Đông Nam Á trong quan hệ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam - Ngô Vĩnh Long, University of Maine (Orono, Maine, Mỹ)
Theo đánh giá của nhiều phân tích, trong những năm qua không có một khu vực nào trên thế giới mà quan hệ quốc tế đã thay đổi sâu đậm và nhanh chóng như quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.
[1] Trong một bài tường trình trước Ủy Ban Đối Ngoại của Thượng Viện Mỹ vào đầu tháng 6 năm 2005 ông Christopher Hill, thứ trưởng ngoại giao đặc trách khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nói: “Những thành quả ngoại giao, chính trị, và kinh tế gây ấn tượng lớn nhất của Trung Quốc trong vài năm qua là ở khu vực Đông Nam Á.”[2]
Vì những hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á đã gây ấn tượng rất lớn đối
với Mỹ và nhiều nước khác, trong đó có Nhật, câu hỏi được đặt ra là phía Mỹ và
Nhật đã có những thái độ hay phản ứng gì và những thái độ hay phản ứng đó có
ảnh hưởng gì đối với Đông Nam Á, nói chung, và với Việt Nam, nói riêng. Để trả
lời câu hỏi vừa nêu ra, trong phần đầu của bài nầy chúng tôi xin liệt kê một
cách hết sức sơ lược vài nguyên nhân mà nhiều chuyên gia và chính khách nói đã
thúc đẩy Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á. Trong phần 2
chúng tôi sẽ trình bày một số chi tiết về quan hệ gần đây giữa Trung Quốc với
các nước ASEAN. Phần 3 và phần 4 sẽ lần lượt đề cập đến chính sách, thái độ và
hoạt động của Mỹ và Nhật tại Đông Nam Á trong những năm qua. Và cuối cùng, bài
nầy sẽ đi đến kết luận là với sự tăng cường họat động của 3 cường quốc Mỹ,
Nhật, và Trung Quốc trong khu vực, các nước Đông Nam Á đang đứng trước một thời
cơ rất hiếm cho việc xây dựng một thời kỳ ổn định và phát triển mới.
I. Vài nguyên nhân giúp Trung Quốc tăng cường quan hệ và
ảnh hưởng
1. Nguyên nhân thứ nhất là sau khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc Mỹ chỉ chú ý đến
Đông Nam Á đến Đông Nam Á khi nào khu vực nầy gặp khó khăn hay có những sự kiện
gì rắc rối xảy ra. Thái độ thờ ơ của Mỹ, nếu không nói là chính sách của Mỹ,
dẫn đến cuộc “khủng hoảng tiền tệ” ở Châu Á năm 1997-1998. Thêm vào đó là chính
sách của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), mà nhiều người trong các nước bị khủng
hoảng cho là chính sách của Mỹ, làm cho cuộc khủng hoảng kéo dài và gây thiệt
hại rất lớn cho các nước đó.[3]
Do đó nhiều người trong các nước bị khủng hoảng rất oán giận Mỹ và IMF trong
khi họ càng ngày càng có thái độ nồng nhiệt hơn với Trung Quốc. Trung Quốc đã
khéo léo lợi dụng cơ hội nầy để chứng minh rằng Trung Quốc thực tình muốn giúp
đỡ các nước gặp khủng hoảng ở Đông Nam Á như viện trợ kinh tế cho Thái Lan và
Indonêsia và không hạ giá đồng nhân dân tệ vì việc nầy sẽ làm cho cuộc khủng
hoảng thêm trầm trọng. Vì thế, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN không
những được cải thiện một cách nhanh chóng sau đó mà sự thành công của các hành
động của Trung Quốc còn giúp nâng cao tự tin của giới lãnh đạo Trung Quốc trong
việc thay đổi và áp dụng các chính sách của họ đối với Á Châu, nói chung, và
