Đào tạo Luật sư ở một sóo nước trên thế giới và những kinh nghiệm để hoàn thiện công tác đào tạo Luật sư ở Việt Nam
Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).
Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:
Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân
thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân
luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề
luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành
luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)
Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai
đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua
3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật,
đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề
luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.
Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các
nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law
(Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định
trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công
tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.
1. Đào tạo luật sư ở Pháp
Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là
phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện
gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả
năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession
d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.
Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư do Trung
tâm đào tạo luật sư cấp. Việc giảng dạy ở Trung tâm do các luật sư,
thẩm phán có uy tín và giáo sư đầu ngành đảm nhiệm.
Để được vào học tại Trung tâm, các học viên phải qua
kỳ thi tuyển. Đây là kỳ thi tuyển rất khó, thường tỷ lệ đỗ khoảng 30%.
Việc miễn thi đầu vào khoá học này dành cho một số đối tượng như người
có bằng tiến sĩ luật, các luật gia làm việc trong các hãng luật lớn,
các thẩm phán, giảng viên đại học luật và các công chứng viên. Trung
tâm sẽ đào tạo cả về lý thuyết và thực hành cho học viên trong một khoá
học kéo dài 18 tháng. Khoá học này được chia làm 3 giai đoạn: 6 tháng
đầu các học viên tham gia khoá học tại Trung tâm, 6 tháng tiếp theo các
học viên sẽ được gửi đi học tại một trường đại học, 6 tháng cuối các
học viên thực tập tại văn phòng luật sư.
Ở Pháp đã thực hiện một cuộc c���i cách lớn đối với
việc đào tạo và hành nghề luật sư vào tháng 12/2004, mục đích của cuộc
cải cách này là nâng cao tính thực tiễn, giảm bớt số lượng giờ học lý
thuyết trong khoá đào tạo luật sư. Đặc biệt kỳ thi tuyển đầu vào ở các
khoá học này trở nên vô cùng khó khăn với các đề thi rất khó. Cuối khoá
học, học viên phải trải qua kỳ thi về khả năng hành nghề luật sư và nếu
vượt qua kỳ thi này, các học viên sẽ được cấp Chứng chỉ về khả năng
hành nghề Luật sư.
Người có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư
được ghi tên vào danh sách luật sư tập sự của một Đoàn luật sư (Điều 12
Luật số 71-1130 ngày 31/12/1971). Trong thời gian 6 tháng đầu, luật sư
vẫn phải tiếp tục học tập tại Trung tâm đào tạo luật sư sau đó luật sư
tập sự tại Văn phòng luật sư hoặc Toà án khoảng 1 năm. 6 tháng còn lại,
luật sư có thể tập sự tại Văn phòng công chứng, Văn phòng kiểm toán
hoặc Ban pháp luật của doanh nghiệp. Kết thúc 2 năm tập sự, luật sư tập
sự được Trung tâm đào tạo luật sư chứng nhận hoàn tất chương trình tập
sự và có thể trở thành luật sư chính thức (Điều 79 Sắc lệnh ngày
31/12/1991)[2].
2. Đào tạo luật sư ở Anh
Ở Anh, để trở thành luật sư không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật[3].
Việc đào tạo luật sư ở Anh không chú trọng tính bài
bản mà thiên về thực tiễn, các luật sư Anh được đào tạo chủ yếu về thủ
tục tố tụng và thu thập, xác minh chứng cứ bởi theo pháp luật Anh, về
nguyên tắc, việc thực hiện quá trình tố tụng là trách nhiệm của các bên
(thông qua luật sư của mình), vai trò của thẩm phán trong xét xử chỉ là
đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục tố tụng[4].
Nghề luật sư ở Anh được xây dựng trên mô hình tổ
chức tư pháp và tố tụng của Anh được hình thành từ thế kỷ 12-13. Luật
sư Anh gồm hai loại: luật sư bào chữa (barristors) và luật sư tư vấn
(solicitors) – đây là điểm khác biệt xuất phát từ đặc thù của hệ thống
án lệ.
Các luật sư Anh chịu sự quản lý của các tổ chức luật sư – Inns of Court và Law Society.
Inns of Court hình thành từ đầu thế kỷ 14, có thư
viện luật và là nơi mở các khoá đào tạo cho những người muốn trở thành
luật sư biện hộ. Thời Trung cổ, các sinh viên luật đến London để học và
thực tập bên cạnh các thẩm phán tại Toà án cấp cao đã ăn, ngủ tại Inns
of Court – thực ra là khu ăn ở của các luật gia trong Toà án. Mỗi Inn
of Court có một nhà thờ, một thư viện và một đại sảnh – nơi mọi người
ăn uống khi đến bữa, đồng thời cũng là nơi hội họp và giảng dạy về thực
tiễn[5].
Người muốn trở thành luật sư biện hộ phải là một
khoá sinh của Inn of Court để được đào tạo và phải thi đỗ trong kỳ thi
công nhận luật sư biện hộ. Thời gian đào tạo ở các Inn of Court được đo
bằng các “kỳ ăn trưa” thường kéo dài khoảng 3 tuần tuỳ Inn of Court quy
định. Thông thường mỗi năm có khoảng 4 “kỳ ăn trưa” để đào tạo các khoá
sinh. Trong mỗi “kỳ ăn trưa”, khoá sinh phải ăn trưa ít nhất ba lần
trong đại sảnh của Inn of Court. Để trở thành luật sư biện hộ, khoá
sinh phải trả qua ít nhất tám “kỳ ăn trưa”. Thời xưa, các bữa ăn trưa
được coi là để giảm bớt khoảng cách giữa các luật sư biện hộ chính thức
và các khóa sinh, ngày nay ở Anh việc ăn trưa cùng để đào tạo phần
nhiều mang tính chất nghi lễ.
Việc công nhận luật sư biện hộ do Hội đồng của Inn
of Court (Bencher of Inn) thực hiện sau khi khoá sinh đã thi đỗ kỳ thi
lý thuyết và thực hành và trải qua thời gian thực tập một năm[6].
Hội Luật sư (Law Society) được thành lập từ thế kỷ
18 là tổ chức tập hợp các luật sư tư vấn. Hội đã ban hành Bộ luật ứng
xử (Code of Conduct) bao gồm các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghề
nghiệp của các luật sư tư vấn. Để trở thành luật sư tư vấn chỉ cần học
9 tháng tại Trường luật của Hội Luật sư (với các môn học gắn với thực
tế như lập hợp đồng bất động sản, luật thuế, luật thừa kế, luật thương
mại, luật công ty…), thi đỗ kỳ thi chuyên môn do Hội Luật sư tổ chức và
trải qua hai năm tập sự ở một trong những văn phòng luật sư tư vấn với
tư cách nhân viên (article clek).
