giáo dục. Trước mắt, cần rà soát lại các chủ trương,
chính sách về giáo dục và đào tạo được đề ra trong các nghị quyết của Đảng,
trong luật và chiến lược giáo dục của Nhà nước để xác định một kế hoạch, một lộ
trình đổi mới nền giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2020 với yêu cầu nâng cao
một bước rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo.
Để triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào tạo, cần thực
hiện ngay một số vấn đề cơ bản và cấp bách:
Trước hết, cần tổ chức lại và kiện toàn
Hội đồng giáo dục quốc gia cho ngang tầm với nhiệm vụ. Đây là hội
đồng khoa học, chủ yếu làm nhiệm vụ tư vấn cho Trung ương, Quốc hội và Chính
phủ trong việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo ở tầm vĩ mô. Hội đồng phải tập hợp được các nhà giáo dục và khoa học có tâm
huyết, những chuyên gia giỏi, am hiểu hình hình giáo dục trong nước và thế
giới, có uy tín, phần lớn không phụ trách chức vụ quản lý, kể cả những người đã
nghỉ hưu nhưng có năng lực, có kinh nghiệm và còn sức làm việc. Chủ tịch Hội
đồng nên là một nhà khoa học giáo dục có uy tín phụ trách. Hội đồng có quy chế
làm việc chặt chẽ, bảo đảm thực sự dân chủ, tôn trọng những ý kiến khác nhau,
cùng nhau thảo luận đi đến kết luận và đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
Hai là, tổ chức nghiên cứu rà soát lại hệ
thống chương trình giáo dục và sách giáo khoa. Tiếp tục bổ sung,
hoàn thiện, ổn định chương trình làm cơ sở để sớm biên soạn xong
sách giáo khoa chuẩn mực cho mọi bậc học, mọi ngành học trong một
vài năm. Thay đổi cách tổ chức biên soạn chương trình, sách giáo khoa, thực
hiện dân chủ, công khai, tránh độc quyền, có hội đồng thẩm định nghiêm túc,
tránh sửa đi sửa lại, biên soạn kéo dài và thay đổi sách triền miên. Một số nhà
khoa học nêu ý kiến có thể giải quyết vấn đề chương trình và sách giáo khoa
chuẩn cho cả phổ thông và đại học trong một năm với kinh phí 100 tỷ đồng. Những
ý kiến như vậy nên được trao đổi, bàn bạc.
Ba là, cần nghiên cứu tổ chức hệ thống
giáo dục quốc dân cho hợp lý. Sớm chấm dứt tình trạng “vừa thừa
vừa thiếu cả thầy lẫn thợ”. Cấp đại học trước hết phải nâng cao chất lượng về
mọi mặt, phấn đấu đến năm 2020 có một số trường đại học trọng điểm đạt đẳng cấp
quốc tế. Chỉ mở thêm trường đại học khi có đủ điều kiện bảo đảm chất lượng. Sớm
khắc phục tình trạng đào tạo trên đại học tràn lan, không bảo đảm chất lượng.
Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng và thực hiện tốt việc phân luồng ở cấp
phổ thông. Phát triển mạnh hệ thống các trường dạy nghề để đáp ứng kịp nhu cầu
nhân lực có kỹ năng chuyên môn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phấn đấu
trong một thời gian ngắn nhất có thể được, làm cho bằng cấp của nước ta, lao
động kỹ thuật do ta đào tạo ra được thị trường quốc tế thừa nhận.
Hết sức coi trọng phương châm gắn học với hành.
Trường đại học gắn với viện nghiên cứu và các cơ sở kinh tế lớn. Trường dạy
nghề gắn với các cơ sở sản xuất. Trường phổ thông phải tổ chức hướng nghiệp,
gắn với đời sống kinh tế xã hội ở địa phương.
Tiếp tục chống gian lận trong thi cử, chạy theo thành tích giả. Sớm chấm dứt
mọi hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục.