với Đông Nam Á, nói riêng để bành trướng ảnh hưởng và thế lực của họ trong khu
vực.[4]
2. Nguyên nhân thứ hai là tuy sau sự kiện ngày 11 tháng 9 Mỹ có để ý đến Đông
Nam Á nhiều hơn trước, Mỹ đã chú trọng quá nhiều đến việc chống khủng bố và
không có một chính sách kinh tế, chính trị, và an ninh rõ ràng và mạch lạc đối
với khu vực. Morton Abramowitz và Stephen Bosworth có nhận xét như sau:
Đường lối của Mỹ hiện nay trong khu
vực rất rời rạc: một vài hành động chống khủng bố ở chỗ nầy, một ít tài trợ cho
việc phát triển ở chỗ kia, một vài cuộc thăm viếng của tổng thống, và những
tuyên bố thường xuyên về những gặt hái vinh quang của ASEAN trong khi cùng lúc
thì thúc đẩy một vài hiệp định thương mại song phương. Hiện nay có một số người
càng ngày càng nói rằng ảnh hưởng lớn mạnh của Trung Quốc trong khu vực đe dọa
những quyền lợi của Mỹ và cho rằng Mỹ phải làm sao hoạt động tích cực hơn. Lầu
Năm Góc thì đang chú trọng đến sự phát triển quân sự của Trung Quốc và ảnh
hưởng của nó đối với Đài Loan và đối với vấn đề an ninh ở Á Châu nói chung hơn
là [các vấn đề kinh tế và chính trị trong khu vực Đông Nam Á].
Chính
sách của Mỹ không tương xứng với những quyền lợi của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á
đầy biến đổi nầy, một khu vực có 500 triệu người. Một trong những quyền lợi
chính [của Mỹ] ở đây là mậu dịch. Trong năm 2003 tổng giá trị mậu dịch của Mỹ
với ASEAN là 130 tỷ đô la và tổng số đầu tư đã lên đến 90 tỷ.[5]
Như chúng ta sẽ thấy phía dưới bài
nầy, trong phần nói về phản ứng của Mỹ, chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á đã
và đang có một số thay đổi từ khi hai vị cựu đại sứ Mỹ viết những dòng trên.
Nhưng nói chung thì nhiều nhà phân tích chính sách Mỹ đều đồng ý với nhận xét
trên. Ông Ernest Bower, giám đốc Hội Đồng Mậu Dịch Mỹ-ASEAN (US-ASEAN Business
Council President), đã phải thốt lên trong một bài diễn văn là chưa có một thời
kỳ nào mà “Mỹ rất thiếu tập trung và Trung Quốc lại rất quyết tâm” (when the
U.S. has been so distracted and China so focused” như trong hiện tại.[6]
Thêm vào đó là việc Mỹ dùng vũ lực, nếu không nói là bạo lực, để “chống
khủng bố” Hồi Giáo ở I-rắc và các nơi khác đã làm cho một số nước như Inđônesia
và Ma-lai-xi-a – nơi đa số dân chúng theo đạo Hồi – lại càng oán giận Mỹ và,
qua đó, càng tạo cơ hội cho Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng và thế lực của
mình trong khu vực Đông Nam Á.
3. Nguyên nhân thứ ba giúp Trung
Quốc tăng cường quan hệ và ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á là vì Nhật Bản,
do suy thoái kinh tế tại Nhật từ đầu thập kỷ 90 đến gần đây cộng với khủng
hoảng Châu Á năm 1997-98, đã phải rút bớt các hoạt động kinh tế và mậu dịch với
các nước ASEAN. Việc nầy đã tạo một khoảng trống giúp cho các hoạt động kinh tế
và mậu dịch của Trung Quốc có thể tràn vào Đông Nam Á một cách dễ dàng hơn. Sau
đây là một vài số liệu cho thấy: 1) sự thay đổi trong quan hệ mậu dịch giữa các
nước ASEAN với Nhật và Trung Quốc; và 2) sự thay đổi trong quan hệ đầu tư giữa
ASEAN với hai nước trên.
