Đề cương giới thiệu luật trọng tài thương mại 2010
Căn cứ Nghị quyết số 551/2007/UBTVQH12 ngày 22 tháng 12 năm 2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2011) và năm 2008. Hội Luật gia Việt Nam được Quốc hội giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Trọng tài thương mại.
Dự thảo Luật Trọng tài thương mại được trình lên Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp
thứ 6 Quốc hội khóa XII (tháng 10/2009). Tại phiên họp ngày 17 tháng 6 năm 2010
của kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã nhất trí
biểu quyết thông qua Dự án Luật Trọng tài thương mại và đã được Chủ tịch nước
CHXHCN Việt Nam công bố tại Lệnh số 12/2010/L-CTN ngày 29 tháng 6 năm 2010.
I. Sự cần thiết phải ban hành Luật Trọng tài Thương mại
Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở
nước ta đã có các tòa án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng
dân sự. Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, trọng tài chưa được
biết đến và sử dụng một cách phổ biến.
Năm
1963 và 1964 ở miền Bắc nước ta đã thành lập Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và
Hội đồng Trọng tài Hàng hải. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, một hệ thống
các trọng tài kinh tế từ huyện, tỉnh đến Trung ương đã được thành lập để giải
quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã. Nhưng lúc bấy
giờ, các trọng tài kinh tế thực chất là những cơ quan hành chính nhà nước có
chức năng giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp nhà nước mà chưa thực hiện
được vai trò trọng tài như tên gọi của chúng. Trong khi đó Toà án nhân dân
không có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp này mà chỉ có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp dân sự giữa các cá nhân với nhau, chủ yếu là các vấn
đề hôn nhân và gia đình hoặc tranh chấp liên quan đến hàng hoá có mục đích để
sử dụng cá nhân và tiêu dùng. Từ năm 1998, hệ thống Trọng tài kinh tế đã giải
thể. Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế từ đó đã được thực hiện bằng hai
con đường: Toà kinh tế thuộc hệ thống Toà án nhân dân và các Trung tâm trọng
tài kinh tế. Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài
thương mại thay cho hoạt động của các Trọng tài kinh tế, ngày 25 tháng 02 năm
2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.
Pháp lệnh về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc
tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như quy định về hiệu
lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, quy định về
trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ
giữa Trọng tài và Toà án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành
thỏa thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm
quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết
yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt nói trên, qua 06 năm thực hiện, Pháp
lệnh Trọng tài thương mại đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập, cần được
khắc phục bằng việc ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại – Luật
Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 trên cơ sở
kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp với Pháp lệnh kết hợp với những quy
định mới, hoàn chỉnh hơn.
Những hạn chế và bất cập của Pháp lệnh cần được giải quyết và hoàn thiện
bao gồm:
Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; chủ thể của các
tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng
tài về mặt nội dung và hình thức; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
việc triệu tập nhân chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của
Hội đồng trọng tài; việc hủy quyết định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành
trọng tài; cách tính thời hiệu khởi kiện v.v…
Nhìn một cách tổng quát, mặc dù đã có
những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm
2003 vẫn chưa đủ khả năng tạo ra những cơ sở pháp lý thực hiện chủ trương của
Nhà nước ta khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh
chấp thương mại và các tranh chấp khác.
II. Mục đích, quan điểm và các nguyên tắc xây dựng Luật Trọng tài thương
mại
1. Mục đích quan trọng của việc xây dựng Luật
Trọng tài thương mại là thể chế hoá kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách
của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Theo đó, Luật này ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức
giải quyết trong tranh chấp trong các hoạt động kinh doanh, thương mại và một
số các quan hệ dân sự khác, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức
Trọng tài.
Chủ trương khuyến khích sử dụng Trọng
tài trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên trước hết xuất phát từ
nhu cầu của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp nhân dân sự muốn giải
quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu quả.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử của Toà án ở nước ta hiện nay. Theo
thống kê của các cơ quan tư pháp, tại Toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2005 đến nay, năm nào số lượng vụ việc năm
sau cũng tăng gấp đôi năm trước. Tình hình đó ảnh hưởng đến chất lượng xét xử,
gây áp lực cao đối với các thẩm phán, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các
doanh nghiệp về mức độ an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
2. Quan điểm chỉ đạo của việc xây dựng Luật Trọng tài là: Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại,
kế thừa và phát triển các quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống, Luật Trọng tài thương
mại phải tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để
giải quyết các tranh chấp.
3. Việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại dựa trên
các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, Luật Trọng tài thương mại phải phù hợp và đáp ứng
được nhu cầu thực tiễn hoạt động kinh doanh và thực tiễn giải quyết tranh chấp
hiện nay và dự báo trong thời gian tới khi nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu và bề rộng của nó.
Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, hiện cả nước có hơn 300.000 doanh nghiệp, đặc biệt số các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ngày càng gia tăng và đóng góp vai trò ngày càng quan trọng vào đời sống
kinh tế của đất nước. Theo đó, số các vụ việc tranh chấp sẽ ngày càng nhiều
hơn, nhu cầu giải quyết các tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng được đặt ra ngày
càng bức xúc hơn.
Thứ hai, Luật Trọng
tài thương mại phải đáp
ứng được yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi và đối tượng điều chỉnh
của Luật Trọng tài thương mại phải được đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, bảo đảm sự phù hợp với các Điều ước quốc tế về thương mại mà Việt Nam
là thành viên, trước hết là đảm bảo thực thi các cam kết mở cửa thị trường dịch
vụ, trong đó có dịch vụ về Trọng tài.
Quá trình soạn thảo Luật Trọng tài thương mại đã chú trọng tham khảo và tiếp
nhận các quy định của Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Uỷ ban Liên
Hợp Quốc về Luật Thưong mại Quốc tế (UNCITRAL) ban hành ngày 21 tháng 6 năm
1985, bổ sung, sửa đổi ngày 07 tháng 7 năm 2006. Luật cũng đã tiếp thu những
kinh nghiệm thành công của các nước có thị trường dịch vụ trọng tài phát triển
như Anh, Mỹ, Hồng Kông, Singapore và cả những bài học về sự chưa thành công của
một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản. Sự tiếp thu Luật Mẫu sẽ tạo
thuận lợi cho các doanh nhân nước ngoài lựa chọn Trọng tài Việt Nam để giải
quyết các tranh ch��p của họ và từ đó tạo thêm một yếu tố hấp dẫn mới cho các
hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ ba, Luật Trọng tài thương mại cần đảm bảo hơn nữa quyền tự
định đoạt của các bên trong việc lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp.
Về bản chất, Trọng tài là một quá trình đồng thuận trong đó cơ sở đầu tiên để
xác định thẩm quyền của Trọng tài là thoả thuận trọng tài giữa các bên. Đây là
một nguyên tắc quan trọng của Trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của
các bên tranh chấp, đồng thời cũng chỉ rõ thêm tính chất tài phán t�� của hình
thức giải quyết tranh chấp này. Cơ sở đồng thuận về Trọng tài tạo cho Trọng tài
tiềm năng để trở thành phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt. Do đó,
nguyên tắc cơ bản của lập pháp hiện đại đối với Trọng tài chính là quyền tự
định đoạt của các bên. Quyền tự định đoạt của các bên cũng được coi là một
trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL và của Luật Trọng tài nhiều
nước trên thế giới. Do đó, các quy định về Trọng tài cần được xây dựng trên cơ
sở cho phép các bên tranh chấp quyền được lựa chọn mô hình và loại hình giải
quyết tranh chấp mà mình mong muốn, đồng thời đảm bảo tối đa quyền được lựa
chọn trọng tài của các bên.
III. Những
điểm mới của Luật Trọng tài thương mại so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại
năm 2003
3.1.