Bốn là, cần triển khai tích cực công tác
phát hiện, tuyển chọn nhân tài, tổ chức đào tạo trong nước và ngoài nước
để sớm có một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, bồi dưỡng thành đội ngũ
giảng viên đại học, đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng của cấp đại học. Nâng
cao chất lượng cấp đại học là cơ sở để nâng cao chất lượng cấp trung học phổ
thông và dạy nghề. Đào tạo đội ngũ thầy giáo có trình độ quốc tế là vấn đề
quyết định để đổi mới, hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà. Coi trọng việc lựa
chọn đúng cán bộ quản lý giáo dục, nhất là chức bộ trưởng, hiệu trưởng các
trường đại học lớn và giám đốc các sở giáo dục. Những cán bộ ấy phải là những
người có tâm và có tầm, có phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ, năng động,
sáng tạo, không bảo thủ giáo điều, có uy tín, có cách làm việc tập hợp được
nhân tài, phát huy được trí tuệ của chuyên gia giỏi, hết lòng vì sự nghiệp giáo
dục.
Để khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ đầu đàn và sự mất cân đối về cơ
cấu, trước mắt, cần có cơ chế và chính sách tiếp tục sử dụng những cán bộ khoa
học và giáo dục đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn đủ sức khỏe, có năng lực chuyên
môn và có tâm huyết.
Mặt khác, cần có chủ trương, chính sách và cơ chế tạo môi trường thuận lợi
để thu hút các nhà khoa học giỏi vào đội ngũ giảng viên cao cấp của các trường
đại học và các viện nghiên cứu, thu hút các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là
các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các
trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam.
Năm là, cần tăng thích đáng đầu tư, và
quan trọng hơn, cần quản lý và sử dụng có hiệu quả ngân sách đầu tư cho giáo
dục và đào tạo. Mức đầu tư phải tạo điều kiện cho giáo dục và đào
tạo đi trước, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Mấy năm
qua, mức đầu tư cho giáo dục và đào tạo (tính theo % GDP và % ngân sách nhà
nước) đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, cần thấy rõ là mức đầu tư cho giáo dục và đào
tạo tính theo đầu người của nước ta còn rất thấp so với nhiều nước trong khu
vực và trên thế giới (4), vì vậy, cần tính toán các mặt để có một mức tăng đáng
kể từ nay đến năm 2020 nhằm tạo nên một sự chuyển biến căn bản về chất lượng và
quy mô giáo dục và đào tạo. Đầu tư từ ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng,
nhưng chắc chắn không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng, bởi vậy, một
nguồn lực quan trọng là cần xác định trách nhiệm, cơ chế và chính sách cụ thể
nhằm huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế và xã hội sử dụng nguồn nhân
lực được đào tạo. Đồng thời, đặc biệt quan tâm việc quản lý, phân bổ và sử dụng
các nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo một cách đúng hướng, hợp lý và hiệu
quả, tránh gây thất thoát, lãng phí.
Dành tỷ lệ đầu tư thích đáng cho việc nâng cấp, từng bước hiện
đại hóa kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo,
đặc biệt là nguồn thông tin tư liệu, các trung tâm thử nghiệm, các cơ sở dạy
nghề và sản xuất thử, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ và tin học.
Cuối năm 2000, Trung ương đã có chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục và đào tạo vẫn còn hạn chế, còn kém
so với các nước trong khu vực. Để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng
giáo dục, cần có chủ trương và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các giáo
viên, học sinh, sinh viên được dễ dàng sử dụng máy tính và Internet trong giảng
dạy, nghiên cứu và học tập. Đồng thời, cần nghiên cứu thực hiện chủ trương phổ
cập tiếng Anh để nâng cao hiệu quả sử dụng máy tính và Internet trong giáo dục
và đào tạo, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong hoạt động quản lý và kinh
doanh (5).