a)
Thay đổi trong quan hệ mậu dịch
Theo các con số thống kê của IMF,[7]
thì từ năm 1990 đến năm 2002 tổng số xuất khẩu của ASEAN cho toàn cầu tăng
180%. Trong đó xuất khẩu sang Nhật chỉ tăng 85% trong cùng thời kỳ, từ 27,3 tỷ
Mỹ kim đến 50,7 tỷ, mặc dù xuất khẩu sang Trung Quốc tăng khoảng 8 lần, từ 2,6
tỷ đến 21,3 tỷ. Do đó, tỷ phần của xuất khẩu sang Nhật tụt xuống từ 18,9% trong
khi tỷ phần của xuất khẩu sang Trung Quốc tăng từ 1,8% đến 5,3% trong cùng thời
kỳ. Tuy nhiên, đến năm 2002 xuất khẩu của ASEAN sang Nhật vẫn còn lớn hơn 2 lần
xuất khẩu sang Trung Quốc.
Nhập khẩu cũng có chiều hướng tương
tự. Tổng số nhập khẩu của ASEAN từ các nước trên thế giới tăng 118% từ năm 1990
đến năm 2002. Trong cùng giai đoạn, nhập khẩu từ Nhật chỉ tăng có 54% (từ 37,8
tỷ đô la đến 58,2 tỷ) và nhập khẩu từ Trung Quốc tăng khoảng 5,7 lần (từ 4,8 tỷ
đô la dến 27,2 tỷ). Do đó tỷ phần nhập khẩu của ASEAN từ Nhật tụt từ 23,1%
xuống đến 16,4% trong khi tỷ phần nhập từ Trung Quốc tăng từ 2,9% đến 7,6%. Tuy
nhiên, cũng như phía xuất khẩu, tổng giá trị nhập khẩu từ Nhật đến năm 2002 vẫn
còn lớn gấp hai từ Trung Quốc.
Những số liệu của IMF cũng cho biết
tỷ phần nhập khẩu của ASEAN từ Nhật tăng đều đặn cho đến cao độ là năm 1997
(16.6%). Đến năm 1998 tỷ phần nầy tụt xuống còn 12% và từ đó đến nay vẫn nằm ỳ
ở mức này. Ngược lại, tuy xuất khẩu sang Nhật có tụt chút ít trong giai đoạn
khủng hoảng, tỷ phần xuất khẩu sang Nhật đã hồi phục nhanh chóng và đã vượt xa
mức độ năm 1997. Trong cùng thời kỳ tỷ phần nhập khẩu từ Trung Quốc và sang
Trung Quốc vẫn tăng trưởng đều đặn.
Ngày 9 tháng Giêng năm 2006 tờ China
Daily (Nhật Báo Trung Quốc trên mạng ) có đăng một bay rất dài về những kết
quả tích cực trong quan hệ thương mại và kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc. Một
trong những điểm bài nầy nhấn mạnh là ASEAN đã trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của
Trung Quốc và luồng thương mại hai chiều đã đạt hơn 120 tỷ Mỹ kim trong năm
2005. Xuất siêu của các nước ASEAN đối với Trung Quốc trong năm 2005 lớn hơn 16
tỷ Mỹ kim.
b)
Thay đổi trong quan hệ đầu tư
Theo số liệu của Cơ Quan Thư Ký của
ASEAN,[8]
tổng giá trị của các nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào các nước
ASEAN (không kể Campuchia) từ năm 1995 đến năm 2001 là 141,3 tỷ đô la. Các
nguồn FDI đổ vào ASEAN tăng đều đều hàng năm cho đến mức cao nhất là 29,6 tỷ đô
la năm 1997. Sau đó, vì khủng hoảng, tổng số FDI tụt xuống chỉ còn có 10,2 tỷ
năm 2001. Trung Quốc được hưởng lợi nhất vì phần lớn các nguồn FDI thay vì chảy
vào ASEAN như trước đã được đưa vào Trung Quốc sau cuộc khủng hoảng. Năm 2004,
chẳng hạn, Trung Quốc nhận được 64 tỷ Mỹ kim FDI và năm 2005 Trung Quốc nhận
đựợc 60 tỷ Mỹ kim.
