Đề cương giới thiệu luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế giá trị gia tăng năm 2003
Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng và ngày 09/12/2005, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 25/2005/L/CTN công bố Luật.
I. Sự cần thiết phải sửa
đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế giá trị gia tăng
Qua
gần 2 năm thực hiện Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng
(2 luật này đã được Quốc hội
khoá XI sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 3, tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004), nhìn chung những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế giá trị gia tăng về cơ bản là phù hợp với tình hình thực tế nên đã
phát huy tác dụng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khuyến khích
xuất khẩu và định hướng tiêu dùng.
Mặc
dù tại Điều 29 Luật thuế giá trị gia tăng và Điều 27 Luật Thuế tiêu thụ đặc
biệt đã quy định: Trong
trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia có quy định khác với Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế tiêu thụ đặc biệt và
thuế giá trị gia tăng được thực hiện theo
những quy định tại điều ước quốc tế đó.
Nội dung này đã thể hiện cam kết thực hiện các nguyên tắc của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) là không phân biệt đối xử khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy
nhiên, để tranh thủ khoảng thời gian khi Việt Nam chưa gia nhập WTO, luật hiện
hành vẫn quy định thuế suất khác nhau giữa một số mặt hàng nhập khẩu và mặt
hàng sản xuất trong nước gồm: ô tô, bia, thuốc lá điếu, bông, sản phẩm
nông hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông
thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra.
Căn
cứ tình hình thực tế của nền kinh tế cũng như yêu cầu phải đẩy nhanh tiến độ
gia nhập WTO, việc Chính phủ trình Quốc hội sửa một số điểm trong Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
nhằm bảo đảm phù hợp giữa nội Luật với nguyên tắc của WTO là cần thiết.
Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế
giá trị gia tăng và ngày 09/12/2005, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 25/2005/L/CTN
công bố Luật.
II. Quan điểm chỉ đạo xây
dựng luật
Việc
sửa đổi, bổ sung lần này ngoài việc phải bảo đảm không còn phân biệt đối xử về
thuế giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, còn phải bảo đảm không
làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước,
không ảnh hưởng lớn đến số thu của ngân sách nhà nước.
III. Nội dung chủ yếu của
Luật
1. Khái
quát chung
Luật
này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 20/5/1998
đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế
tiêu thụ đặc biệt ngày 17/6/2003 (sau đây gọi là luật năm 1998) và Luật thuế
giá trị gia tăng ngày 10/5/1997 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế gia trị gia tăng ngày 17/6/2003 (sau đây gọi là
luật năm 1997). Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng là
Luật tiên phong áp dụng “phương pháp” một luật sửa nhiều luật. Với những nội
dung được sửa đổi, bổ sung chỉ liên quan đến thuế suất của 3 loại hàng hoá cần
quy định cho phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, việc sử dụng
phương pháp này đã khắc phục được những mặt hạn chế
của việc sửa tuần tự từng luật cụ thể, rút ngắn được thời gian soạn thảo và
trình ký ban hành, giảm thiểu sự chồng chéo, mâu thuẫn của các văn bản luật khi
có sự sửa đổi, bổ sung. Với “phương pháp” này, có thể dùng để thay thế hoàn
toàn cách sửa từng luật một như hiện nay khi những vấn đề hay nội dung cần sửa
đổi, bổ sung có tính chất giống nhau hoặc có tính liên ngành.
Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá
trị gia tăng gồm 4 điều, cụ thể như sau:
- Điều 1, quy định những nội dung sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (Khoản 6 Điều 6 quy định về
giá tính thuế; Điều 7 quy định về thuế suất và Điều 16 quy định về những trường
hợp được xét giảm thuế, miễn thuế tiêu thụ đặc biệt).
- Điều 2, quy định những nội dung sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (Khoản 1 Điều 4 quy định về đối
tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng; Điều 8 quy định về thuế
suất).
- Điều 3 và Điều 4, quy định về hiệu lực thi hành của luật
(từ ngày 01/1/2006) và quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.
2. Về những nội dung sửa
đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
2.1. Giá tính thuế
Khoản
1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế giá trị gia tăng quy định về sửa khoản 6, Điều 6 Luật năm 1998 như
sau:
"1.
Khoản 6 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều
6. Giá tính thuế
...
6. Đối với rượu, bia, kinh doanh ca-si-nô, trò
chơi bằng máy giắc-pót, kinh doanh gôn, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do
Chính phủ quy định cụ thể.