3. Đào tạo luật sư ở Mỹ
Mỹ được coi là nước có nghề luật sư phát triển nhất
thế giới. Ở Mỹ có khoảng 1 triệu luật sư (trung bình 220 người dân có
một luật sư), việc đào tạo luật sư ở Mỹ có nhiều điểm đáng chú ý.
Nghề luật sư ở Mỹ ra đời muộn hơn so với nghề luật
sư ở các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức. Nước Mỹ với thể chế liên
bang, tính đa dạng của các bang thành viên và sắc tộc đòi hỏi phải có
mô hình tư pháp riêng và mô hình nghề luật thống nhất. Mô hình này ra
đời trong bối cảnh môi trường pháp lý và xã hội đặc thù, ở đó nhà nước
giảm thiểu sự can thiệp vào đời sống xã hội, trong tố tụng áp dụng
nguyên tắc đối kháng, tại phiên toà thẩm phán và bồi thẩm đoàn chỉ căn
cứ vào những gì họ nghe thấy tại phiên toà để đưa ra phán quyết của
mình. Trong phòng xử án luật sư không bảo vệ công lý mà bảo vệ cho lý
lẽ của mình. Người Mỹ có ý thức rằng chỉ cần luật sư giỏi là họ có cơ
may thắng kiện và trên thực tế điều đó không phải là không có cơ sở.
Các luật sư Mỹ, dù có khác biệt về chuyên môn, danh
tính và thu nhập nhưng đều làm một nghề có tính thống nhất và cùng có
bằng cấp, học vấn và được đào tạo cơ bản chính thức như nhau. Hầu hết
các bang ở Mỹ đều đòi hỏi người muốn trở thành luật sư phải hoàn thành
4 năm cao đẳng sau đó là 3 năm ở một trong 185 trường luật được Hội
Luật gia Hoa Kỳ công nhận, cuối cùng phải đỗ kỳ thi công nhận luật sư.
Kỳ thi công nhận luật sư của bang thường kéo dài từ hai đến ba ngày và
gồm ít nhất hai phần: phần thi khách quan (Thi Luật sư Liên bang của Uỷ
ban Quốc gia Giám khảo Luật sư (NCBE) kiểm tra kiến thức cơ bản về các
vấn đề nền tảng như hợp đồng, tài sản, vi phạm dân sự, luật tố tụng và
luật hiến pháp; phần thi viết bài luận về các chủ đề. Việc sử dụng Bài
kiểm tra trắc nghiệm Multistate Perfomance Test (kiểm tra kỹ năng luật
sư bằng cách đưa ra tình huống thực tế và những nguyên tắc pháp lý áp
dụng cho tình huống để yêu cầu thí sinh đưa ra văn kiện pháp lý (hợp
đồng, lời biện hộ…) cũng được sử dụng phổ biến.
Có tới 50-80% thí sinh đỗ trong kỳ thi công nhận
luật sư này nên việc được nhận vào học ở trường luật là điều kiện mấu
chốt để được chấp nhận làm luật sư ở Mỹ. Việc tuyển sinh vào trường
luật có tính chọn lọc cao và được quyết định bởi kết quả học ở bậc cao
đẳng và kết quả trong kỳ thi tuyển sinh LSAT. Ví dụ: Trường luật Yale
có 5000 thí sinh nộp đơn xin học trên tổng số 170 chỉ tiêu tuyển sinh.
Chi phí để vào học ở trường luật cũng là rào cản đáng phải kể đến: sinh
viên ở các trường luật tư phải đóng khoảng 30.000 USD mỗi năm, sinh
viên ở các trường luật công cũng phải đóng khoảng 15.000 – 20.000 USD
mỗi năm[7].
Ở các trường luật đều dạy giống nhau trong năm đầu
tiên với các khóa học về tài sản, hợp đồng, các vụ án dân sự, trình tự
thủ tục, luật hình sự và tất cả được dạy chủ yếu theo phương pháp giảng
tích cực (đối thoại với sinh viên) và phương pháp tình huống (case
study). Theo yêu cầu của giáo sư, sinh viên phải đọc tài liệu trước khi
đến lớp, bao gồm: các bản án (case method), các văn bản pháp luật, học
thuyết pháp lý liên quan, một số bài viết về kinh tế và xã hội học
(modified case method). Trong hầu hết các giờ học, người ta sử dụng
phương pháp Socrate, theo đó sinh viên làm việc theo nhóm dưới sự chỉ
đạo của giáo sư, trình bày về những gì họ đã học. Giáo sư sẽ đặt câu
hỏi cho các học viên, thay đổi tình tiết các vụ việc…Đối với sinh viên
từ năm thứ ba trong trường luật có thể áp dụng phương pháp thực hành
trực tiếp (clinical method), theo đó một sinh viên tham gia tư vấn và
đại diện cho khách hàng thực sự trong khuôn khổ trợ giúp tư pháp dưới
sự theo dõi của luật sư – đồng thời là giáo sư. Các trường luật hướng
tới việc đào tạo những con người có khả năng tư duy, có trình độ lý
luận, có năng lực làm việc độc lập. Sinh viên phải nỗ lực trong nghiên
cứu, tìm tòi, phân tích các văn bản luật cũng như tình tiết vụ việc cụ
thể để có thể đưa ra các quan điểm, ý kiến và cách lập luận thuyết phục
nhất[8]. Ở Mỹ có xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết và đào tạo
nghề trong chương trình trường luật để sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ
cần qua thời gian tập sự ngắn đã có thể làm việc được.
Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo sinh
viên luật suy nghĩ và hành động như những luật sư ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng
việc kết hợp các giảng viên chính thức (đa số đều có kinh nghiệm trong
nghề luật trước khi tham gia giảng dạy luật) và những thẩm phán có kinh
nghiệm tham gia giảng dạy là phù hợp nhất để đào tạo nghề cho các luật
sư tương lai.
Trong đào tạo luật sư ở Mỹ phải kể đến vai trò của
Hội Luật gia Hoa Kỳ (ABA) – tổ chức quốc gia về ngành luật ở Mỹ. ABA đã
xác định rằng cần phải xây dựng một quy trình quốc gia để đảm bảo chất
lượng đào tạo luật sư. Năm 1921 ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu
chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và danh sách các trường luật
được công nhận là đáp ứng được tiêu chuẩn này[9].
Năm 1992, Ban Giáo dục Pháp luật và Công nhận Luật
sư của Hội Luật gia Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo MacCrate về tình hình
giáo dục và công tác đào tạo. Báo cáo được công nhận trong toàn nước Mỹ
như văn bản quan trọng trong phát triển đội ngũ luật sư. Báo cáo
MacCrate coi những kỹ năng và giá trị sau đây có ý nghĩa vô cùng quan
trọng để có thể hành nghề luật sư một cách thành thạo:
- Các kỹ năng: Giải quyết vấn đề; phân tích và suy
luận pháp lý; nghiên cứu pháp luật; điều tra thực tế; giao tiếp; tư
vấn; thương lượng; kiến thức về tranh tụng và các thủ tục giải quyết
tranh chấp; tổ chức và quản lý công việc pháp lý; nhận biết và giải
quyết các tình huống khó xử về đạo đức.
