Đề tài cấp cơ sở “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc mở rộng phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản”
Nhằm chỉ rõ thực trạng đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản ở nước ta trong thời gian vừa qua, qua đó để nhận thức được sự cần thiết phải mở rộng phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan tại Việt Nam
Cục Đăng ký đã
triển khai nghiên cứu, thực hiện một số phân tích về mặt pháp lý và bảo vệ
thành công Đề tài cấp cơ sở “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc mở rộng phạm
vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản”. Sau đây
là một số nội dung chủ yếu của đề tài:
1. Khái niệm hoạt động
đăng ký
Dưới giác độ là biện pháp
nhằm công khai và minh bạch hoá tình
trạng pháp lý của động sản và lợi ích của việc đăng ký đối với các chủ thể có
liên quan, thì đăng ký được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ghi nhận và chứng thực về mặt pháp lý quyền sở hữu và các giao dịch
bảo đảm bằng động sản theo nghĩa rộng của từ này.
Nếu xét dưới giác độ nội dung của chế định quyền sở hữu, đăng ký được xem
là bước cuối cùng trong quá trình thiết lập hoặc chuyển dịch quyền sở hữu. Sau
khi đăng ký, người đăng ký có quyền sở hữu tài sản.
Tuy nhiên, khác với cơ quan đăng ký sở hữu tài sản, cơ quan đăng ký giao
dịch bảo đảm không ghi nhận sự tồn tại hoặc dịch chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra,
khác với đăng ký sở hữu, việc đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có
hai chức năng quan trọng, đó là:
Thứ nhất, làm
giảm rủi ro cho các bên khi ký kết, thực hiện các hợp đồng, đặc biệt là hợp
đồng tín dụng có sự bảo đảm bằng tài sản thông qua việc thông báo công khai cho
bên thứ ba là người có quyền lợi liên quan, ví dụ như người mua, chủ nợ có bảo
đảm hoặc không bảo đảm khác của các nghĩa vụ liên quan tới tài sản mà bên mắc
nợ đang sở hữu.
Thứ hai, là căn
cứ pháp lý để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, dựa theo thời điểm thực hiện
đăng ký giữa những người cùng có quyền lợi đối với một tài sản bảo đảm.
2. Lợi ích của hoạt động đăng ký trong việc công
khai và minh bạch hóa tình trạng pháp lý của động sản
Việc đăng ký các quyền đối với tài sản ban đầu không mang tính phổ biến
trong hệ thống pháp luật thành văn, tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, việc không công khai thực trạng các giao dịch về động sản gây tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Có thể nói, việc công khai và minh bạch hóa tình trạng pháp lý
của động sản thông qua hệ thống đăng ký đem lại những lợi ích cơ bản sau:
Thứ nhất, đối với bên có quyền đối với động sản,
nhưng không phải chủ sở hữu động sản
Đăng ký là một trong những cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên
có quyền đối với động sản, nhưng không phải là chủ sở hữu động sản (ví dụ: bên
nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm; bên thuê động sản trong hợp đồng
thuê...), vì thông qua hệ thống đăng ký, trước khi ký kết hợp đồng các chủ thể
có quyền liên quan đến động sản nêu trên có thể xác định chính xác những chủ
thể có quyền sở hữu, quyền và lợi ích liên quan đến động sản để loại trừ rủi ro
có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng có đối tượng là động sản.
Ngoài ra, do việc đăng ký mang ý nghĩa “giao dịch, hợp đồng đã
được đăng ký, thì coi như được mọi người nhận biết”. Vì vậy, pháp luật thừa
nhận giao dịch, hợp đồng được đăng ký mang ý nghĩa công bố công khai quyền lợi
của bên nhận bảo đảm, bên thuê mua động sản, bên bán có bảo lưu quyền sở hữu...
với người thứ ba, đồng thời tất c�� các chủ thể (người thứ ba) khi xác lập giao
dịch liên quan đến động sản là đối tượng của giao dịch, hợp đồng đã đăng ký đều
buộc phải biết về sự hiện hữu của các quyền liên quan đến tài sản đó.
