Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp thực trạng và chính sách (1)
Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359 triệu USD.
I. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực nông nghiệp
thời gian qua
Thứ nhất, chiếm tỷ trọng rất nhỏ về số lượng dự án và vốn đầu tư trong
tổng FDI trong nền kinh tế.
Trong giai đoạn 1990-2009 tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam
được cấp phép là 12.575 dự án với số vốn đăng ký 194.429,5 triệu USD. Trong đó
số dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 738 dự án, chiếm 5,9% tổng số dự án
đăng ký, với số vốn đăng ký là 4.379,1 triệu USD, chiếm 2,3% tổng số vốn đăng
ký.(2) Riêng năm 2009 có 1.208 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng
ký là 23.107,7 triệu USD; trong đó số dự án đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông
nghiệp là 29 dự án, chiếm 2,4% tổng số dự án với số vốn là 134,5 triệu USD,
chiếm 0,6% tổng vốn đăng ký, không có dự án quy mô lớn.
Bảng 1: Đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép trong năm
2009 phân theo ngành kinh tế
|
Lĩnh vực
|
Số dự án
|
Tỷ lệ (%)
|
Vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tỷ lệ (%)
|
|
Tổng
|
1208
|
100
|
23107,3
|
100
|
|
Nông lâm nghiệp, thủy sản
|
29
|
2,4
|
134,5
|
0,6
|
|
Công nghiệp-xây dựng
|
550
|
45,5
|
5175,7
|
22,4
|
|
Dịch vụ-Thương mại
|
629
|
52,1
|
17797,1
|
77
|
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010
Thứ hai, phân bổ không đồng đều trong nông nghiệp
Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức
ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư
vào trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả
nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với
tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với
tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359 triệu
USD.
Thứ ba, phân bổ không đồng đều theo địa phương
Hầu hết các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế về
vùng nguyên liệu, có điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế chính
sách ưu đãi về đầu tư như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây
Ninh, Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.
Trong đó, Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp theo là ��ồng Nai, Thành phố Hồ Chí
Minh, Tây Ninh và Lâm Đồng. Cụ thể về vốn FDI vào nông nghiệp được phản ánh qua
số liệu bảng 2
Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp phân theo địa
phương
|
TT
|
Địa phương
|
Số dự án
|
Vốn đăng ký (USD)
|
Vốn thực hiện (USD)
|
Tỷ lệ vốn điều lệ (%)
|
|
1
|
Bình Dương
|
265
|
1109622258
|
450439627
|
20.31
|
|
2
|
Đồng Nai
|
103
|
1058744864
|
468793875
|
21.14
|
|
3
|
TPHCM
|
85
|
268579865
|
101309892
|
4.57
|
|
4
|
Tây Ninh
|
25
|
222527500
|
149407680
|
6.74
|
|
5
|
Lâm Đồng
|
77
|
172100716
|
105429882
|
4.75
|
|
6
|
Long An
|
19
|
150201700
|
56433936
|
2.54
|
|
7
|
Vũng Tàu
|
24
|
108443720
|
48023720
|
2.17
|
|
8
|
Nghệ An
|
6
|
105838640
|
50638000
|
2.28
|
|
9
|
Thanh Hóa
|
9
|
87079000
|
33290000
|
1.50
|
|
10
|
Ninh Bình
|
5
|
63329672
|
26322529
|
1.19
|
|
11
|
Cáctỉnh khác
|
348
|
1336397754
|
727966035
|
32.82
|
|
|
Tổng số
|
952
|
4682865689
|
2218055176
|
100.00
|
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của
nhóm tác giả, 2009
Thứ tư, cơ cấu theo hình thức đầu tư và nguồn gốc đầu tư
Hiện nay có hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI còn hiệu lực trong
lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam, trong đó các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan chiếm hơn 60% tổng vốn đăng ký, riêng Đài Loan là
25%. Vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện chủ yếu dưới 2 hình thức
là hình thành doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Trong đó, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm khoảng 77,4%, còn
lại là hình thức liên doanh 22,1%. Các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Pháp, Thái
Lan, Hàn Quốc, Xin-ga-po, Mỹ thường thực hiện đầu tư theo hình thức doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong khi đó, các nhà đầu tư đến từ Pháp, Hồng
Kông, Ma-lay-xi-a chủ yếu lựa chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh.