Trong giai đoạn 1995-2001 FDI từ Nhật
sang ASEAN chiếm 15,7% tổng số FDI vào ASEAN, tức 22, 2 tỷ đô la. Năm cao nhất
(1997) là 6,8 tỷ đô la (23%) và năm thấp nhất (2000) là -135 triệu đô la
(-1,59%). Trong cùng thời kỳ, FDI từ Trung Quốc sang ASEAN chỉ chiếm có 0.6%
(821 triệu) tổng số FDI chảy vào ASEAN. Nhưng mặc dầu tỷ phần của Nhật đã tụt
dần, nhất là trong giai đoạn 1999-2001, tỷ phần của Trung Quốc đã tăng từ 0,2%
năm 1999 (44 triệu đô la) đến 1,45% năm 2001 (148 triệu). Theo số liệu
của UNCTAD (World Investment Report 2003, trang 46) đến cuối năm 2001
tổng số đầu tư của Trung Quốc vào năm nước ASEAN chủ yếu (cũng gọi là ASEAN-5:
Inđônêsia, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, và Thái Lan) là 151 triệu đô. Đây là con số
vẫn còn rất nhỏ so với tổng số đầu tư của 5 nước này tại Trung Quốc là 2,97 tỷ
đô la năm 2001. Mặc dầu đến đầu năm 2004 tổng số FDI của Trung Quốc ở các nước
ASEAN chỉ tối đa khoảng 200 triệu đô la, một số dự đoán cho là con số nầy sẽ
lên đến 4 tỷ đô la cuối năm 2005.[9]
Trên thực tế thì, theo các số liệu chính thức được công bố trên các báo chí của
chính phủ Trung Quốc (kể cả China Daily) vào ngày 24 tháng Giêng năm
2006, tổng số đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2005 chỉ có 6,9
tỷ Mỹ kim so với 3,6 tỷ năm 2004. Đầu tư trực tiếp của ASEAN ở Trung Quốc cao
hơn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc gấp nhiều lần. Một ví dụ, theo tờ China
Daily ngày 16 tháng Giêng năm 2006 thì chỉ trong năm 2004 các nhà đầu tư
Phi-líp-pin đầu tư khoảng 700 triệu Mỹ kim tại Trung Quốc trong khi tổng số đầu
tư của Trung Quốc tại Phi-líp-pin đến cuối năm 2003 chỉ vỏn vẹn dưới 20 triệu
Mỹ kim.
4. Nguyên nhân thứ tư thúc đẩy
Trung Quốc tăng cường quan hệ và ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á là từ sau khủng
hoảng năm 1997-98 cho đến khi Mỹ đánh vào I-rắc, Trung Quốc dần dần ý thức là
các vấn đề an ninh của Trung Quốc cũng như các vấn đề phát triển kinh tế của
Trung Quốc buộc Trung Quốc phải thay đổi chính sách với khu vực nầy. Một ví dụ
là sự phát triển kinh tế rất nhanh chóng của Trung Quốc làm cho Trung Quốc càng
ngày càng phải dựa vào nguyên liệu và nhiên liệu được chuyên chở bằng bằng tàu
bè qua các đường biển eo hẹp trong vùng Đông Nam Á. Đến giữa năm 2004 nền kinh
tế của Trung Quốc, tính theo GDP, đã được xếp vào hạng thứ sáu trên thế giới.[10]
Trung Quốc đã trở thành nước nhập dầu quặng nhiều thứ nhì trên giới (sau Mỹ) và
đã tiêu dùng một nửa lượng xi măng sản xuất trên thế giới, một phần ba sắt thép
của thế giới, một phần tư đồng của thế giới, và một phần năm nhôm của thế giới.[11]
Những số lượng hàng nầy được chuyên chở qua các đường biển hẹp mà tiếng Anh gọi
là “choke points” (các điểm kẹt) ở Đông Nam Á như là eo biển Malacca, Sunda,
Lombok, và Makasar cũng như các điểm khác ở Biển Đông. Khoảng 50 ngàn chiếc tàu