Ngoài ra, việc đăng ký còn giúp cho bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo
đảm, bên thuê mua động sản trong hợp đồng thuê mua, bên bán có bảo lưu quyền sở
hữu trong hợp đồng mua bán có bảo lưu quyền sở hữu động sản... có được thứ tự
ưu tiên cao hơn so với các chủ thể khác (ví du: trong trường hợp hợp đồng bảo
đảm đã được đăng ký thì bên nhận thế chấp động sản có thứ tự ưu tiên thanh toán
cao hơn so với các chủ nợ khác khi xử lý tài sản bảo đảm), vì thời điểm đăng ký
là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên giữa các chủ thể có quyền liên quan đến
động sản.
Thứ hai, đối với bên có nghĩa vụ
Một trong những yêu cầu đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội là việc ký
kết, thực hiện hợp đồng, giao dịch liên quan đến động sản không được ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của bên có nghĩa vụ (ví dụ: bên
bảo đảm trong giao dịch bảo đảm; bên cho thuê mua có bảo lưu quyền sở
hữu..) Điều này có nghĩa, bên bảo đảm vẫn giữ tài sản bảo đảm và tiếp tục
khai thác, sử dụng tài sản nhằm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của mình.
Đặc điểm này vô cùng quan trọng trong nền tài chính hiện đại, thông qua cơ chế
đăng ký giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vừa đạt được mục đích dùng tài sản để
bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, vừa duy trì được hoạt động sản xuất - kinh
doanh của mình. Chính nguồn lợi thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm sẽ
giúp bên nhận bảo đảm từng bước thu hồi vốn, tái đầu tư và thanh toán được nợ
cho bên nhận bảo đảm. Do vậy, nếu phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo
đảm hoặc người thứ ba giữ, thì mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của bên bảo
đảm bị ngưng trệ. Điều này đi ngược lại với mục đích của giao dịch bảo đảm hiện
đại, đó là vừa giúp các giao dịch được an toàn, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội.
Thứ ba, đối với bên thứ ba
Trong nhiều trường hợp, do thiếu thông tin nên bên thứ ba có thể dễ dàng
cho rằng tài sản vẫn chưa được dùng để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ nào trên
thực tế. Vậy việc công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý của động sản
được đăng ký là một giải pháp, bên thứ ba có thể tìm hiểu thông tin tại cơ quan
đăng ký có thẩm quyền để biết được những giao dịch bảo đảm liên quan đến tài
sản bảo đảm đã tồn tại từ trước, vì những thông tin về tình trạng pháp lý được
lưu giữ, công bố rộng rãi. Công khai thông tin về tình trạng pháp lý của tài
sản nói chung và động sản nói riêng là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hệ
thống đăng ký giao dịch, tài sản hiện đại, vì qua đó sẽ giúp các chủ thể có thể
đánh giá và phòng ngừa những rủi ro khi ký kết, thực hiện hợp đồng, giao dịch.
Thứ tư, đối với nền kinh tế - xã hội
Nền kinh tế - xã hội phát triển đòi hỏi tình trạng pháp lý của động sản
được đăng ký chính xác, thuận lợi với chi phí hợp lý, qua đó giúp tiết kiệm chi
phí giao dịch (gồm chi phí về thời gian, công sức, tiền của...) và nâng cao
tính cạnh tranh của nền kinh tế, giúp hạn chế được những tranh chấp phát sinh
trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống đăng ký giao dịch bảo
đảm, Nhà nước sẽ có được những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định
các chính sách mang tính vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến chính sách bảo
đảm an toàn tín dụng. Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm được vận hành hiệu quả
sẽ khuyến khích hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu vốn trong xã hội, nhờ đó
nguồn vốn trong xã hội sẽ được luân chuyển liên tục, khắc phục tình trạng khan
hiếm vốn và sự mất cân đối về nhu cầu vốn giữa các thành phần kinh tế.