- Các giá trị: Đại diện theo đúng thẩm quyền; đấu tranh thúc đẩy công lý, công bằng và đạo đức; tự phát triển về chuyên môn.
Báo cáo MacCrate thừa nhận rằng sẽ không hợp lý khi
trông đợi các trường luật gánh vác nhiệm vụ biến các sinh viên dù rất
có năng lực thành những luật sư hoàn hảo được cấp giấy phép giải quyết
các vấn đề pháp luật. Ba năm học tại trường luật mới chỉ tạo dựng được
nền tảng. Báo cáo nhấn mạnh: “việc phát triển các kỹ năng và giá trị
của người luật sư có khả năng và trách nhiệm là một quá trình liên tục,
nó bắt đầu từ trước khi vào học tại trường luật, đạt tới mức định hình
rõ nét và chuyên sâu trong quá trình học tại trường luật và sẽ tiếp tục
trong suốt quá trình hành nghề luật sư.
Các chương trình giáo dục pháp luật thường xuyên
trong suốt quá trình hành nghề luật sư có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc giảng dạy những kỹ năng và giá trị mà người luật sư cần phải
có để đạt được và duy trì những chuẩn mực nghề nghiệp. Các chương trình
giáo dục pháp luật thường xuyên cho luật sư có nhiều hình thức khác
nhau, được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau và do nhiều tổ
chức thực hiện việc giáo dục, quản lý.
Đào tạo luật sư tại các công ty luật: Các công
ty luật lớn ở Mỹ thường tiến hành giáo dục thường xuyên cho luật sư một
cách chính thức. Chương trình đào tạo có thể khác nhau nhưng việc đào
tạo luật sư tại nơi làm việc sẽ tạo điều kiện cho nội dung giảng dạy
phù hợp với yêu cầu của chính công ty. Hình thức đào tạo tại nơi làm
việc – đặc biệt cho luật sư mới còn gồm các hội thảo về soạn thảo văn
bản pháp lý, kỹ năng đàm phán hợp đồng, kỹ năng kiện tụng…Các công ty
luật có quy mô nhỏ không tổ chức các chương trình đào tạo nội bộ chính
thức cho luật sư mới mà thường cập nhật các kỹ năng hành nghề luật sư
ngay trong quá trình làm việc.
Đào tạo luật sư tại các tổ chức đào tạo: Có rất
nhiều tổ chức đào tạo thường xuyên như Trung tâm Giáo dục Pháp luật
Thường xuyên của Hội Luật gia Hoa kỳ, Uỷ ban Giáo dục Pháp luật Thường
xuyên của Viện Luật Hoa Kỳ, Hội Luật gia Hoa Kỳ, các đoàn luật sư của
bang và địa phương, các trường luật…Thông qua Trung tâm Giáo dục Pháp
luật Thường xuyên, Hội Luật gia Hoa kỳ tiến hành đào tạo luật sư dưới
một loạt hình thức như các cuộc hội thảo từ 1-3 ngày nhằm cập nhật hàng
năm về các lĩnh vực pháp luật thực tế, các hội nghị qua truyền hình,
qua mạng Internet…Diễn giả trong các hội thảo, hội nghị này là những
chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực pháp luật cụ thể được trình bày.
Một ưu điểm dễ nhận thấy của hình thức đào tạo qua thảo luận trực tiếp
này là khả năng tương tác hay thiết lập mạng lưới quan hệ giữa các luật
sư vốn hoạt động trong cùng lĩnh vực hoặc trong các lĩnh vực có liên
quan[10].
Mỗi bang trong số 50 bang của Mỹ đều quy định luật
sư phải có giấy phép mới được hành nghề tại bang đó và mỗi bang cũng
đặt ra các yêu cầu của riêng mình về việc duy trì hiệu lực của giấy
phép hành nghề luật. 40 trong số 50 bang của Mỹ quy định luật sư phải
thường xuyên tham gia các khoá học giáo dục pháp luật thường xuyên. Hội
luật gia Hoa Kỳ đã thông qua Quy định mẫu về giáo dục pháp luật thường
xuyên năm 1986 làm chuẩn mực cho tổ chức đào tạo cho các luật sư. Trên
cơ sở đó, các bang đã thông qua quy định của riêng mình với số giờ phải
học tối thiểu của luật sư từ 12 đến 15 giờ trong một năm. Ngoài ra còn
có những quy định riêng đối với luật sư mới vào nghề: những luật sư
hành nghề chưa tới 3 năm có thể phải qua một số khoá học căn bản về kỹ
năng ngay sau khi gia nhập đoàn luật sư. Luật sư ở mọi trình độ đều bắt
buộc phải tham gia một số giờ đào tạo nhất định về đạo đức nghề nghiệp,
về chuyên môn luật sư…
4. Đào tạo luật sư ở Đức
Ở Đức không tồn tại mô hình đạo tạo riêng cho từng
nghề luật như nghề thẩm phán, nghề luật sư… mà chỉ có một quy trình đào
tạo chung cho mọi nghề luật. Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi
tốt nghiệp có rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do ngành toà
án ít có nhu cầu bổ sung. Đồng thời, biên chế trong các cơ quan công tố
và cơ quan hành chính nhà nước luôn có giới hạn khiến đa số sinh viên
luật ra trường phải chọn nghề luật sư để kiếm sống. Tình trạng này
khiến chúng ta có thể có nhận xét rằng đào tạo luật ở Đức thực chất là
đào tạo các luật sư.
Đức là nước có truyền thống đào tạo nghề luật nói
chung và đào tạo luật sư nói riêng khá lâu đời. Từ thế kỷ XIV, các
trường đại học tổng hợp đầu tiên của Đức, trong đó có khoa luật đã được
thành lập – đến nay, các khoa luật này vẫn là những cơ sở đào tạo luật
chính thức của Đức.
Ở Đức, toàn bộ thời gian đào tạo luật được chia làm
hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất – đào tạo pháp luật ít nhất là ba năm
rưỡi tại trường đại học. Giai đoạn thứ hai – đào tạo thực hành nghề
luật kéo dài ít nhất là hai năm.
Bất kỳ ai, nếu muốn trở thành luật sư, công chứng
viên, thẩm phán, công tố viên… đều phải thi tuyển hoặc được xét tuyển
vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại các trường đại
học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa luật trực
thuộc các trường đại học nằm rải rác ở 16 bang).
Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải
học trong một khoảng thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học
mang tính cơ sở về khoa học luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật,
lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và các môn luật mang
tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật
hành chính, luật tố tụng dân sự…
Bên cạnh các môn học mang tính bắt buộc thì sinh
viên luật ở Đức cũng có các môn học tự chọn, đó có thể là môn luật về
thuế, luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ…
Việc thiết kế các môn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương
trình của mỗi trường.
Về phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang
xuất hiện hai quan điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan
điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều
nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương
pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần
giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy
các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào tạo pháp
luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo
pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp
luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn diện
cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang
tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên,
các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, nhiều khoa luật trên lãnh thổ
của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm lượng lý thuyết và thực
tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được minh chứng bằng
việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các khoa
luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu
hỏi của các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về
thực tiễn pháp luật ngày càng tăng.
Nếu nhìn vào quy trình tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và
việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là thi tốt
nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo
pháp luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ
Tư pháp của mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi
này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và
phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất ở bang
Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành bài thi trong
thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh viên
luật nào. Theo tài liệu thống kê được công bố năm 2003, thì chỉ có
khoảng 65% sinh viên đạt yêu cầu, còn 35% sinh viên phải thi lại trong
các lần thi tiếp theo.
Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất,
các sinh viên luật sẽ được tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai – giai
đoạn đào tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo các kiến thức pháp luật thực
hành. Việc đào tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo dài hai năm và
cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu không vượt qua kỳ thi này thì
sinh viên luật sẽ không nhận được học vị cử nhân. Giai đoạn đào tạo
kiến thức và kỹ năng của các nghề luật cụ thể là một phần không thể
thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học[11]. Pháp luật của Đức quy định
một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên
luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề
luật. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những thẩm
phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật
dù đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán… thì vẫn phải
tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian
sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng
và bốn tháng tập sự cùng với một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời
gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen với các vụ việc thuộc nhiều
lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính… Mức độ tiếp cận với thực
tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập và khả
năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ
quan nói trên, trong thời gian bảy tháng còn lại, họ có thể tùy chọn
tập sự lại ở một trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng
chuyên sâu nghề nghiệp. Trong bảy tháng này, những sinh viên có định
hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn tòa án là nơi tăng cường thực
tiễn. Còn những sinh viên có tham vọng theo nghề luật sư, thì địa chỉ
mà họ thực tập là các công ty luật hoặc các đoàn luật sư. Giai đoạn
thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi
tốt nghiệp. Kỳ thi này còn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt
nghiệp trong giai đoạn thứ nhất.
Tất cả những thí sinh đã qua kỳ thi thứ hai đều có thể đăng ký làm luật sư ở cơ quan tư pháp địa phương và được cơ quan này cấp Giấy phép hành nghề luật sư một cách đương nhiên (chỉ trừ một số trường hợp do Quy chế luật sư quy định)[12]
Điều kiện để trở thành luật sư ở Đức và ở Pháp về cơ
bản là giống nhau, tuy nhiên chương trình đào tạo luật sư ở Đức dài
hơn: ở Pháp có thể trở thành luật sư ở độ tuổi 22-23, ở Đức người ta
phải cố gắng lắm mới có thể trở thành luật sư trước tuổi 30.
Theo con số thống kê năm 2001, toàn Liên bang Đức có
khoảng 110.367 luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư.
Đến tháng 1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật
sư đã lên tới 121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó.
Nghề luật sư ở Đức cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh
ngày càng cao, do đó hình thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư
hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật như: luật hôn nhân
gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính, luật sở hữu trí
tuệ…[13]
5. Đào tạo luật sư ở Nhật Bản[14]
1.1. Nhật Bản là nước áp dụng chế độ tam quyền phân
lập, gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyền lập
pháp thuộc về Quốc hội gồm Thượng nghị viện và hạ nghị viện; quyền hành
pháp thuộc nội các (chính phủ) và quyền tư pháp thuộc toà án.
Ba quyền này can thiệp và tác động lẫn nhau nhằm giữ cân bằng, tránh sự lạm quyền giữa ba hệ thống cơ quan này.
Quyền Tư pháp ở Nhật Bản thuộc về Toà án tối cao và
các toà án địa phương. Theo khoản 1 điều 76 Hiến pháp Nhật bản, toà án
địa phương bao gồm tám toà án khu vực, 50 toà án địa phương, 50 toà án
gia đình, 438 toà giản lược.
Ngoài ra, có hai tổ chức quan trọng khác, mặc dù
không thuộc hệ thống toà án, nhưng cũng được coi là có quyền tư pháp là
viện kiểm sát và hội luật sư.
Vì vậy, các chức danh tư pháp ở Nhật bản là thẩm
phán, kiểm sát viên và luật sư. Bởi lẽ đó, ở Nhật bản có câu “Nâng đỡ
chế độ tư pháp là ba chức danh: thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư”. Đây
cũng có thể coi là quan niệm riêng của Nhật bản về các chức danh tư
pháp.
1.2. Để trở thành người có chức danh tư pháp ở Nhật bản phải qua khoá đào tạo tại Học Viện Tư pháp nhật bản.
Ở nhật bản, việc đào tạo tư pháp được bắt đầu từ năm
1886. Sau khi chế độ phong kiến cuối cùng – Chế độ EDO- sụp đổ năm
1867, nước Nhật bước vào thời kỳ Minh Trị cách tân. Nước Nhật mở rộng
cánh cửa ra thế giới, đặc biệt là các nước Âu- Mỹ. Nhiều thành tựu của
thời kỳ này vẫn còn giữ được giá trị cho đến bây giờ, trong đó có hệ
thống pháp luật và chế độ đào tạo chức danh tư pháp.
Trong thời kỳ đầu, từ năm 1886 đến 1922, việc đào
tạo thẩm phán và kiểm sát viên được đào tạo theo chương trình riêng,
đào tạo luật sư được đào tạo theo chương trình riêng. Việc thi tuyển
những chức danh này cũng được tổ chức theo những chương trình riêng.
Từ năm 1923 đến năm 1946, Nhật Bản bắt đầu tổ chức
kỳ thi chung cho các chức danh tư pháp. Tuy nhiên, chỉ có kỳ thi là
được tổ chức chung, còn sau đó, các thẩm phán và kiểm sát viên tương
lai được đào tạo chương trình riêng, học viên luật sư được đào tạo
chương trình riêng.
Từ năm 1947 đến nay, các chức danh này không chỉ dự
kỳ thi tư pháp quốc gia mà còn được đào tạo một chương trình chung
giống nhau. Đây là kết quả quá trình nước Nhật nhận thức rằng để nâng
cao chất lượng tư pháp, phải nâng cao một cách đồng đều chất lượng của
tất cả các chức danh tư pháp mà không phải chỉ là thẩm phán hay kiểm
sát viên.