thuyền lớn chuyên chở một phần tư tổng số lượng hàng bằng đường biển của thế
giới, trong đó có một nửa lượng dầu quặng chở bằng đường biển của thế giới phải
đi qua eo biển Malacca mỗi năm. Đường qua eo biển nầy chỉ rộng khoảng 2,5 cây
số giữa Ma-lai-xi-a và đảo Sumatra.[12]
Theo bản tường trình hàng năm của Bộ Quốc Phòng Mỹ gởi đến Quốc Hội Mỹ ngày 20
tháng 7 năm 2005 thì trong năm 2004 hơn 80% số lượng dầu nhập vào Trung Quốc
phải qua eo biển Malacca và chỉ dưới 2% là qua eo biển Lombok.[13]
Khoảng 90% dầu Trung Quốc nhập phải được chuyên chở bằng đường biển.[14]
Và vì Trung Quốc chỉ có trữ lượng dầu quặng khoảng 2% trữ lượng dầu quặng đã
trên thế giới (mà người ta đã biết được) Trung Quốc càng ngày càng phải nhập
nhiều dầu thêm (ước lượng sẽ tăng từ 6,2 triệu thùng mỗi ngày năm 2004 đến 12,7
triệu thùng năm 2020). Vì Trung Quốc cần chuyên chở dầu ngày càng nhiều qua các
vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc phải tăng cường quan hệ với các nước ASEAN để
đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế của Trung Quốc. Hơn thế nữa, vì Trung Quốc
ngày càng phải dùng thêm nhiên liệu và nguyên liệu, Trung Quốc càng muốn khai
thác và sử dụng các trữ lưỡng dầu trong khu vực Biển Đông cũng như các tài
nguyên khác trong khu vực Đông Nam Á. Tăng cường quan hệ với các nước ASEAN sẽ
tăng khả năng Trung Quốc có thể khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trong
khu vực.
II.
Mục tiêu, thái độ và quan hệ của Trung Quốc trong khu vực
Theo bản tường trình về quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á của Ban
Nghiên Cứu Quốc Hội Mỹ thì chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á đã dần
dần thay đổi từ giữa thập kỷ 90, và rõ ràng nhất là từ sau khủng hoảng năm
1997-98. Chính sách nầy phù hợp với đại chiến lược mới của Trung Quốc và gồm
nhưng mục tiêu như sau:[15]
·
Duy trì một môi trường chính trị và an ninh ổn định, nhất là trong vùng ngoại
biên của Trung Quốc, để tiếp tục phát triển kinh tế.
·
Duy trì và bành trướng các tuyến đường hàng hải đi qua khu vực Đông Nam Á.
·
Phát triển quan hệ mậu dịch vì những mục đích kinh tế và chính trị.
·
Cô lập Đài Loan.
·
Phát triển ảnh hưởng trong khu vực để đánh bại những hoạt động mà Trung Quốc
cho là bao vây chiến lược hoặc “ngăn đê” Trung Quốc.
Phần lớn các nghiên cứu chiến lược
của Trung Quốc đều cho rằng quan hệ chặt chẽ giữa Mỹ và Nhật là để bao vây
Trung Quốc, và Đông Nam Á là nơi mà Trung Quốc có thể “đập vỡ chiến lược bao
vây của Mỹ” (dapo Meiguo zhanlue weidu) hữu hiệu nhất.[16]
Theo David Shambaugh,
để đạt những mục tiêu trên, Trung Quốc đã có một “thái độ khu vực mới” (new
regional posture) ở Á Châu. Thái độ mới này dựa trên 4 cột trụ (pillars) chính:[17]
·
Tham gia các tổ chức khu vực.
·
Xây dựng các hợp tác chiến lược và tăng cường các quan hệ song phương.
·
Bành trướng các liên hệ kinh tế với khu vực.