Với những ý nghĩa nêu trên, có thể khẳng định, việc công khai hoá thông tin
về tình trạng pháp lý của động sản là cần thiết. Do vậy, “pháp luật cần quy
định hình thức công khai hoá phù hợp để tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng
thời tạo ra được công cụ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên và của cá
nhân, tổ chức có liên quan, ngăn ngừa các tranh chấp có thể phát sinh, trong đó
đăng ký là một chế định phổ biến”
3. Thực trạng pháp luật về đăng ký, cung cấp
thông tin về tình trạng pháp lý của động sản tại Việt Nam
Đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp
lý của động sản được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó
phải kể đến các văn bản như Bộ luật dân sự, Bộ luật hàng hải, Luật Hàng không
dân dụng, Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP, Nghị định số
163/2006/NĐ-CP, Thông tư số 06/2006/TT-BTP, Thông tư số 03/2006/TT-BTP, Thông tư số 04/2007/TT-BTP,
Thông tư số 07/2007/TT-BTP…Các văn bản này đã tạo thành khung pháp luật quan
trọng cho việc mở rộng phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp
lý của động sản.
Theo quy định của pháp luật nêu trên, phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin
về tình trạng pháp lý của động sản bao gồm: quyền sở hữu, giao dịch bảo đảm,
hợp đồng, việc kê biên tài sản thi hành án bằng động sản.
Đăng ký và cung cấp thông tin về
quyền sở hữu đối với động sản: Theo Điều 167 Bộ luật dân sự
2005, “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ
luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản
không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”. Như vậy,
nếu như đăng ký bất động sản mang tính nguyên tắc chung, thì đăng ký động sản
chỉ mang tính ngoại lệ đối với một vài trường hợp. Theo quy định của pháp luật
hiện hành, chỉ số ít động sản như tàu bay, tàu biển và các sản phẩm trí tuệ mới
thuộc diện đăng ký quyền sở hữu hoặc có văn bằng xác nhận quyền sở hữu và giá
trị pháp lý (hiệu lực) của việc đăng ký không có sự đồng nhất trong mọi trường
hợp. Theo đó, đối với tàu bay, tàu biển và quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, việc
đăng ký làm phát sinh quyền sở hữu của người đăng ký. Còn những trường hợp còn
lại, đăng ký quyền sở hữu không có giá trị bắt buộc mà chỉ có ý nghĩa công khai
thông tin về chủ thể quyền sở hữu cho bên thứ ba.
Đăng ký và cung cấp thông tin về
giao dịch bảo đảm bằng động sản
Theo quy định của pháp luật hiện hành,
giao dịch bảo đảm bằng động sản thuộc diện đăng ký và yêu cầu cung cấp thông
tin bao gồm: giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, giao dịch bảo đảm bằng tàu biển,
giao dịch bảo đảm bằng các động sản khác.
Theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, “thế chấp,
cầm cố tàu bay” là một trong các quyền đối với tàu bay (điểm c khoản 1 Điều
28) và các quyền đối với tàu bay (bao gồm cả quyền thế chấp, cầm cố) bắt buộc
phải đăng ký (Điều 29); và theo quy định của Nghị định số 29/2009/NĐ-CP, thì “Tàu
biển Việt Nam được đăng ký thế chấp tại cơ quan đăng ký tàu biển khu vực mà tàu
biển đó đăng ký” (Điều 17); đối với các loại động sản khác (trừ tàu bay,
tàu biển) thuộc diện đăng ký giao dịch bảo đảm đã được quy định cụ thể,
chi tiết tại Thông tư số 06/2006/TT-BTP và Thông tư số 03/2007/TT-BTP. Sự đa
dạng và mở rộng các loại động sản hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của
một hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm hiện đại. Đồng thời, những quy định về
cung cấp thông tin về động sản cũng được công khai có hiệu quả, tạo thuận lợi
và cơ hội tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa
và nhỏ ngày càng tăng, đáp ứng được nhu cầu về vốn trong xã hội.