1.3. Kỳ thi tư pháp quốc gia được tổ chức mỗi năm
một lần, do Uỷ ban quản lý kỳ thi tư pháp của Bộ Tư pháp thực hiện. Đây
cũng là một điểm đặc sắc trong việc tổ chức đào tạo các chức danh tư
pháp ở Nhật Bản. Bởi lẽ Học Viện tư pháp thuộc Toà án tối cao, nhưng tổ
chức thi tuyển lại do Bộ tư pháp thực hiện (theo chế độ tam quyền phân
lập, Tòa án là cơ quan tư pháp, trong khi đó, Bộ Tư pháp lại thuộc cơ
quan hành pháp). Những người Nhật hiện đại giải thích: quy định này có
lẽ nhằm tạo một cơ chế kiểm soát chất lượng giữa các cơ quan khác nhau.
Để có thể tham dự kỳ thi tư pháp quốc gia, người dự
thi cần phải nộp đơn. Đây là điều kiện duy nhất của người dự tuyển.
Không có điều kiện nào khác, thậm chí không giới hạn về độ tuổi cũng
như bằng cấp chuyên môn. Lịch sử thi tuyển các chức danh tư pháp cũng
đã ghi nhận một thí sinh 12 tuổi thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia. Thậm
chí, người có tiền án, tiền sự cũng có quyền tham gia kỳ thi tư pháp,
dĩ nhiên là phải có mặt để dự thi. Bất kể ai cho rằng mình có thể thi
đậu kỳ thi tư pháp quốc gia đều có quyền dự thi.
Việc không hạn chế điều kiện dự thi kỳ thi tư pháp
quốc gia xuất phát từ quan điểm: nước Nhật cần người tài thực sự để có
thể thực hiện tốt quyền tư pháp. Mà người tài thì có thể do được đào
tạo, học hành, nhưng có thể là bằng con đường tự học, tự trưởng thành
của người đó.
Thực tế, kỳ thi tư pháp quốc gia là một kỳ thi quá
khó khăn (nhiều học viên tư pháp phải dự tới hơn 10 kỳ thi tư pháp quốc
gia mới trúng tuyển), nên phần lớn thí sinh dự tuyển (nếu không nói là
tất cả), đều có bằng cử nhân (có thể là cử nhân luật hoặc cử nhân một
chuyên ngành khác). Người không có bằng cử nhân tham dự kỳ thi tư pháp
quốc gia chỉ chiếm một số lượng rất ít (vài người trong một năm).
Dẫu sao, việc quy định điều kiện dự thi tư pháp quốc
gia như hiện tại đã làm cho việc học đại học luật ở Nhật bản, xét về lý
thuyết gần như chẳng cần thiết và không có ý nghĩa. Thực tế, ở Nhật bản
đã có rất nhiều những cơ sở luyện thi cho kỳ thi tư pháp. dĩ nhiên, ở
đây, người ta chỉ chú trọng ôn luyện kỹ thuật thi cử, chứ không dạy
luật.
Hiện tại, người Nhật cũng nhận thấy sự bất hợp lý và
thiếu khoa học trong cơ chế thi tuyển tư pháp. Mặt khác, để chương
trình đào tạo Đại học luật và đào tạo các chứ danh tư pháp gắn kết với
nhau, bắt đầu từ 2006, nước Nhật bắt đầu áp dụng điều kiện dự thi bắt
buộc người dự thi phải có bằng cao học luật. Để có bằng cao học luật
(thời gian học 2 năm), cần phải có bằng đại học luật hoặc một bằng đại
học khác. Thực hiện kế hoạch cải cách này, bắt đầu từ tháng 4 năm 2004,
nước Nhật sẽ có những Law School (trường luật) đầu tiên đào tạo cao học
luật. Hai năm sau, năm 2006, nước Nhật sẽ có những Master luật đầu tiên
dự kỳ thi tư pháp quốc gia. Bên cạnh đó, chế độ dự thi cũ vẫn tiếp tục
được duy trì trong khoảng 5 năm, cho đến khi điều kiện dự thi mới có
thể được áp dụng triệt để.
1.4. Kỳ thi tư pháp quốc gia có nhiều vòng thi, diễn
ra gần như hết năm, do vậy để có khoá học viên tư pháp, kỳ thi tư pháp
phải được tổ chức từ năm trước.
Vòng thi sơ khảo kiểm tra kiến thức pháp luật cơ bản
là vòng thi đầu tiên dành cho những người không có bằng cử nhân. Hàng
năm, kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ có một vài thí sinh là phải dự tuyển
vòng sơ khảo.
Vòng thi chính bao gồm:
1.4.1. Thi trắc nghiệm: có ba môn thi là Hiến pháp,
Luật dân sự, Luật hình sự. Mỗi bài thi phải làm trong khoảng 3h đồng
hồ. Kỳ thi thường được tổ chức vào ngày chủ nhật và thứ hai của tháng 5
trong năm.
Tỷ lệ thí sinh trượt vòng thi trắc nghiệm là rất lớn:
năm 2002 có 41.500 thí sinh đỗ 6.500 thí sinh
năm 2003 có 45.342 thí sinh đỗ 6.986 thí sinh
1.4.2. Thi viết bài luận: vòng này có năm môn thi
gồm Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại, Luật tố tụng
dân sự, Luật tố tụng hình sự. Mỗi môn phải viết hai bài.
Kỳ thi viết được tổ chức vào trung tuần tháng 7 hàng năm, thường trong các ngày từ ngày 17 đến ngày 20.
Tỷ lệ thí sinh qua vòng thi này như sau:
năm 2002 có 6.500 thí sinh đỗ 1.244 thí sinh
năm 2003 có 6.986 thí sinh đỗ 1.201 thí sinh
1.4.3. Thi vấn đáp là kỳ thi cuối cùng. Các môn thi vấn đáp cũng gồm 5 môn thi giống như kỳ thi viết. Mỗi môn có hai giám khảo.
Do các vòng thi đầu rất khó khăn, nên những thí sinh
vào đến vòng thi vấn đáp đều là những thí sinh rất xuất sắc. Tỷ lệ
người trượt ở vòng thi này rất ít:
năm 2002 có 1.244 thí sinh đỗ 1.183 thí sinh
năm 2003 có 1.201 thí sinh đỗ 1.170 thí sinh
Người thi trượt ở vòng thi vấn đáp có quyền chỉ phải
thi lại vòng thi này (vấn đáp) vào kỳ thi tư pháp của năm tiếp theo, dĩ
nhiên là người này vẫn có nguyện vọng tiếp tục dự thi tư pháp.