·
Giảm thiểu sự nghi ngờ và lo lắng của khu vực đối với Trung Quốc trong lãnh vực
an ninh.
Để xem thái độ mới nầy đã đạt được
những kết quả gì, Shambaugh đã dùng 16 trang (trang 73-89) để “đo lường” 4 cột
trụ kể trên. Đối với cột “tham gia các tổ chức khu vực” thì Shambaugh cho là
hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN trong vài năm qua đã lớn mạnh và có ảnh hưởng
sâu sắc nhất trong khu vực Á Châu. Shambaugh đã dành 4 trang (trang 75-78) để
liệt kê và miêu tả các thành quả đã đạt được. Tại hội nghị thượng đỉnh tại
Phnom Penh đầu tháng 11 năm 2002 Trung Quốc và ASEAN ký 4 hiệp định then chốt:
“Công bố về cách cư xử của các thành phần liên hệ trong khu vực Biển Đông”
(Declaration of the Conduct of the Parties in the South China Sea); “Công bố
chung của ASEAN và Trung Quốc về hợp tác trong lãnh vực các vấn đề an ninh
không truyền thống” (Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the
Field of Nontraditional Security Issues); “Hiệp định khung về hợp tác kinh tế
toàn diện giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc”
(Framework Agreement on Comprehensive Economic Cooperation between the
Association of Southeast Asian Nations and the People’s Republic of China); và
“Bản ghi chép về sự thỏa thuận giữa Ban Bí Thư của Hiệp hội các nước Đông Nam Á
và Bộ Nông Nghiệp của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc về hợp tác nông nghiệp”
(Memorandum of Understanding between the Association of Southeast Asian Nations
Secretariat and the Ministry of Agriculture of the People’s Republic of China
on Agricultural Cooperation). Sau đó, tại hội nghị thượng đỉnh năm 2003
và 2004 hàng loạt hiệp định khác được ký kết. Theo đánh giá của Shambaugh, có
lẽ trong tất cả cái ký kết trong 3 năm kể trên, “Hiệp định khung về hợp tác
kinh tế” có ý nghĩa lớn nhất vì nó đã giải tỏa được hầu hết các lo ngại của các
nước Đông Nam Á về việc các nền kinh tế và xuất khẩu của họ có thể bị Trung
Quốc đè bẹp. Do đó, mậu dịch giữa hai bên đã phát triển nhanh chóng. Thủ tướng
Ôn Gia Bảo đã xác định mục tiêu mậu dịch hai chiều là 100 tỷ đô la năm 2005.
Ông ta cũng ước đoán rằng đến năm 2020, khi Hiệp định mậu dịch tự do (Free
Trade Agreement, FTA) giữa ASEAN và Trung Quốc được thi hành toàn bộ thì các
nước thành viên của hiệp định nầy sẽ có khoảng 2 tỷ dân số và một GDP tổng cộng
là 3000 tỷ đô la. Shambaugh kết luận rằng chắc chắn là mậu dịch và đầu tư
giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ tăng trưởng rất mạnh trong những năm sắp tới vì nền
kinh tế của hai bên có rất nhiều điểm bổ xung cho nhau và nhiều điểm tương
đồng. Trong phần giải thích cột trụ thứ 2, tức “xây dựng các hợp tác
chiến lược và tăng cường các liên hệ song phương,” nước Đông Nam Á độc nhất
được ông đề cập đến là Việt Nam. Ông dùng khoảng hơn một trang (cuối trang 80
đến đầu trang 82) tóm tắt liên hệ chính trị, kinh tế, mậu dịch, và quân sự giữa
Việt Nam
và Trung Quốc. Trong phần đo cột trụ thứ 3, tức “bành trướng các liên hệ kinh
tế với khu vực” ông Shambaugh có một bản về tổng giá trị về mậu dịch (theo số
liệu chính thức của Trung Quốc) giữa Trung Quốc và các nước láng giềng (trang
84) năm 2003, nhưng chỉ nói rằng giá trị mậu dịch năm này tăng 36,5% so với năm
2002. Còn đối với Đông Nam Á thì ông chỉ cho biết mậu dịch song phương với
Ma-lai-xi-a tăng 35%, với Thái Lan tăng 38%, với Philípin tăng 47% và với Việt
Nam tăng 58% trong cùng thời kỳ (trang 83). Nhưng ông Shambaugh không giải
thích tại sao có sự tăng rất nhanh nầy từ năm 2002 và sự tăng trưởng nầy ai ai
cũng cùng được lợi (win-win situation) hay có người thắng có người thua, có
người được lợi nhiều hơn người khác?
