Dỡ "rào cản" sở hữu đất đai
Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật về đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản của Bộ luật Dân sự) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.
Bản chất của quá trình tư nhân hoá đất
đai: các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công
cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và
quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở
hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nước và xã hội phải gánh chịu, là giá đất
ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu tư thì ngày
càng thấp.
Xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết.
Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng
“đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị
về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như
không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên,
nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật Dân sự được.Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của
sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là
luật về địa chính.
Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc
sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt
về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về
đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh
đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc
hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó.
Nói cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một
thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có
nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của
quyền sở hữu đất đai, đó quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không
tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Theo đó, người dân (chủ sử dụng
đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ
quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và phải
được sự đồng ý của Nhà nước.
Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói
trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chính sách của Nhà nước
nhằm kế hoạch hoá một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất
đất đai.
Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây
dựng nền kinh tế thị trường, chủ trương kế họach hoá của Nhà nước đối
với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở
hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc
tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp
cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân thông qua việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành
tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định này còn đã và đang gây
ra các “lạm dụng” một cách công khai hay bí mật của tất cả các chủ thể
liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả
chính các cơ quan chính quyền, qua đó, thay vì chuyển đất đai thành tài
sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành
phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.
Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế
theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã
và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô
hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách
rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở
hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách
can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất. Tuy nhiên, cách này
đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị
trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong
nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm
phá vỡ các kế hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc
các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy hoạch phát triển
kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.
Hơn nữa, các dự án đó lại được khởi xướng và quyết
định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm
đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế,
dân sinh. Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối
cho phép các dự án đầu tư mang
tính “gây sức ép” như vậy được không? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt
công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn
lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh
tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.
Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở
chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của
nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các
quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Thực tế vừa qua, trong phần lớn
các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà
nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia
hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá
trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra
thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp
vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên
quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và
buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.
“Sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?
Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở
đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi
nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền
ra mua từ trước, nay để nhận được một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp
tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán,
chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chỉ là các
thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, họ vẫn giao dịch
bằng giấy viết tay.
Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay,
đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước, khi tiến hành các thủ
tục hành chính liên quan, chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh
đất. Song, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người dân vẫn hiểu
rằng người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở
hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch, bên
mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền
và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể
thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn
các “yếu tố hành chính”.
“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận
lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp
đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn
lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay
hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền
sử dụng đất thay thế bên vay, bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được
pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng
đất như đã nói ở trên.
Hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất
lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát
huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế nếu nó
thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính
chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó),
trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý
nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.
“Rào cản” đối với phát triển
Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường
tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các
chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các
“mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay
vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa
dạng về mục đích sử dụng. Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh
doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay
vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản.
Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế
chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới
hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với
các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử
dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức
pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan
đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..),
(iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm,
trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để
chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Lạm dụng trong quy hoạch và thu hồi
Các panô dự án mọc lên giữa ruộng lúa, sau đó người
dân mới được thông báo đất của họ đã nằm trong dự án, tiền không nhận
thì được chuyển gửi vào kho bạc. Ảnh: Trần Việt Đức
Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực
đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại
các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai
khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất
hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công
nghiệp và thương mại.
Về mặt lý thuyết, quyền quy hoạch sử dụng đất đương
nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân
dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch. Trên thực tế, nhân danh vai
trò “đại diện chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn
quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy hoạch. Quá trình lạm
dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ
phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là
quy hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm
hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án
kinh tế cụ thể.
Ngoài ra, Luật đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi
hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển
các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án
này. Khác với nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị
trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân
nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm
cá nhân các nhà kinh doanh. Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân
biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính
những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã
không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và
đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời
gian qua là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng
triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự
“lạm dụng” đó có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù
hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
SOURCE: TRÍCH BÁO CÁO “HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO YÊU CẦU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 48/NQ-TW” – BÁO CÁO
NÀY ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI SỰ TÀI TRỢ CỦA UNDP VIỆT NAM - NHÓM CÁC TÁC GIẢ: PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS.TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP
Trích dẫn từ: http://sgtt.vn/Ban-doc/130239/Bai-3-Do-“rao-can”-so-huu-dat-dai.html
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------