Đăng ký và cung cấp thông tin về
hợp đồng
Việc cho thuê tài chính, thuê hoạt động dài hạn, việc bán các hợp đồng bán
hàng có bảo đảm và các quyền lưu giữ tài sản không phải là những quyền lợi bảo
đảm thực sự đúng nghĩa. Tuy nhiên thực tế cho thấy sự cần thiết đưa những loại việc trên vào hệ thống đăng ký và tuân theo những
quy tắc ưu tiên giống như giao dịch bảo đảm truyền thống nhằm bảo vệ bởi quyền và lợi ích của bên thứ ba
và các bên có liên quan. Do đó,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về
giao dịch bảo đảm quy định cách xác định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo đảm
ngay tình với bên bán tài sản trả chậm, trả dần, bên thuê tài sản hoặc bên nhận
chuyển giao quyền đòi nợ đối với tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê
hoặc quyền đòi nợ được chuyển giao căn cứ vào thời điểm đăng ký các hợp đồng
bảo đảm, hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng chuyển
giao quyền đòi nợ. (Điều 13, Điều 22). Trên cơ sở này, Bộ Tư pháp đã ban hành
Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và
thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo
lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài
chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (sau đây gọi là Thông tư số
04/2007/TT-BTP). Sự ra đời của Thông tư này được đánh giá là một bước tiến quan
trọng của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của một hệ thống đăng ký hiện đại.
Thông báo việc kê biên tài sản thi hành án
và cung cấp thông tin về tài sản kê biên
Thông báo việc kê biên tài sản không
chỉ góp phần bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án,
người được thi hành án (những chủ thể có quyền lợi liên quan trực tiếp đến
quyết định kê biên của cơ quan thi hành án dân sự), mà còn góp phần đảm bảo cho
các giao dịch, cũng như quyền lợi của tổ chức, cá nhân khác được thực hiện an
toàn, minh bạch, tránh được những rủi ro pháp lý có thể xảy ra khi ký kết, thực
hiện hợp đồng liên quan đến tài sản bị kê biên.
Trên cơ sở những văn bản có liên quan
của cơ quan có thẩm quyền, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 07/2007/TT-BTP
ngày 09 tháng 10 năm 2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thông báo việc kê biên
tài sản thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản kê biên tại các Trung tâm
Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ
Tư pháp.
4. Một số hạn chế cơ bản trong quy định của
pháp luật hiện hành về phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp
lý của động sản
Qua việc áp dụng pháp luật cho thấy, về cơ bản,
các văn bản này đều đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn đời sống. Tuy nhiên, vẫn
còn tồn tại một số hạn chế cơ bản trong quy định của pháp luật hiện hành về
phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản, đòi
hỏi sớm được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trong thời gian tới. Cụ thể như
sau:
Thứ nhất, cách tiếp cận của pháp
luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, dẫn đến
hệ quả đã thu hẹp phạm vi đăng ký và yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng
pháp lý của động sản.
Thứ hai, phạm vi đăng ký và cung cấp
thông tin về tình trạng pháp lý của động sản trong một số trường hợp chưa phù
hợp với thông lệ quốc tế và một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đang làm thủ
tục gia nhập.
Thứ ba, phạm vi đăng ký
và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản còn hẹp chưa đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn, có một số quy định của pháp luật về vấn đề này còn
chồng chéo, mâu thuẫn.
Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa quy
định rõ ràng về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa quyền thu nợ xuất phát từ bản
án, quyết định dân sự, quyết định của cơ quan có thẩm quyền... với quyền thu nợ
của chủ nợ có bảo đảm phát sinh từ giao dịch bảo đảm.