Bố cục của Luật Trọng tài thương mại:
Luật Trọng tài Thương mại gồm 13 Chương, 82 Điều:
Chương I: Những quy định chung
Chương II:
Thỏa thuận Trọng
tài
Chương III: Trọng tài viên
Chương IV: Trung tâm Trọng tài
Chương V: Khởi kiện
Chương VI: Hội đồng Trọng tài
Chương VII: Biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chương VIII: Phiên họp giải quyết tranh chấp
Chương IX: Phán quyết Trọng tài
Chương X: Thi hành phán quyết Trọng tài
Chương XI: Hủy phán quyết Trọng tài
Chương XII: Tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước
ngoài tại Việt Nam
Chương XIII: Điều khoản thi hành
Luật Trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2011. Pháp lệnh Trọng tài thương mại số
03/2003/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực. Các thỏa thuận trọng tài được ký kết trước ngày
Luật này có hiệu lực được thực hiện theo các quy định của pháp luật tại thời
điểm ký thỏa thuận trọng tài.
3.2. Những điểm mới cơ bản của Luật Trọng tài thương mại thể hiện ở những nội dung sau đây:
3.2.1.
Mở rộng thẩm quyền của Trọng tài
3.2.1.1. Về phạm vi thẩm quyền:
Theo quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương
mại, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau:
a. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ
hoạt động thương mại;
b. Tranh chấp phát sinh giữa các bên
trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
c. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp
luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Luật đã khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng
tài thương mại năm 2003, khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm
quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự
tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật thương mại, Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành.
Như vậy, ngoài việc có thẩm quyền đối với các tranh
chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, Luật còn để mở khả năng trọng tài có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại
nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng trọng tài.
3.2.1.2. Về chủ thể tranh chấp:
Luật không có giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp.
Tổ chức, cá nhân bất kỳ đều có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết
tranh chấp miễn là lĩnh vực tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Trong
khi đó, theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, chỉ có tổ chức kinh doanh
hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài.
Thực tiễn áp dụng cho thấy, việc giới hạn phạm vi chủ
thể tranh chấp chỉ bao gồm “tổ chức kinh doanh” và “cá nhân kinh doanh” khiến
các bên tranh chấp và các trung tâm trọng tài gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Thứ nhất, về thuật ngữ “cá nhân kinh doanh”. Do Pháp lệnh và các
văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh không giải thích thế nào là “cá nhân kinh
doanh” nên có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Có quan điểm cho
rằng, bất kỳ một cá nhân nào bỏ vốn ra để đầu tư, kinh doanh không phân biệt
phạm vi và quy mô kinh doanh đều được gọi là cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên,
quan điểm khác lại cho rằng để được gọi là “cá nhân kinh doanh” thì cá nhân đó
phải có đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, về thuật ngữ “tổ chức kinh
doanh”. Trong thực tế, có rất nhiều tổ chức không phải là tổ chức kinh doanh
như các ban quản lý dự án, cơ quan hành chính sự nghiệp tham gia đấu thầu hoặc
giao kết các hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm chính phủ, trong đó sử dụng
trọng tài theo khuyến nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính quốc tế như
Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á v.v.... và trên thế giới các
chủ thể này hoàn toàn có quyền lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, tuy
nhiên tại Việt Nam lại không được phép lựa chọn trọng tài vì không phải là tổ
chức, cá nhân kinh doanh. Ngoài ra, với sự xuất hiện của Luật Đầu tư năm 2005
trong đó xác định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp mà một bên
chủ thể là cơ quan quản lý Nhà nước nên
quy định của Pháp lệnh trọng tài năm 2003 đã không còn phù hợp nữa.
Những điểm
bất cập trên đã khiến các trung tâm trọng tài phải từ chối giải quyết nhiều vụ
tranh chấp do các bên tranh chấp không phải là tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân
kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Trọng tài thương mại đã dỡ bỏ những hạn chế và bất
cập trên. Với việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài, số vụ tranh chấp đưa ra
trọng tài sẽ nhiều hơn trong thời gian tới.
3.2.2. Khắc phục sự không rõ ràng của
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về các trường hợp thoả thuận trọng tài. Điều 18 của Luật giới hạn 06 tình huống thoả thuận
trọng tài bị coi là vô hiệu gồm:
1.
Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài
theo quy định tại Điều 2 của Luật này.
2.
Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật.