Giá tính thuế TTĐB đối với
hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản thu thêm mà cơ sở kinh
doanh được hưởng.
Trường hợp đối tượng nộp
thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt
Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.”
Về
giá của hàng hoá, dịch vụ để tính thuế tiêu thụ đặc biệt, tại Khoản 6 Điều 6
Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 quy định: “Đối với rượu, bia sản xuất trong nước, kinh doanh ca-si-nô, trò
chơi bằng máy giắc-pót, kinh doanh gôn, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do
Chính phủ quy định cụ thể.” Quy
định này là có sự phân biệt đối xử đối với rượu, bia nhập khẩu với rượu, bia
được sản xuất trong nước khi trao quyền cho Chính phủ quy định cụ thể giá tính
thuế tiêu thụ đặc biệt đối với riêng mặt hàng là rượu, bia được sản xuất trong
nước. Để thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế gia trị gia tăng đã bỏ
cụm từ “sản xuất trong nước”.
2.2. Thuế suất
Khoản 2 Điều 1 Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá
trị gia tăng quy định như sau:
“2.
Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều
7. Thuế suất
Thuế
suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu
thuế tiêu thụ đặc biệt sau đây:
BIỂU THUẾ
TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
|
STT
|
Hàng hoá, dịch vụ
|
Thuế suất (%)
|
|
I -
|
Hàng
hoá
|
|
|
1.
|
Thuốc
lá điếu, xì gà
|
|
|
|
a)
Xì gà
|
65
|
|
|
|
|
|
|
-
Năm 2006-2007
|
55
|
|
|
-
Từ năm 2008
|
65
|
|
2.
|
|
|
|
|
a) Rượu từ 40 độ trở lên
|
65
|
|
|
b) Rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ
|
30
|
|
|
c) Rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc
|
20
|
|
3.
|
Bia
|
|
|
|
a)
Bia chai, bia hộp
|
75
|
|
|
|
|
|
|
-
Năm 2006-2007
|
30
|
|
|
-
Từ năm 2008
|
40
|
|
4.
|
|
|
|
|
a) Ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống
|
50
|
|
|
b) Ô tô từ 6 đến 15 chỗ ngồi
|
30
|
|
|
c) Ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi
|
15
|
|
5.
|
Xăng
các loại, nap-ta (naptha), chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác dùng để pha
chế xăng
|
10
|
|
6.
|
Điều
hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU
trở xuống
|
15
|
|
7.
|
Bài
lá
|
40
|
|
8.
|
Vàng
mã, hàng mã
|
70
|
|
II -
|
Dịch
vụ
|
|
|
1.
|
Kinh
doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê
|
30
|
|
2.
|
Kinh
doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót
|
25
|
|
3.
|
Kinh
doanh giải trí có đặt cược
|
25
|
|
4.
|
Kinh
doanh gôn: bán thẻ hội viên, vé chơi gôn
|
10
|
|
5.
|
Kinh
doanh xổ số
|
15
|
Theo
quy định trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và luật thuế giá trị gia tăng đã sửa các quy định về thuế suất đối với một
số mặt hàng còn có sự phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng
nhập khẩu. Việc sửa đổi này ngoài việc xoá bỏ sự phân biệt trên còn là sự bảo
đảm cho Việt Nam gia nhập WTO. Thuế suất các nhóm hàng được sửa đổi gồm: thuốc
lá, ô tô, rượu, bia hơi và bia tươi, bông sơ chế, cụ thể như sau:
a. Đối với mặt hàng thuốc
lá điếu: Luật năm 1998 quy định 3 mức thuế suất khác nhau đối với
thuốc lá: 65% đối với thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên
liệu nhập khẩu; 45% đối với thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng
nguyên liệu sản xuất trong nước; 25% đối với thuốc lá không đầu lọc. Quy định
này đã tạo sự phân biệt về thuế suất đối với thuốc lá sản xuất bằng nguyên liệu
trong nước hay nguyên liệu nhập khẩu, vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của
WTO. Để khắc phục nhược điểm này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định mức thuế suất
thống nhất đối với các loại thuốc lá và được thực hiện theo lộ trình là: từ năm
2006-2007 mức thuế suất là 55%; từ năm
2008 mức thuế suất là 65%.