II. Những trở ngại dẫn đến hạn chế động lực FDI vào nông nghiệp.
2.1. Hoạt động kinh doanh nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro.
Địa bàn diễn ra kinh doanh nông nghiệp thường rộng lớn, cơ sở hạ tầng kém
phát triển, tác động bất thường của điều kiện thời tiết, khí hậu khó lường. Sản
phẩm nông sản mang tính thời vụ cao, dễ hư hỏng, dễ bị ảnh hưởng xấu của của
dịch bệnh và sự suy thoái về chất lượng. Các doanh nghiệp FDI nông nghiệp
thường tốn kém nhiều vốn vào đào tạo chuyên môn cho lao động và đầu tư xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật của sản xuất nông nghiệp như
thủy lợi nội đồng, đường liên thôn bản, hệ thống dẫn nước trong sản xuất nông
nghiệp và các công trình phúc lợi cho công nhân tại các cơ sở chế biến nông
sản, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong khi các doanh nghiệp FDI
trong công nghiệp, thương mại không phải chịu những khoản đầu tư này. Tình
trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản đang đòi
hỏi các nhà đầu tư phải tăng thêm vốn đầu tư vào xử lý chất thải và chống ô
nhiễm, làm tăng thêm chi phí sản xuất. Các dự án trồng rừng và cây công nghiệp
gặp nhiều khó khăn về quỹ đất giành cho họ không đủ về quy mô và mức độ tập
trung để sản xuất theo yêu cầu hàng hóa lớn. Tình trạng tranh chấp về đất đai
trong sản xuất nguyên liệu giữa các loại cây trồng diễn ra ngày càng phổ biến
đang làm nản lòng các nhà đầu tư FDI không tự bảo vệ được vùng nguyên liệu.
Những địa phương có nhiều diện tích đất trồng rừng như các tỉnh Tây Bắc thì địa
hình chia cắt, giao thông khó khăn, khó tìm mặt bằng để đầu tư nhà máy chế biến
và các hạng mục hạ tầng khác nên không hấp dẫn nhà đầu tư…Các dự án đầu tư FDI
vào nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với những thách thức về môi trường
nước không bảo đảm bền vững cho hoạt động kinh doanh.
2.2. Sản xuất nông nghiệp Việt Nam quy mô nhỏ, phân tán, thiếu tính
liên kết, phối hợp và không chuyênnghiệp, chưa tạo ra sức thu hút đầu tư của
các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI.
Nông nghiệp Việt Nam
chủ yếu là sản xuất nhỏ với số lượng nông dân rất đông đảo cùng sản xuất nông
nghiệp với quy mô nhỏ, manh mún và chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa,
đa số nghèo và tâm lý phức tạp. Các vùng sản xuất chưa được chuyên môn hóa với
kết cấu hạ tầng đồng bộ; cơ cấu sản xuất chưa ổn định, thiếu tầm nhìn dài hạn.
Các chủ thể sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các hộ gia đình với phương thức sản
xuất truyền thống, kỹ thuật giản đơn, chưa được đào tạo về chuyên môn quản lý,
kỹ thuật. Họ tự quyết định đầu tư mua sắm vật tư sản xuất như giống cây, con,
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, trả công lao động, cải tạo đồng
ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi…trong điều kiện thiếu các dịch vụ cung
ứng chuyên nghiệp đã tạo ra chất lượng các đầu vào thấp, làm cho sản xuất của
nông dân không thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Phương thức sản
xuất như vậy đã không hấp dẫn các nhà đầu tư FDI trong làm ăn với nông dân ta.
Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp vốn là khách quan, ảnh hưởng không
thuận đến động lực đầu tư. Trong điều kiện sản xuất nhỏ, phân tán và thiếu gắn
kết giữa các hộ nông dân thì ảnh hưởng không thuận này lại càng tăng lên. Thêm
vào đó hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng chưa phát triển đủ mạnh và toàn
tâm phục vụ nông nghiệp, chưa tạo đủ vốn tín dụng cho người sản xuất nông
nghiệp đã làm tăng gánh nặng về vốn tiền mặt ngắn hạn lên các doanh nghiệp nói
chung và nhà đầu tư FDI nói riêng trong việc thu mua sản phẩm của nông dân, dẫn
đến làm suy giảm động lực của họ trong đầu tư vào nông nghiệp. Sản xuất nông
nghiệp chưa hình thành được các chuỗi giá trị bền vững từ cung ứng đầu vào,
canh tác trên đồng ruộng, thu hoạch, đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ, tình
trạng chia cắt, tranh chấp đã tạo ra thị trường nông sản nguyên liệu không lành
mạnh, mang tính phổ biến làm nản lòng các doanh nghiệp và nhà đầu tư FDI.