Người thi trượt ở các vòng thi khác thì phải tham dự
lại toàn bộ các vòng thi từ đầu. Không có hạn chế nào cho số lần dự thi
kỳ thi tư pháp quốc gia. Việc một người phải qua 8 đến 10 kỳ thi tư
pháp quốc gia mới trúng tuyển không phải là chuyện hiếm ở Nhật Bản.
Trong chương trình đổi mới đào tạo tư pháp tại Nhật
bản, áp dụng từ 2006, kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ có một vòng thi, gồm
thi trắc nghiệm và thi vấn đáp được tổ chức một lần.
Thường thì người trúng tuyển sẽ tham dự ngay khoá
đào tạo của học viện tư pháp. Nhưng cũng có người nhiều năm sau mới
tham dự khoá học. Có người sau khi nghỉ hưu mới bắt đầu tham dự khoá
học. Nghĩa là kết quả của kỳ thi tư pháp quốc gia có giá trị bảo lưu
suốt đời.
1.5. Học viện tư pháp thuộc Toà án tối cao Nhật Bản thực hiện thời gian đào tạo cho một khóa là 18 tháng, phân bổ như sau:
3 THÁNG HỌC TẠI TRƯỜNG
12 THÁNG THỰC TẬP
3 THÁNG HỌC TẠI TRƯỜNG
THI TỐT NGHIỆP
3 tháng thực tập xét xử hình sự
3 tháng thực tập kiểm sát
3 tháng thực tập luật sư
3 tháng thực tập xét xử dân sự
Đặc điểm chung của chương trình đào tạo là đây là
một chương trình đào tạo chung. Trong suốt quá trình học, học viên sẽ
chưa biết mình sau khi tốt nghiệp, sẽ là thẩm phán, luật sư hay kiểm
sát viên. Tất cả các kỹ năng của cả ba chức danh này đều được học như
sau. Quy định này xuất phát từ quan niệm cho rằng, để nền tư pháp phát
triển, trình độ và năng lực của ba chức danh tư pháp là thẩm phán, kiểm
sát viên, luật sư phải đồngđều, phải được đào tạo trong một điều kiện
như nhau.
Một điểm nữa là học viên học viên tư pháp được nhận
lương từ Nhà nước. Nước Nhật quan niệm đây là những người sẽ góp phần
bảo vệ nền công lý, bảo vệ sự ổn định của xã hội, sự phát triển của đất
nước, vì vậy những học viên của Học viên tư pháp được coi là những công
chức dự bị và họ được hưởng mức lương của công chức dự bị.
Tất nhiên, một bộ phận người Nhật không hài lòng với
chế độ lương bổng của học viên Học viện tư pháp. Những người này cho
rằng, đối với những người sẽ trở thành thẩm phán và kiểm sát viên thì
có thể được hưởng lương trong thời gian đào tạo, nhưng những người sẽ
là luật sư sẽ hành nghề tự do, họ kiếm tiền cho bản thân họ thì xã hội
không thể trả tiền cho việc đào tạo họ. Nhưng đại bộ phận người dân
Nhật thì vẫn cho rằng mặc dù luật sư là một nghề tự do, nhưng đó là một
nghề đặc biệt, vì mục tiêu của nghề này không phải là lợi nhuận mà là
các lợi ích công, đảm bảo cho nền công lý được thực thi. Vì vậy, cho
đến thời điểm hiện tại, nước Nhật vẫn trả lương cho tất cả các học viên
tư pháp và người ta sử dụng khái niệm “công chức dự bị” để chỉ các học
viên tư pháp.
Chỉ đến khi tốt nghiệp, căn cứ vào kết quả học tập,
học viên của Học viện tư pháp mới xác định được nghề nghiệp của mình.
Khoảng trên dưới 100 học viên của mỗi khóa đào tạo có thành tích học
tập cao nhất sẽ được lựa chọn về Toà án và sẽ trở thành thẩm phán thông
qua thủ tục bổ nhiệm. Một số lượng cũng tương tự sẽ trở thành kiểm sát
viên. Các số lượng này tương đối ổn định, ít có biến động lớn qua các
năm, căn cứ vào số thẩm phán, kiểm sát viên nghỉ hưu hàng năm.
Để lựa chọn được số lượng người trở thành thẩm phán,
kiểm sát viên, ngoài việc căn cứ vào thành tích học tập, còn phải căn
cứ vào chính nguyện vọng của người được lựa chọn và họ phải qua một kỳ
phỏng vấn trước khi chính thức có quyết định tiếp nhận.
Số còn lại sẽ hành nghề luật sư. Với số lượng người
học, hàng năm Học viện Tư pháp Nhật Bản cung cấp hàng nghìn luật sư cho
xã hội. Đến thời điểm hiện tại, nhu cầu của nước Nhật về luật sư vẫn
chưa có dấu hiệu bão hòa. Hàng năm, nước Nhật vẫn cần hơn một nghìn
người cho cả ba chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên và luật sư.
Dù đối tượng đầu vào, thời gian đào tạo có những
thay đổi nhất định nhưng một điều không hề thay đổi, tính từ gần một
trăm năm nay, ba chức danh Thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư được đào
tạo chung trong một hệ thống đào tạo.
6. Những kinh nghiệm và kết luận
Qua nghiên cứu đào tạo luật sư ở một số nước trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm và kết luận sau:
- Việc giảm bớt tính hàn lâm và đưa các vụ việc thực
tiễn vào giảng dạy các môn luật, việc mời các luật sư và thẩm phán có
uy tín đến giảng bài, việc tăng tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp
luật là xu hướng tất yếu trong đào tạo để cấp bằng cử nhân luật. Học
viện Tư pháp – cơ sở đào tạo nghề luật sư duy nhất của Việt nam hiện
nay đã vận dụng những kinh nghiệm trên vào chương trình đào tạo luật
sư. Vì đặc điểm của Việt nam là các học viên phải qua đào tạo luật và
có bằng cử nhân luật mới được thi vào các khoá đào tạo luật sư nên Học
viện đã chú trọng nhiều đến việc rèn luyện các kỹ năng hành nghề và
giảm việc truyền đạt kiến thức lý thuyết đơn chiều cho học viên. Các
bài giảng về chuyên đề pháp luật chỉ chiếm khoảng 20% chương trình với
nội dung giảng các vấn đề mới trong pháp luật và các kiến thức chuyên
sâu. Các bài giảng vụ việc, phân tích và xử lý các tình huống chiếm
khoảng 50% chương trình. Học viện đã đưa vào giảng dạy nhiều phương
pháp hiện đại như song giảng, giải quyết tình huống cụ thể, diễn án.