3.
Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy
định của Bộ luật dân sự.
4. Hình
thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật
này.
5. Một
trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả
thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6. Thỏa
thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Đặc biệt Luật đã bỏ quy định về việc thỏa thuận
trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải
quyết. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, Luật
cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại. Trong trường hợp không thỏa thuận
được thì bên khởi kiện (Nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn tổ chức trọng
tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình (Điều 43 khoản 5). Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình
trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải
quyết tranh chấp.
3.2.3. Lần
đầu tiên Luật có quy định về tranh chấp liên quan đến một bên là người tiêu
dùng. Theo Luật Trọng tài thương
mại (Điều 17), đối
với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, dù
điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp
hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu
dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp.
Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được
người tiêu dùng chấp thuận. Quy
định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở một vị
thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng
in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định
bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết.
3.2.4. Kế
thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật
Trọng tài thương mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng
tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng
lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội. Theo đó cá nhân có
năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác
từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên (Điều 20 khoản 1 (a), 1(b). Đặc
biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài viên
phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật có quy
định mở đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu của 1 (a),
1(b), cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên (Điều 20 khoản 3)
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương
mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có
quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ
định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng
tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam
tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.5.
Về trọng tài quy chế, so
với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài bổ sung một số nội
dung dưới đây:
Thứ
nhất, so với Pháp lệnh năm 2003, Luật Trọng tài thương mại đã đưa ra định nghĩa
pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho khái niệm “Hội đồng trọng tài được
thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh năm 2003 quy định. Theo đó,
Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung tâm trọng tài
và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài.
Thứ
hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng
tài phù hợp với đặc thù của mỗi trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các
bên tranh chấp. Chỉ khi nào các bên không có thỏa thuận hoặc Quy tắc tố tụng
trọng tài của trung tâm trọng tài không có quy định khác, lúc đó Luật mới đưa
ra quy định hướng dẫn.
Thứ ba,
Luật cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên.
3.2.6.
Luật đã nâng vị thế của Trọng tài một cách đáng kể thông qua việc cho phép Hội đồng trọng tài được thu thập
chứng cứ (Điều 47), triệu tập nhân chứng (Điều 48), áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời (Điều 50). Điều này sẽ giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả
hơn. Ở đây, Luật đã tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được thông qua năm
2006.
3.2.7 Luật đã hạn chế nguy cơ phán quyết của
Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định không phù hợp của Pháp lệnh năm 2003 như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên
Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng
tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở
nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài.
Về căn cứ hủy phán quyết trọng tài, Luật quy định các
căn cứ rõ ràng, cụ thể, phù hợp với Luật Mẫu UNCITRAL, xóa bỏ một số căn cứ hủy
phán quyết trọng tài không rõ ràng được quy định trong Điều 54 khoản 5 Pháp
lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đó là căn cứ: “Bên yêu cầu
chứng minh được trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp có Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ của Trọng tài viên quy định tại khoản
2 Điều 13 của
Pháp lệnh này”. Trên thực tế những tiêu chí “vô tư”, “khách quan” không được
quy định rõ ràng nên rất dễ bị lạm dụng để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Theo
Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, các căn cứ hủy phán quyết trọng tài gồm:
1. Tòa
án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.
2. Phán
quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không
có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ
tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với
các quy định của Luật này;
c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền
của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;
d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội
đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận
tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng
đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
đ) Phán quyết trọng tài trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Điểm khác biệt so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
là Luật đã phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành 2 trường hợp. Đối
với các căn cứ tại khoản a, b, c, d bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chứng minh. Đối
với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ, Tòa án có trách nhiệm
chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết
trọng tài.
3.2.8. Một trong những quy định mới của Luật
Trọng tài thương mại là đã
tiếp thu một nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là nguyên tắc rất
quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát
triển. Quy định mới của Luật (Điều 13), theo đó một bên phát
hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp
tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn
do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án. Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các
hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài.
3.2.9.