2.3. Nhà nước chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, phù hợp để thu
hút FDIvào nông nghiệp.
Cơ chế, chính sách về quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu nông sản cho các
dự án FDI đã cấp phép không được thực thi trong thực tế. Các dự án mía đường
gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư, phát triển và duy trì các vùng mía mà nhà
nước đã quy hoạch cho họ. Các dự án chế biến gỗ, sữa, dầu thực vật không thể
thực hiện đúng quy định sử dụng nguyên liệu trong nước với các lý do khác nhau.
Số lượng và chất lượng nguyên liệu ở Việt Nam không phù hợp với dây chuyền công
nghệ của nhà đầu tư, việc phát triển vùng nguyên liệu khó khăn do điều kiện hạ
tầng kém, thời tiết phức tạp…Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến
năm 2010 và định hướng đến 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt tháng 1-2006, nhưng
các vùng thủy sản vẫn chưa được hình thành trong cả nước đã gây trở ngại cho
thu hút FDI vào lĩnh vực này. Nhiều vùng sản xuất nguyên liệu nông sản chưa có
quy hoạch, hoặc đã có nhưng không được thực thi nghiêm túc để tạo vùng sản xuất
tập trung có uy tín, có thương hiệu với hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư
đồng bộ và đầy đủ theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa lớn cho toàn vùng. Mặt
khác, do chưa có quy hoạch, hoặc quy hoạch lỏng lẻo, thiếu chế tài hữu hiệu
quản lý các vùng sản xuất tập trung nên đã tạo ra sự phát triển tự do, cạnh
tranh tùy tiện và cả độc quyền vô nguyên tắc đã làm cho thị trường nguyên liệu
nông sản trong vùng trở nên hỗn loạn, lúc tăng, lúc giảm và tình trạng này lại
được một bộ phận các nhà quản lý cả ở trung ương và địa phương xem là “đúng
theo quy luật của cơ chế thị trường” đã dẫn đến kết cục là không tạo được vùng
nguyên liệu phát triển ổn định, có sự kiểm soát của nhà nước về nguồn gốc, chất
lượng nông sản. Vùng nguyên liệu nông sản không hấp dẫn FDI. Các danh mục dự án
quốc gia gọi vốn do Chính phủ ban hành thường ít chú trọng những thông tin cụ
thể về lĩnh vực nông nghiệp. Thông tin về từng dự án trong danh mục dự án quốc
gia gọi vấn còn rất sơ lược, thiếu chuẩn xác, chưa chỉ rõ các vùng đầu tư ở đâu
và điều kiện thế nào, và đặc biệt mang nặng mong muốn chủ quan của cơ quan chủ
quản và các doanh nghiệp Việt Nam, chưa tính đến động lực và lợi ích thực tế
của nhà đầu tư FDI nên không thu hút được quan tâm của nhà đầu tư FDI.
2.4. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đối với các nhà đầu tư FDI
trong nông nghiệp thiếu rõ ràng và minh bạch.
Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục đầu tư và tổ chức hoạt động
của các dự án FDI trong nông nghiệp chưa tính hết những đặc thù như: chứa đựng
nhiều rủi ro trong kinh doanh; khả năng tiên lượng về thị trường khó khăn; các
mối quan hệ giữa các tác nhân trong triển khai dự án phức tạp hơn so với dự án
FDI trong công nghiệp, xây dựng và thương mại… Các quy định của luật pháp về
đầu tư FDI hiện nay ít phù hợp với ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến
nông sản. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan địa phương trong thẩm định, cấp phép
dự án chưa nghiêm túc và rõ ràng, làm nhà đầu tư mất nhiều thời gian, chi phí
giao dịch, nhất là các dự án nhạy cảm về môi trường sinh thái… Các quy định về
chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư FDI trong nông nghiệp còn chung chung, chưa
cụ thể, rõ ràng, thiếu chỉ rõ các điều kiện và tiêu chí áp dụng, vì vậy chỉ nằm
trên giấy, không vận hành vào thực tiễn. Các biểu hiện cụ thể như: (i). Chính
sách đất đai, mặt nước chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai
các dự án FDI trong nông nghiệp. Hầu hết các dự án FDI trong lĩnh vực này cần
vùng nguyên liệu tập trung, đều gặp phải sự trắc trở, thậm chí là bế tắc trong
tiếp cận đất đai . Nhiều dự án trồng rừng, trồng mía công nghiệp gặp khó khăn
do chỉ được giao một phần nhỏ diện tích đất trồng rừng so với quy định tại giấy
phép đầu tư. Các dự án trồng và chế biến rau quả gặp cản trở trong thuê đất và
quan hệ với nông dân về đất đai. Các dự án thủy sản gặp khó khăn trong giao mặt
nước cho nuôi trồng thủy sản ở các vùng biển do trở ngại về môi trường sinh thái
trong điều kiện năng lực quản lý của Việt Nam còn hạn chế. (ii). Chính sách tín
dụng chưa hỗ trợ cho các dự án FDI; các hoạt động tín dụng tại chỗ chưa hậu
thuẫn cho triển khai các dự án FDI, cho rằng chủ đầu tư không cần nguồn tín
dụng này…
2.3. Tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt
Nam còn nhiều vấn đề mâu thuẫn, phức tạp khó xử lý.
Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu về nguyên liệu cho chế biến nông sản
diễn ra phổ biến, liên tục và ngày càng nan giải. Tình trạng nông dân không gắn
hoạt động sản xuất nông sản nguyên liệu của họ với hoạt động thu mua, chế biến
của các doanh nghiệp đang đẩy tới tình trạng tranh chấp trong mua – bán nguyên
liệu vừa đẩy giá nguyên liệu lúc lên cao, lúc xuống thấp diễn ra phổ biến gây
bất lợi cho cả người nông dân sản xuất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và
cả lĩnh vực nông nghiệp nói chung. Phần lớn nông sản (tới 90%) được tiêu thụ ở
dạng tươi sống và chế biến thô, giá trị gia tăng thấp và không có thương hiệu,
nguồn gốc Việt Nam.
III. Những nội dung cần thay đổi của chính sách thu hút đầu tư FDI vào
nông nghiệp
3.1. Chính sách hỗ trợ, ưu đãi các dự án FDI trong nông nghiệp
Các dự án FDI trong nông nghiệp mặc dù được xem thuộc diện khuyến khích và
đặc biệt khuyến khích đầu tư và Nhà nước đã áp dụng biện pháp ưu đãi đầu tư với
các hình thức: miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, tiền thuê
đất và các hình thức ưu đãi khác. Trong những năm tới cần tiếp tục những hình
thức ưu đãi và hỗ trợ này, tuy nhiên để thực hiện những cam kết WTO của Việt
Nam về chính sách hỗ trợ nông nghiệp thì việc xem xét để chỉnh sửa các quy định
về ưu đãi và hỗ trợ các nhà đầu tư FDI trong nông nghiệp cho phù hợp với cam
kết là cần thiết. Cụ thể là:
- Tiếp tục duy trì và mở rộng các ưu đãi, hỗ trợ hiện hành đối với các dự án
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cần loại bỏ các tiêu chí về khuyến khích
xuất khẩu và ưu tiên sử dụng nguyên liệu trong nước;
- Tăng cường các biện pháp hỗ trợ thuộc hộp xanh lá cây. Bao gồm: các biện
pháp cho nông dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu nông
sản phục vụ công nghiệp chế biến; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản; áp dụng hạn
ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm và áp dụng hạn ngạch về khối lượng