Việc
thống nhất một mức thuế suất và nâng dần theo lộ trình 2 bước như trên, một mặt
nhằm hạn chế tiêu dùng thuốc lá là mặt hàng không có lợi cho sức khoẻ, mặt khác
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá từ nguyên liệu trong nước
có thời gian sắp xếp, chuyển đổi sản xuất nhằm hạn chế tới mức thấp nhất ảnh
hưởng tiêu cực đến việc làm của hơn 200.000 người trồng thuốc lá cũng như người
lao động trong các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá từ nguyên liệu trong nước.
b. Đối với mặt hàng ô tô: Luật năm 1998 quy định thuế suất đối với 3 loại xe ô tô từ 5 chỗ ngồi trở
xuống, từ 6 đến 15 chỗ ngồi, từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi thứ tự như sau:
-
Đối với ô tô nhập khẩu: 80%, 50%, 25%;
-
Đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước thuế suất tăng dần theo lịch trình:
+
Năm 2004, thuế suất 24%, 15% và 7,5%;
+
Năm 2005, thuế suất 40%, 25% và 12,5%;
+
Năm 2006, thuế suất 56%, 35% và 17,5%;
+ Năm 2007 nộp theo thuế suất 80%, 50%, 25%
như ô tô nhập khẩu.
Căn
cứ vào tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và tình hình sản xuất ô tô trong
nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật
thuế giá trị gia tăng đã sửa quy định trên, theo đó quy định thống nhất một mức
thuế suất là:
- Ô
tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống: 50%
- Ô
tô từ 6 đến 15 chỗ ngồi: 30%
- Ô
tô từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi: 15%
Mức
thuế suất này một mặt xoá bỏ sự phân biệt đối xử về thuế đối với ô tô sản xuất,
lắp ráp trong nước với ô tô nhập khẩu; mặt khác cũng tạo điều kiện hỗ trợ cho
ngành công nghiệp ô tô trong nước vì thuế suất mới thấp hơn so với thuế suất
được quy định trong luật năm 1998 (theo lộ trình tăng thuế suất, trong năm 2006
thuế suất đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước là 56%; 35%; 17,5%). Ngoài
ra, với mức thuế suất nêu trên, ô tô sản xuất trong nước tuy có chịu mức thuế
suất cao hơn năm 2005 (tăng 10%, 5% và
2,5%) nhưng sẽ tạo được áp lực cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước
không thể điều chỉnh tăng giá tương ứng vì phải tính đến yếu tố cạnh tranh với
ô tô nhập khẩu, ô tô nhập khẩu sẽ giảm giá do giảm thuế suất khá nhiều (giảm
30%, 20%, 10%).
c. Đối với mặt hàng bia
hơi, bia tươi: Luật năm 1998 quy định 2 mức thuế suất
khác nhau đối với bia hơi và bia tươi, cụ thể bia hơi là 30%, bia tươi là 75%.
Trong quá trình đàm phán các nước đều cho rằng 2 loại bia này giống nhau, trong
khi bia hơi được sản xuất hoàn toàn trong nước thì một số lượng bia tươi hiện
được nhập khẩu từ nước ngoài. Vì vậy, việc quy định thuế suất khác nhau giữa
bia hơi và bia tươi là có sự phân biệt đối xử giữa bia trong nước và bia nhập
khẩu.
Để
phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định
một mức thuế suất thống nhất cho cả bia hơi, bia tươi và được thực hiện theo
lịch trình cụ thể như sau: Năm 2006-2007 thuế suất 30%; Từ năm 2008 thuế suất
40%. Với mức thuế suất này, ngoài việc đảm bảo thực hiện được nguyên tắc đối xử
quốc gia của WTO vẫn giữ được sự ổn định của các doanh nghiệp sản xuất bia
trong nước và có thêm thời gian để sắp xếp sản xuất nâng cao chất lượng đủ sức
để cạnh tranh trên thị trường.