Phương pháp song giảng với hai giảng viên cùng lên lớp, một giảng viên
lý thuyết và một giảng viên thực hành (các luật sư có nhiều kinh nghiệm
đang hành nghề) giúp học viện tiếp cận nội dung bài giảng trên nhiều
khía cạnh, cả về lý luận và thực tiễn. Việc sử dụng phương pháp song
giảng rất phù hợp đối với giảng dạy kỹ năng cho học viên, đặc biệt là
các kỹ năng chuẩn bị tham gia phiên tòa, nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị
luận cứ bào chữa, tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên Tòa trong xu
thế mở rộng tranh tụng hiện nay. Phương pháp giải quyết tình huống cũng
là một phương pháp đặc thù phù hợp với việc giảng dạy các kỹ năng tranh
tụng. Dựa trên các hồ sơ tình huống cụ thể giảng viên hướng dẫn cho các
học viên về cách xử lý tình huống. Bằng phương pháp này các học viên
được thực hành phần kỹ năng đã học ngay tại các tình huống cụ thể trên
lớp. Các tình huống được sử dụng vào giảng dạy là các hồ sơ vụ án do
các Tòa án đã xét xử hoặc các văn phòng luật cung cấp và được Học viện
biên tập lại. Phương pháp diễn án là tổ chức một phiên Tòa ngay trên
lớp, các học viên sẽ được tham gia với tư cách luật sư trong một không
khí tranh tụng thực sự trong các phiên tòa giả định. Học viên Học viện
đã tổ chức các buổi diễn án với sự tham gia của cả ba đối tượng đào
tạo: Thẩm phán, Kiểm sát viên và luật sư trong cùng một phiên tòa. Qua
các bài học này học viên được trực tiếp thực hành kỹ năng xét xử, buộc
tội hay gỡ tội.
- Mô hình đào tạo luật ở Mỹ và Đức cho thấy: Cần chú
trọng đào tạo luật sư ngay ở trường đại học, đặc biệt về phương pháp
đào tạo để ngay từ trên ghế nhà trường, sinh viên luật đã được rèn
luyện tư duy của luật sư. Đây là một trong những luận cứ để đề xuất
việc đào tạo cử nhân luật làm tiền đề để đào tạo luật sư ở Học viện Tư
pháp, Bộ Tư pháp. Học viện Tư pháp – “Trung tâm lớn đào tạo cán bộ tư
pháp”[15] sẽ xây dựng nguyên lý và công nghệ đào tạo cử nhân của riêng
mình[16] làm tiền đề để đào tạo luật sư ở bước tiếp theo, đáp ứng nhu
cầu của cải cách tư pháp và quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
- Tiền lệ đào tạo luật sư tranh tụng qua các bữa ăn
trưa ở Inn of Court của Anh có thể là gợi ý để đa dạng hoá hoạt động
đào tạo, tổ chức các cuộc gặp thân mật giữa các thẩm phán, luật sư có
uy tín để truyền đạt kinh nghiệm cho các sinh viên, học viên và luật sư
tập sự trong đào tạo luật sư ở Việt Nam. Tại Học viện Tư pháp sau mỗi
giờ học tình huống, để kết thúc một bài học và chuyển sang bài khác nhà
trường đều tổ chức các buổi đàm thoại giữa các học viên với các luật sư
có nhiều kinh nghiệm để học viên có điều kiện tìm hiểu ở các luật sư về
các vấn đề xung quanh bài học. Các buổi đàm thoại được diễn ra trong
không khí cởi mở và học viên có cơ hội để giải đáp tất cả các vấn đề
còn băn khoăn trong bài học.
- Trong thời gian thực tập, việc sinh viên luật ở
Đức và luật sư tập sự ở Pháp được làm quen với các vụ việc thuộc nhiều
lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính ở nhiều môi trường khác
nhau như: tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao, cơ quan công tố, hội
đồng địa phương bốn tháng và tập sự cùng với một luật sư thực thụ cũng
là một gợi ý cho việc đào tạo luật sư ở Việt Nam. Ở một góc độ nào đó,
việc luật sư được thực tập ở nhiều lĩnh vực khác nhau và nhiều môi
trường khác nhau sẽ giúp luật sư tương lai có kiến thức và kỹ năng tổng
hợp, đồng thời xây dựng được những mối quan hệ cần thiết cho hoạt động
nghề nghiệp.
- Xu hướng của nhiều luật sư Đức hoạt động chuyên
sâu trong một lĩnh vực pháp luật trong điều kiện số luật sư ngày càng
nhiều, sự cạnh tranh trong nghề luật sư ngày càng gay gắt là gợi ý cho
việc đào tạo các luật sư chuyên ngành ở Việt Nam, đặc biệt trong xu thế
hội nhập. Hiện nay Học viện tư pháp chưa có chương trình đào tạo luật
sư chuyên sâu nhưng thay vào đó Khoa đào tạo luật sư đã mở các lớp bồi
dưỡng kiến thức cho luật sư hội nhập với các chuyên đề về nội dung cơ
bản của WTO trong thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại
đầu tư, về các nội dung cơ bản của các hiệp định thương mại khu vực, về
kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế. Việc đào tạo
dưới hình thức các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu cần được tăng
cường hơn nữa cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng lĩnh
vực đào tạo và thời gian đào tạo.
- Kinh nghiệm đào tạo luật ở Đức cho thấy: Việc đánh
giá kết quả học tập qua các kỳ thi với trách nhiệm giám sát, quản lý,
đánh giá kỳ thi, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi của Bộ Tư pháp là đặc
biệt quan trọng. Trong điều kiện thực tế Việt nam hiện nay, các học
viên dự thi vào khoá đào tạo luật sư được đào tạo chương trình cử nhân
luật ở các cơ sở đào tạo khác nhau và theo nhiều hệ đào tạo khác nhau
như hệ đào tạo chuyên tu, hệ đào tạo văn bằng hai, hệ đào tạo tại
chức…vv dẫn đến chất lượng của các học viên không đồng đều. Việc tổ
chức kỳ thi đầu vào dưới sự giám sát của Bộ Tư pháp nhằm mục đích lựa
chọn các học viên có mặt bằng trình độ nhất định để tiếp tục đào tạo
nghề luật sư là đúng đắn và cần thiết, phù hợp tinh thần chỉ đạo không
chỉ chú trọng về số lượng đào tạo mà còn chú trọng về chất lượng đào
tạo.
- Kinh nghiệm đào tạo luật sư trong các chương trình giáo dục thường xuyên ở Mỹ cho thấy: Cần chú trọng đào tạo luật sư ngay cả sau
khi đã cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập Đoàn luật sư. Ở Việt
Nam, việc bồi dưỡng kiến thức sau khi được cấp chứng chỉ đào tạo kỹ
năng hành nghề Luật sư có thể được thực hiện tại các Đoàn luật sư kết
hợp với việc chỉ đạo của Bộ Tư pháp và việc đảm bảo chương trình giảng
dạy của Học viện Tư pháp. Sau khi đã được tiếp thu các kiến thức cần
thiết để hành nghề luật sư tại Học viên tư pháp (chương trình đào tạo
của Học viện Tư pháp được Bộ tư pháp phê chuẩn), các Đoàn luật sư tại
các tỉnh có thể tuỳ theo đặc điểm cụ thể của tỉnh, thành phố mình tiếp
tục đào tạo thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho các luật sư của mình.