nhập khẩu đối với một số mặt hàng như đường, sữa đồng thời đánh thuế nhập khẩu
theo mùa; áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối nhập khẩu nguyên thô phục vụ
chế biến như đường thô(3), sữa bột…
- Tiếp tục áp dụng biện pháp ưu đãi thuế thu nhập đối với các dự án đầu tư
ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất các loại giống mới, dự án phát triển
kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Có chính sách trợ cấp cho nông dân và các doanh nghiệp nông nghiệp khi bị
tổn thất vì thiên tai, bị rủi ro về biến động giá thị trường nông sản. Trong
điều kiện hạn chế về tài chính, cần tiếp tục nghiên cứu giải pháp hỗ trợ đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp nhằm tăng năng lực phòng chống thiên tai,
hạn chế rủi ro dịch bệnh, biến động giá nông sản… Chú trọng biện pháp lập và sử
dụng quỹ bảo hiểm nông nghiệp cho các trường hợp này
3.2. Chính sách hỗ trợ vốn tín dụng cho dự án FDI
Hiện nay nguồn vốn tín dụng cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu từ các nguồn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân,
ngân hàng người nghèo, các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia và nguồn của
một số ngân hàng cổ phần hoạt động ở nông thôn, điển hình là ngân hàng
Liênvietbank…nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân và doanh nghiệp. Do
vậy, cần phát triển mở rộng phần cung của thị trường vốn tín dụng tại các vùng
nông nghiệp nói chung và vùng có các dự án FDI nói riêng theo những hướng sau:
- Xem xét để xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong
việc tiếp cận nguồn tín dụng của các ngân hàng có nguồn vốn nhà nước. Theo đó,
các dự án FDI trong nông nghiệp cũng là đối tượng được hưởng cả 3 chế độ tín
dụng từ Ngân hàng phát triển gồm: vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và bảo
lãnh tín dụng. Đồng thời, cần tạo điều kiện về thủ tục để các doanh nghiệp FDI
được tiếp cận thuận lợi nguồn tín dụng ưu đãi này;
- Hướng dẫn kênh hỗ trợ vốn tín dụng ngân hàng cho các dự án FDI trong lĩnh
vực nông nghiệp từ Ngân hàng phát triển để tạo nguồn vốn bổ sung cho các doanh
nghiệp FDI đang triển khai một số dự án đầu tư tạo giống, sản xuất sản phẩm
xuất khẩu…
- Áp dụng cơ chế bảo lãnh, thế chấp để doanh nghiệp FDI có dự án đầu tư vào
lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được tiếp cận thuận lợi;
- Xem xét phân bổ một phần vốn ODA vào đầu tư hạ tầng nơi triển khai các dự
án FDI về mía đường, cây công nghiệp dài ngày, trồng rừng…
3.3. Chính sách về đất đai, mặt nước tạo thuận lợi cho dự án FDI
Cần mạnh dạn thực hiện các chính sách sau:
- Chính quyền địa phương chủ động quy hoạch vùng nguyên liệu nông sản cho
nhà đầu tư gắn với các hình thức chuyển giao quyền sử dụng đất từ nông dân sang
nhà đầu tư trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp theo quy định
của Luật đất đai hiện hành về các hình thức cho thuê hoặc góp vốn bằng đất để
cùng kinh doanh nông nghiệp;
- Ngân sách hoặc các nguồn vay ODA của Việt Nam thực hiện đầu tư giải phóng mặt
bằng tại các vùng dự án triển khai;
- Mở rộng và đảm bảo quyền lợi của người nông dân trong việc chuyển giao
quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư, đi đôi với đảm bảo khả năng sử dụng đất ổn
định theo quy hoạch của nhà đầu tư. Đơn giản hóa thủ
tục trong việc xác nhận hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất và cấp giấy
chứng nhận chuyển giao quyền sử dụng từ nông dân sang nhà đầu tư, tạo điều kiện
cho các chủ đầu tư có tài sản hợp pháp về đất để thế chấp khi cần vay vốn tại
các tổ chức tín dụng để đầu tư theo nhu cầu của dự án;
- Từng địa phương tiến hành quy hoạch lại việc sử dụng các loại đất của các
dự án FDI trong nông nghiệp và xác định kế hoạch sử dụng đất lâu dài cho từng
dự án FDI trong nông nghiệp trên địa bàn và chính thức hóa vào hồ sơ rà soát
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
3.4.Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư FDI phát triển vùng nguyên liệu.
Việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, có chất lượng cao và nằm trong sự
kiểm soát của nhà nước là yêu cầu rất bức xúc của các vùng nguyên liệu đã quy
hoạch cho từng dự án FDI trong nông nghiệp hiện nay. Vì vậy, cần khuyến khích
các nhà đầu tư cùng với Chính phủ Việt Nam đầu tư phát triển các vùng nguyên
liệu trong nước để đáp ứng đúng yêu cầu kinh doanh của nhà đầu tư và đảm bảo
lợi ích của nông dân đã chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư FDI. Chính
sách cùng đầu tư phát triển vùng nguyên liệu nông sản nên theo định hướng sau:
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn dưới hình thức cho nhà đầu tư FDI vay để xây
dựng các hạng kết cấu hạ tầng cứng và mềm cần thiết và sử dụng lâu dài tại vùng
nguyên liệu;
- Ngân sách nhà nước và các tổ chức dụng triển khai các hình thức tín dụng
ưu đãi cho nông dân và doanh nghiệp để đầu tư trực tiếp vào cây trồng để tạo
vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu kinh doanh có hiệu quả.
- Chính quyền tỉnh và các huyện có vùng nguyên liệu của dự án FDI có trách
nhiệm bảo vệ và duy trì các vùng nguyên liệu đã quy hoạch cho dự án FDI để đảm
bảo cung cấp đầy đủ nguyên liệu tập trung cho nhà đầu tư;
- Xác định quyền và trách nhiệm cho nhà đầu tư trong việc đưa ra các biện
pháp bảo vệ vùng nguyên liệu của họ. Nhà nước nghiên cứu đưa ra các quy định
phù hợp về cả quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư với vùng nguyên liệu, đủ đảm
bảo giúp nhà đầu tư duy trì và phát triển các vùng nguyên liệu, đồng thời có
chính sách hỗ trợ nhà đầu tư xây dựng hạ tầng của vùng nguyên liệu theo quy
hoạch. Đồng thời nhà nước sẽ cùng nhà đầu tư chăm lo xây dựng các cơ sở văn hóa
giáo dục, cơ sở hạ tầng của nông thôn của các cộng đồng dân cư vùng nguyên liệu
nhằm gắn lợi ích của họ với vùng nguyên liệu.
3.5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Để khắc phục những yếu kém và nâng cao tính hấp dẫn của nguồn nhân lực trong
các dự án FDI trong nông nghiệp, Nhà nước cần có chương trình đào tạo, bồi
dưỡng nhiều mặt cho lực lượng lao động làm việc cho các dự án này. Chính quyền
tỉnh hỗ trợ các nhà đầu tư tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn đội ngũ lao động
trực tiếp và lao động gián tiếp cả về kiến thức ngoại ngữ, chuyên môn và đạo
đức nghề nghiệp. Phát triển hệ thống đào tạo nghề ở nông thôn, hệ thống khuyến
nông, chuyển giao kỹ thuật, kiến thức kinh tế và kiến thức về thị trường cho
người lao động tại chỗ, trong đó có lao động làm việc cho FDI. Phát huy vai trò
của các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư FDI tiếp
cận người dân, gia đình những người làm việc cho FDI để tạo sự hiểu biết, chia
sẻ và hiểu biết lẫn nhau, qua đó phát triển nguồn nhân lực địa phương nói chung
và nguồn nhân lực làm việc cho FDI./.
—————————————————-
(1) Theo nghĩa rộng, bao gồm: nông nghiệp thuần, lâm nghiệp, thủy sản và nghề muối
(2) Tổng cục Thông kê, Niên giám thông kê năm 2010
(3) Trong thực tế, đường cũng là một trong những sản phẩm được hưởng mức trợ
cấp sản xuất trong nước rất cao ở các nước phát triển, nhất là EU, Oxtrâylia và
Mỹ. Do vậy, giá đường trên thị trường quốc tế đã bị bóp méo đáng kể. Nếu ở mức
giá như hiện nay thì chỉ có 3 nước (Brazil, Oxtrâylia và Thái Lan) là
có giá thành sản xuất thấp hơn giá đường quốc tế. Do vậy, Việt Nam vẫn phải áp
dụng mức độ bảo hộ hợp lý để sản xuất đường trong nước vẫn có thể tiếp tục
trong điều kiện giá đường nhập khẩu thấp hơn giá thành sản xuất đường trong
nước.
TS. CHU TIẾN QUANG – Viện Nghiên cứu
Quản lý Kinh tế Trung ương
THS. HÀ HUY NGỌC – Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 9 (225) NĂM 2011
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------