d. Đối với mặt hàng rượu: Luật năm 1998 quy định rượu có
nồng độ cồn từ 40 độ trở lên thuộc nhóm thuế suất 75%; rượu từ 20 độ đến dưới
40 độ thuộc nhóm thuế suất 30%; rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả thuộc nhóm thuế
suất 20%; rượu thuốc 15%. Quy định này trong thực tế thể hiện là có sự
phân biệt đối xử vì các loại rượu có nồng độ cồn từ 20 độ đến dưới 40 độ được
sản xuất ở trong nước là chủ yếu, đang áp dụng thuế suất thấp 30%. Trong khi đó
rượu mạnh từ 40 độ trở lên chủ yếu là nhập khẩu, thuộc diện áp dụng thuế suất
cao 75%; Mặt khác, khoảng cách chênh lệch giữa mức thuế suất tối đa và tối thiểu là quá lớn (5 lần), dễ
xảy ra gian lận thương mại không phù hợp với các quy tắc của WTO. Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia
tăng đã sửa đổi thuế suất đối với mặt hàng này theo nguyên tắc giảm thuế suất
tối đa xuống còn 65% và nâng thuế suất tối thiểu lên 20% để đảm bảo vừa thu
hẹp chênh lệch giữa các mức thuế suất, vừa giảm chênh lệch giữa mức thuế suất
tối đa và tối thiểu xuống còn hơn 3 lần. Cụ thể thuế suất đối với mặt hàng rượu
được quy định là:
- Rượu từ 40 độ trở lên: 65%
- Rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ: 30%
- Rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc: 20%.
2. Về những nội dung sửa
đổi, bổ sung Luật thuế GTGT
2.1. Đối với sản phẩm trồng
trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc
chỉ qua sơ chế thông thường
Về
quy định này, tại Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế gia trị gia tăng năm 2003 quy định sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ
sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông
thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra là đối tượng không
chịu thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó các sản phẩm tương tự ở khâu nhập khẩu
vẫn chịu thuế giá trị gia tăng. Quy định này nhằm khuyến khích tiêu thụ các sản
phẩm của nông dân, ngư dân tự sản xuất đánh bắt bán ra, nhưng lại có sự phân
biệt đối xử giữa sản phẩm nông, hải sản chưa qua chế biến với các sản phẩm
tương tự ở khâu nhập khẩu. Để phù hợp nguyên tắc không phân biệt đối xử của
WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật
thuế giá trị gia tăng đã bổ sung sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải
sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở
khâu nhập khẩu vào đối
tượng không chịu thuế. Trên cơ sở đó, Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng quy định
như sau:
"1. Khoản 1 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như
sau:
Điều 4. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế
giá trị gia tăng
Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diện
chịu thuế giá trị gia tăng:
1.
Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của các tổ chức, cá
nhân tự sản xuất, trực tiếp đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu."
Việc sửa đổi như trên không có nghĩa là bỏ
không thu thuế đối với hàng nông, hải sản nhập khẩu, mà chỉ áp dụng không thu
thuế hàng nông, hải sản ở khâu nhập khẩu. Ở các khâu sản xuất kinh doanh tiếp
theo, nhóm mặt hàng này vẫn thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng.
2.2. Đối với mặt hàng bông
sơ chế
Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003 quy định
thuế suất đối với bông sơ chế từ bông trồng trong nước là 5%, bông sơ chế nhập
khẩu là 10%. Quy định này nhằm khuyến khích tiêu thụ sản phẩm bông của nông
dân, khuyến khích nông dân trồng bông nhiều hơn để thay thế hàng nhập khẩu. Như
vậy là đã có sự phân biệt đối xử về thuế suất giữa bông trồng trong nước và
bông nhập khẩu. Để phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá
trị gia tăng đã quy định một mức thuế suất chung là 5% áp dụng cho bông sơ chế
(không phân biệt bông sản xuất trong nước hay bông nhập khẩu). Với thuế suất
này, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO còn đảm bảo
không gây tác động lớn đến người trồng bông trong nước. Trên cơ sở đó, Khoản 2
Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định như sau:
“2
. Điểm k khoản 2 Điều 8 đã được sửa thành điểm ℓ khoản 2 Điều 8 theo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng ngày 17 tháng 6 năm 2003
được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều
8. Thuế suất
...
2.
Mức thuế suất 5 % đối với hàng hoá, dịch vụ:
...
ℓ)
Bông sơ chế;
...
IV. Tổ chức thực hiện
Để
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế
giá trị gia tăng được triển khai thực hiện từ ngày 01/01/2006 (theo quy định
tại Điều 3), việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng
dẫn thi hành luật đã đảm bảo đúng tiến độ, kế hoạch, cụ thể là:
-
Ngày 15/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 156/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng
- Ngày 16/12/2005, Bộ Tài chính đã ban hanh Thông tư
số 115/2005/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày
15/12/2005 sửa đổi, bổ sung các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng
BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ
TÀI CHÍNH - VỤ PHÁP CHẾ