- Quản lý luật sư hiện nay trên thế giới có 3 mô
hình: Mô hình thứ nhất là Nhà nước quản lý (ví dụ như ở các nước Ả rập
Xê út), mô hình thứ hai là Nhà nước và tổ chức xã hội cùng quản lý (ví
dụ như Trung quốc, Singapore), mô hình thứ ba là tổ chức xã hội quản lý
(ví dụ Úc, Anh, Mỹ, Nhật). Việc giao cho các tổ chức xã hội quản lý
luật sư hay Nhà nước nắm giữ quản lý dựa trên cơ sở của các điều kiện
về kinh tế xã hội, văn hoá, dựa trên sự phát triển của luật sư tại các
nước này. Việc quản lý luật sư được giao cho Hiệp Hội Luật sư hay Đoàn
Luật sư là các tổ chức Xã hội được thực hiện hầu hết ở các nước có nền
kinh tế xã hội phát triển, đồng thời nghề luật sư cũng phát triển như
Anh, Úc, Mỹ, Nhật[17]. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam việc quản
lý luật sư do Nhà nước và tổ chức Xã hội cùng phối hợp là hết sức hợp
lý. Việc đào tạo Luật sư phải được thực hiện trong một môi trường đào
tạo đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đúng như Nghị quyết
49/NQ-TW ngày 2/6/2006 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt nam về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng
định trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay của Việt nam, dưới sự
quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp.
[1] Chương trình đào tạo luật của Pháp bao gồm: sau
3 năm học Luật có bằng Licencier, học thêm một năm nữa có bằng Maitrise
– tương đương với trình độ cử nhân trong hệ thống giáo dục Việt Nam,
thêm một năm nữa có bằng DEA – có thể tương đương với bằng Master ở các
nước Common Law, học thêm 2-3 năm nữa có bằng Doctorat (Tiến sỹ)
[2] Nguyễn Văn Tuân, Luật sư và hành nghề luật sư, Hà Nội, 2002, tr.31-34.
[3] Trong số học viên học nghề luật sư tư vấn chỉ có
75% có bằng cử nhân luật, 15 % có bằng cử nhân và 10% thậm chí chưa có
bằng cử nhân. Trước đây khoảng 13% luật sư tranh tụng chưa có bằng cử
nhân nhưng hiện nay các Inns of Court chỉ nhận học viên (bar – student)
với bằng cử nhân, không nhất thiết phải là cử nhân luật (К. Цвайгерг,
Х. Кетч, Введение в сравнительное правоведение в сфере частного права,
Том 1, Москва, 2000, c. 325 (Zweigert Kotz, Nhập môn Luật so sánh trong
lĩnh vực luật tư, Tập 1, Moscow 2000, tr. 325)
[4] Trong vụ John v. Uỷ ban than quốc gia (năm
1955), Toà phúc thẩm đã yêu cầu xét xử lại với lý do thẩm phán xử sơ
thẩm đã hỏi quá nhiều khiến các bên không thể xuất trình chứng cớ một
cách tốt nhất.
[5] Vào thế kỷ 19, các Inn of Court thành lập Bar
(Đoàn luật sư). Hiện tại ở Anh có 4 Inn of Court là Lincol’s Inn, Inter
Temple, Middle Temple và Gray’s Inn.
[6] Романов А. К., Правая система Англии, Москва,
2002, стр. 284 – 292 (Romanov A.K., Hệ thống pháp luật Anh, Moscow,
2002, tr. 284-292)
[7] Robert W. Gordon, Giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ, Nguồn gốc và quá trình phát triển
http:// usinfo.state.gov/journals/itdhr/0802/ijde/gordon.htm
[8] Lê Thu Hà, Chế độ đào tạo luật gia tại Hoa Kỳ, Nghiên cứu Lập pháp, Số 2, 2005, tr.72-76
[9] John A. Serbert, Hội Luật gia và giáo dục pháp luật ở Mỹ
http:// usinfo.state.gov/journals/itdhr/0802/ijde/ serbert.htm
[10] Macarena Tamayo Calabrese, Giáo dục pháp luật thường xuyên ở Mỹ
http:// usinfo.state.gov/journals/itdhr/0802/ijde/calabrese.htm
[11] А. Жалинский, А. Рерихт, Введение в немецкое
право, Москва, 2001, c. 80-112 ( A. Zalinskyi, A. Rohricht, Nhập môn
luật Đức, Moscow, 2001, tr. 80-112)
[12] Nguyễn Văn Tuân, Luật sư và hành nghề luật sư, Hà Nội, 2002, tr. 39-41
[13] Nguyễn Văn Nam, Đào tạo luật và nghề luật ở Đức, Nghiên cứu Lập pháp, Số 8, 2005, tr.57-60
[14] Mục 1 sử dụng tư liệu của các giảng viên
Nhật Bản, thuộc chương trình COOPERATION IN THE LEGAL AND JUDICIAL
FIELD VIETNAM: PHASE III, PART I “Strengthening Vietnamese Judicial
Training Institutions”, tổ chức từ 2/2/2004 đến 5/3/2004 tại Nhật bản)
[15] Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2006 của Bộ Chính trị BCH TW ĐCS VN về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.
[16]Phan Hữu Thư, Đào tạo các chức danh tư pháp phục
vụ cải cách tư pháp trong những năm qua, Tạp chí Nghề Luật, Số 1, 2006,
tr. 6-15
[17]. Tuy nền văn hóa Nhật bản chịu sự ảnh hưởng của
tư tưởng đạo Khổng, nhưng Nhật bản cũng được cho là một nước có đội ngũ
luật sư có trình độ chuyên môn và khả năng hành nghề rất cao. Việc đào
tạo luật sư được trường đào tạo các chức danh tư pháp của Nhật đảm
nhận. Kỳ thi vào trường này là một rào cản lớn đối với những ai muốn
làm nghề luật sư. Mỗi năm trường chỉ lấy 1000 học viên cho cả ba chức
danh tư pháp trên cả nước Nhật. Thông thường các thí sinh phải thi đến
lần thứ 5 hoặc 6 mới đỗ. Thời gian đào tạo là 12 tháng cho cả chức danh
Thẩm phán và Luật sư, chương trình đào tạo và toàn bộ các giáo trình do
Viện nghiên cứu Pháp vụ trực thuộc Bộ tư pháp Nhật kiểm duyệt một cách
chặt chẽ.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHỀ LUẬT- TS. LÊ THU HÀ – TS. NGÔ HOÀNG OANH – TS. PHẠM TRÍ HÙNG