Sáu, nền giáo dục của ta là nền giáo dục
của dân, vì dân, do dân. Dân chủ và công bằng là tính ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa, trước hết phải được thể hiện trong giáo dục và y tế,
hai lĩnh vực trực tiếp bồi dưỡng con người. Bác Hồ mong muốn “ai cũng được học
hành”. Vì vậy, xu hướng đúng đắn là phải tiến tới bỏ học phí. Nhiều nước tư bản
cũng đã bỏ học phí ở cấp phổ thông, có nước bỏ học phí ở cấp đại học. Đất nước Cuba còn nhiều
khó khăn vẫn kiên trì thực hiện học tập và chữa bệnh miễn phí. Vì vậy, không lý
gì ta lại chủ trương tăng học phí tràn lan (6). Phải kiên quyết thực hiện không
thu học phí đối với giáo dục phổ cập theo đúng tinh thần của Hiến pháp. Mặt
khác, cần nghiên cứu kỹ chế độ học phí theo hướng không tăng mà giảm dần, tiến
tới bỏ học phí ở cấp phổ thông rồi tiến đến bỏ học phí ở cấp đại học. Ở cấp mẫu
giáo, mầm non, không nên hình thành một loại trường cho các cháu con nhà giàu
và một loại trường cho các cháu con nhà nghèo. Nên nghiên cứu vận dụng cơ chế
khuyến khích cạnh tranh dạy tốt, học tốt, nhưng không nên phát triển tư nhân
hóa trường công, phát triển xu hướng thương mại hóa giáo dục, coi nhà trường là
tổ chức kinh doanh để thu lợi nhuận dưới danh nghĩa “xã hội hóa giáo dục”,
không đúng với tinh thần chủ trương của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây
dựng nền giáo dục của nhân dân, vì nhân dân.
*************
Đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền GD-ĐT là một
điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững trên
con đường hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và sánh vai cùng các quốc gia
tiên tiến trên thế giới trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa.
____________________________________
(1) Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2006: Giáo dục Việt Nam đang bị tụt
hậu so với các nước khác trong khu vực, chỉ có 2% dân số được học trong thời
gian trên 13 năm. Việt Nam xếp hàng chót trong khu vực châu Á nếu xét trong độ
tuổi từ 20 đến 24 chỉ có 10% học lên tới đại học (so với Trung Quốc 15%, Thái
Lan 41%, Hàn Quốc 89%). Tỷ lệ 167 sinh viên/1 vạn dân là rất thấp so với khu
vực và các nước phát triển.
(2) Một nước được coi là “kém phát triển” nếu GDP/người dưới 750 USD/năm
(theo Liên hiệp quốc) và dưới 1.000 USD/năm (theo phân loại và xếp hạng của Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD); GDP/người của Việt Nam hiện nay
khoảng trên dưới 600 USD/năm.
(3) Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), (năm 2005), chất lượng nguồn nhân
lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát.
Báo cáo về phát triển con người của Liên hiệp quốc (UNDP) đánh giá: Việt
Nam tụt hậu so với Trung Quốc 10 năm, Thái Lan 15 năm, Malaysia 20 năm, Hàn
Quốc 25 năm, Singapore 35 năm, Nhật Bản 40 năm.
Nếu tiếp tục tốc độ phát triển như hiện nay (GDP tăng 8% - 8,6% mỗi năm và
GDP/người cứ 10 năm tăng gấp đôi) thì đến năm 2020, Việt Nam vẫn đi sau Thái
Lan 15 năm và GDP/người vẫn thấp hơn nhiều nước trong ASEAN.
(4) Hiện nay, mức đầu tư cho GD-ĐT tính theo đầu người của Việt Nam chỉ bằng
1/8 của Thái Lan và chỉ bằng 1/20 mức trung bình của các nước phát triển.
(5) Hiện nay, khoảng 90% nguồn thông tin, tri thức khoa học và công nghệ
trên internet được viết bằng tiếng Anh.
(6) Hiện nay, tỷ lệ đóng góp giữa nhân dân và nhà nước ở ta là 50/50, trong
khi tỷ lệ đóng góp cao nhất của người dân trên thế giới khoảng 20% (Mỹ 19%,
Pháp 7%, Trung Quốc 12%).
**********************
Đại tướng Võ Nguyên Giáp