5. Mục tiêu cơ bản trong việc mở rộng phạm vi
đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản tại Việt Nam
Trên cơ sở nghiên
cứu, phân tích những tồn tại và một số hạn chế cơ bản trong quy định của pháp
luật hiện hành về phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý
của động sản, Đề tài cấp cơ sở cũng đã đặt ra yêu cầu đối với việc mở rộng phạm
vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản, đặc biệt
là việc hoàn thiện pháp luật theo hướng mở rộng phạm vi đăng ký và cung cấp
thông tin về tình trạng pháp lý của động sản của nước ta trong thời gian tới
cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc mở rộng
phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản phải
đảm bảo nguyên tắc phù hợp và đồng bộ với hệ thống pháp luật về giao dịch bảo
đảm
Thứ hai, việc mở rộng
phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản phải
dựa trên quan điểm hài hoà hoá với pháp luật và thông lệ quốc tế trong điều
kiện hội nhập
Thứ ba, việc mở rộng phạm
vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản phải đáp
ứng mục tiêu bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như tạo
đầy đủ cơ sở pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp
6. Một số đề xuất, kiến nghị về việc mở rộng
phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của động sản tại
Việt Nam
Thứ nhất, Mở rộng đối tượng
các giao dịch, các quyền liên quan đến động sản cần được đăng ký, công khái hóa
về tình trạng pháp lý đối với người thứ ba
Thứ hai, quy định đơn giản, rõ ràng
về điều kiện đối với tài sản bảo đảm là động sản
Thứ ba, quy định cụ thể, đầy đủ và chính xác về thứ tự ưu tiên
Thứ tư, xác định rõ nội
hàm của khái niệm “giá trị pháp lý”
Thứ năm, rà soát, bãi bỏ
những quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc hạn chế các chủ thể thiết lập,
thực hiện các giao dịch
Thứ sáu, mở rộng phạm vi cung cấp thông tin về tình trạng
pháp lý của động sản
Thứ bảy, pháp luật cần khẳng định giá trị pháp lý của thông
tin về tình trạng pháp lý của động sản được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
Bên cạnh những giải pháp nêu trên,
trong Đề tài cấp cơ sở cũng đã chỉ ra răng, về lâu dài, Việt Nam cần thiết xây dựng thiết chế
công khai hóa tình trạng pháp lý của động sản đáp ứng các mục tiêu chủ yếu sau
đây:
- Thể chế hoá chủ trương cải cách tư
pháp, cải cách hành chính vào lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm theo hướng tạo
điều kiện thuận lợi cho công chúng tiếp cận với hệ thống các cơ quan đăng ký,
được cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết để xem xét, quyết định trước khi
giao kết các giao dịch dân sự, kinh tế;
- Phải đáp ứng yêu cầu công khai hoá và
minh bạch các giao dịch bảo đảm; phù hợp với các quy định có liên quan trong Bộ
luật dân sự và các văn bản pháp luật khác, nhằm thúc đẩy giao dịch bảo đảm nói
riêng và giao dịch dân sự, thương mại nói chung phát triển;
- Kế thừa và pháp điển hóa các quy định
hiện hành còn phù hợp; vận dụng kinh nghiệm tốt của nước ngoài phù hợp với điều
kiện cụ thể của Việt Nam;
- Từng bước đổi mới về tổ chức các cơ
quan đăng ký, hướng tới mục tiêu giảm bớt đầu mối các cơ quan đăng ký, đăng ký
tập trung, nối mạng và tin học hoá;
- Mở rộng phạm vi các trường hợp đăng
ký giao dịch bảo đảm, lợi ích được bảo đảm, để tăng cường an toàn pháp lý cho
các giao dịch và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin.
- Thống nhất quy trình đăng ký các giao
dịch bảo đảm, bảo đảm các nguyên tắc: Đơn giản, thuận tiện, khoa học và chính
xác trong quy trình đăng ký, cung cấp thông tin; công khai hoá các giao dịch
bảo đảm, lợi ích được bảo đảm cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu; xác
định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán.
Ngoài ra, bên cạnh đề xuất về mặt pháp
luật, để tạo thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi đăng ký và cung cấp thông tin
về tình trạng pháp lý của động sản phát huy được những tác dụng tích cực trong
thực tiễn, thì ngoài các giải pháp về mặt hoàn thiện thể chế nêu trên, cần thực
hiện tốt các giải pháp khác như: thiết lập, hoàn thiện hoạt động đăng ký tình
trang pháp lý của động sản, mà trước tiên là giao dịch bảo đảm qua mạng
Internet; xây dựng mô hình cơ quan đăng ký tập trung; xây dựng cơ chế phối hợp
và chia sẻ thông tin giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan đăng ký
quyền đối với động sản phục vụ công tác quản lý nhà nước về các lĩnh vực
này…nhằm giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan, qua đó góp phần làm lành mạnh
hoá các giao dịch bằng động sản.
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm
Nguồn:http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/Nghin%20cu%20trao%20i/View_Detail.aspx?ItemID=4356
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)



TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------