Dọa tung hình và clip nóng (sex), phạm tội gì ?
Thưa luật sư, một năm nay bạn trai cũ của tôi đe dọa tung hình và clip nóng lên mạng và cho những người thân, họ hàng xung quanh của tôi biết. Anh ta còn đe dọa đến ngày cưới sẽ làm việc này. Tôi phải làm gì để ngăn chặn việc này và xóa được clip gốc, cũng như để anh ta không trả thù cá nhân
Mong luật sư tư vấn giúp tôi.
Quyền nhân thân của mỗi cá nhân đối với hình ảnh,
bí mật đời tư cũng như danh dự, nhân phẩm, uy tín được tôn trọng và được pháp
luật bảo vệ. Tại Điều 31, 37, 38 Bộ luật Dân sự quy định việc sử dụng hình ảnh,
thu nhập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của người có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự và còn sống phải được người đó đồng ý. Pháp luật nghiêm cấm hành
vi sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó.
Việc người bạn trai cũ của
bạn đe dọa tung hình ảnh và video clip về đời tư của bạn lên mạng và cho những
người xung quanh bạn biết nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị xử
lý về hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo Điều 122 Bộ luật Hình sự với
khung hình phạt nhẹ nhất là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm và
khung hình phạt cao nhất là bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm tùy vào tính chất
phức tạp và nghiêm trọng của hành vi vi phạm.
Nếu hành vi này xảy ra
trên thực tế thì còn có thể bị xử lý về tội làm nhục người khác theo Điều
121 Bộ Luật hình sự với khung hình phạt thấp nhất là phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm, khung hình cao
nhất là phạt tù từ một năm đến ba năm, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm
năm.
Nếu hành vi phát tán hình
ảnh trên mạng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị xử phạt hành
chính về hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin
số nhằm mục đích xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người khác. Mức xử phạt hành chính cho hành vi này là phạt tiền từ 10 triệu đến
20 triệu đồng và bị tịch thu tang vậy, phương tiện sử dụng để vi phạm hành
chính, buộc xóa bỏ các thông tin số đối với hành vi vi phạm.
Về trách nhiệm dân sự,
người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường cho người đó những chi phí hợp lý để hạn chế,
khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và một khoản tiền
để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị xâm phạm phải gánh chịu.
Như vậy, để ngăn chặn
người bạn cũ thực hiện hành vi phát tán hình ảnh của mình lên mạng internet
hoặc cho người thân, bạn nên trình báo sự việc với cơ quan công an ở địa phương
để phối hợp phòng chống tội phạm. Xin lưu ý với bạn khi trình báo với cơ quan
có thẩm quyền, cũng cần phải có chứng cứ về việc người đó đe dọa thực hiện hành vi vi phạm đối với bạn.
Nguồn:
Chuyên mục Gõ Cửa Luật Sư – Chương trình Sài Gòn Buổi Chiều – Đài Tiếng nói
nhân dân TP.HCM
Phát
tối thứ 3, ngày 03/05/2011, Tuần 93
THAM KHẢO CĂN CỨ PHÁP LÝ:
BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Điều 121. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,
danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai
năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
A) Phạm tội nhiều lần;
B) Đối với nhiều người;
C) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
D) Đối với người thi hành công vụ;
Đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm
sóc, chữa bệnh cho mình.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Điều 253. Tội truyền bá văn hoá phẩm
đồi truỵ
1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận
chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc
những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá
văn hoá phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền
từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
A) Vật phạm pháp có số lượng lớn;
B) Phổ biến cho nhiều người;
C) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này
hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
A) Có tổ chức;
B) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;
C) Đối với người chưa thành niên;
D) Gây hậu quả nghiêm trọng;
Đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
A) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;
B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ
ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
NGHỊ ĐỊNH
CỦA
CHÍNH PHỦ SỐ 63/2007/NĐ-CP
NGÀY 10 THÁNG 04 NĂM 2007
QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC
CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN
Điều 6. Hành vi vi phạm các quy định về lưu trữ,
cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng
thông tin số
5. Phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, trao
đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm kích động mê tín dị
đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc;
b) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng
thông tin số nhằm xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người khác;
c) Cung cấp, trao
đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền
hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm;
d) Giả mạo trang
thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác.
6. Phạt tiền từ
20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền
đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ
nạn xã hội.
BỘ LUẬT DÂN SỰ
Điều 31.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong
trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi
thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của
người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc
pháp luật có quy định khác.
3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Điều 37.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật
bảo vệ.
Điều
38. Quyền bí mật
đời tư
1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo
vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải
được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi
dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành
niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố
thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác
của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin
điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định
và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 604.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và
kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường
bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường
một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước
mắt và lâu dài của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với
thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Điều 606. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt
hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây
thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài
sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có
tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp
quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài
sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của
mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng
tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có
tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường
bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi
trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Điều 607. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.
Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của
cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác
bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt
hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín
của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và
một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức
bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả
thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy
định.
NGHỊ QUYẾT
CỦA HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
SỐ
03/2006/NQ-HĐTP NGÀY 08 THÁNG 07 NĂM 2006
HƯỚNG DẪN ÁP
DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
I.
Về những quy định chung
1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Theo
quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS), về nguyên
tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi
có đầy đủ các yếu tố sau đây:
1.1.
Phải có thiệt hại xảy ra.
Thiệt
hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
a)
Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức
khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều
609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.
b)
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng
bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị
giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè
xa lánh do bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù
đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Thiệt
hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức)
được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm
phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị
hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức
phải chịu.
1.2.
Phải có hành vi trái pháp luật.
Hành
vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với
các quy định của pháp luật.
1.3.
Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả
tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật
là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
1.4.
Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.
a)
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây
thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn,
nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
b)
Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ
xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho
rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường
thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách
nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực
hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.
II. Xác định thiệt
hại
3.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm
có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại
do danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm.
3.1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại
bao gồm: chi phí cần thiết cho việc
thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu
thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm
phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu
có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải
chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi,
cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và
các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).
3.2.
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
a) Nếu
trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm người
bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên
khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường
khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
b) Việc xác định thu nhập thực tế của người bị xâm
phạm và việc xác định thu nhập thực
tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện theo
hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
3.3. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm
phạm.
b)
Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm
phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào
hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức
độ tổn thất về tinh thần của người bị xâm hại. Việc xác định mức độ tổn thất về
tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo
viết hay báo hình….), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…
c)
Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm
trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường
khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh
thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại
thời điểm giải quyết bồi thường”.