Một trong những tâm điểm quan trọng nhất của Luật Trọng tài thương mại là vấn đề về mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án
trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên. Luật đã đưa ra
một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này. Cụ
thể Điều 7 xác
định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài. Quy định này đã khắc
phục được những bất cập của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Tính xác
định và rõ ràng này của Luật sẽ tạo điều kiện để các Toà án và Hội đồng trọng
tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ
thể. Và đó chính là điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả.
3.2.10.
Về thủ tục Tòa
án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Khác với
Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài chỉ có 1 cấp và có giá trị chung thẩm. Việc Luật quy định một Hội đồng gồm
ba Thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài và quyết định của Hội
đồng là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp.
IV. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
Luật Trọng
tài thương mại có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Để Luật sớm đi vào cuộc sống và
được thực thi một cách có hiệu quả cần tập trung triển khai một số việc trong
thời gian tới là:
4.1. Luật Trọng tài thương mại là
Luật được quy định khá chi tiết, kế thừa nhiều nội dung của pháp luật quốc tế
và pháp luật hiện hành còn phù hợp. Để khi có hiệu lực thi hành Luật được áp dụng dễ dàng và thuận lợi, một số văn
bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cần được xây dựng, ban hành, trước
mắt sẽ ban hành Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Trọng tài thương mại.
4.2. Tiến
hành tổ chức tuyên truyền và giới thiệu một cách sâu rộng để xã hội, đặc biệt
là các doanh nghiệp biết đến cơ chế giải quyết bằng Trọng tài.
4.3. Sớm
hình thành những tổ chức mà Luật cho phép, tổ chức các khóa đào tạo Trọng tài
viên và nâng cao trình độ cho các Trọng tài viên Việt Nam.
4.4. Phát triển các tổ chức trọng tài
mới (dưới dạng Trung tâm hoặc Viện trọng tài) trên cơ sở cân nhắc đến nhu cầu
khách quan của xã hội. Đồng thời, đảm bảo hiệu quả và chất lượng đối với những
Tổ chức trọng tài mới thành lập trên cơ sở sự quản lý của Nhà nước về hoạt động
trọng tài.
BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ
BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
HỘI LUẬT GIA VIỆT NAM - VĂN PHÒNG
TRUNG ƯƠNG HỘI
Điều
12. Giải quyết tranh chấp
- Tranh
chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua
thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.
- Tranh
chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà
nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được
giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.
- Tranh
chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được
giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:
(a) Toà án Việt Nam; (b)
Trọng tài Việt Nam;(c)
Trọng tài nước ngoài; (d) Trọng tài quốc tế;(đ) Trọng tài do các bên tranh chấp
thoả thuận thành lập.
- Tranh
chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên
quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua
Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong
hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu
tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
Điều 13 khoản 2
2. Trọng tài viên có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ các quy định của Pháp lệnh này;
b) Vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh
chấp;
c) Từ chối giải quyết vụ tranh chấp trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 của Pháp lệnh này;
d) Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải
quyết;
đ) Không được nhận
hối lộ hoặc có hành vi khác vi phạm đạo đức Trọng tài viên.
1. Trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa
án cụ thể thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn.
2. Trong trường hợp các
bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được xác định
như sau:
a) Đối với việc chỉ định
trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền
là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị
đơn nếu bị đơn là tổ chức. Trong trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm
quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó.
Nếu bị đơn có nơi cư trú
hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi
có trụ sở của nguyên đơn;
b) Đối với việc thay đổi
Trọng tài viên thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải
quyết tranh chấp;
c) Đối với yêu cầu giải
quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền thì Tòa án có
thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định;
d) Đối với yêu cầu Tòa
án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có chứng cứ cần
được thu thập;
đ) Đối với yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi
biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;
e) Đối với việc triệu
tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của người làm
chứng;
g) Đối với yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm
quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài.
3. Trong trường hợp tài
sản, người làm chứng và các chứng cứ ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền thực
hiện việc ủy thác tư pháp được thực hiện theo Luật tương trợ tư pháp.
4. Tòa án có thẩm quyền
đối với hoạt động của trọng tài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.