Trong phần đo cột trụ cuối cùng thì
ông Shambaugh nói “Bắc Kinh đã sử dụng các biện pháp đơn phương, song phương,
và đa phương để xử trí các vấn đề an ninh quốc gia và khu vực mà họ lo ngại”
(Beijing has undertaken unilateral, bilateral, and multilateral measures to
address both national and regional issues of concern). Đối với Đông Nam Á thì
ông chỉ viết một đoạn ngắn (trang 87-88) nói về sự tham gia của Trung Quốc
trong Diễn đàn khu vực của ASEAN (ASEAN Regional Forum—ARF) mà kết quả quan
trọng nhất là tháng 7 năm 2004 ASEAN chấp thuận đề nghị của Trung Quốc tăng
cường trao đổi quân sự trong khu vực và thành lập một cuộc hội thảo hằng năm về
các vấn đề an ninh chung.
Ngoài việc sử dụng ARF, Trung Quốc
cũng đã sử dụng hết tất cả các cơ chế có liên quan đến các vấn đề an ninh khu
vực như “Hội Nghị ASEAN-ÂU CHÂU” (ASEAN Europe Meeting, ASEM), Hội Nghị sau
thượng đỉnh ASEAN của các bộ trưởng, và hội nghị của “Hội Đồng về Hợp Tác An
Ninh vùng Châu Á Thái Bình Dương (Council for Security Cooperation in the Asia
Pacific, CSCAP). Tháng 10 năm 2003, tại một cuộc hội nghị của ASEAN tại Bali,
Inđônêsia đưa ra đề nghị thành lập một “Cộng Đồng An Ninh ASEAN” (ASEAN
Security Community) bao gồm thêm những lãnh vực hợp tác mới như chống khủng bố
và an ninh hải phận. Một số nước ASEAN không ủng hộ đề nghị nầy vì họ sợ vai
trò then chốt của Trung Quốc trong tổ chức nầy sẽ dẫn đến việc ASEAN sẽ chuyển
dần các hoạt động về các vấn đề an ninh khu vực ra khỏi các diễn đàn hiện có
như Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) hay diễn đàn về an ninh của APEC (Asia Pacific
Economic Cooperation.)[18]
Sau đó, chính Trung Quốc đã đưa ra một số đề nghị về an ninh khu vực khác
và cũng đã hoạt động đắc lực để phát triển tổ chức ASEAN+3 (tức ASEAN cộng với
Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc). Những cơ chế và diễn đàn an ninh nầy đều không
có sự hiện diện của Mỹ và vì thế sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc giảm thiểu hay
giới hạn ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực Châu Á, nói chung, và Đông Nam Á, nói
riêng.[19]
Năm 2003 Trung Quốc cũng ký “Thông cáo chung về hợp tác chiến lược cho hòa binh
và thịnh vượng” (Joint Declaration on Strategic Partnership for Peace and
Prosperity) với ASEAN. Trong đó, hai bên đồng ý hợp tác và điều phối các hoạt
động của hai bên trong các lãnh vực chính sách đối ngoại và an ninh.[20]
Thông cáo chung nầy đã được người ta phân tích như là “bước đầu đi đến
việc sát nhập Đông Nam Á vào một cộng đồng kinh tế, chính trị, và an ninh Đông
Á mà Trung Quốc lãnh đạo (an early step towards incorporating Southeast Asia in
an East Asian economic, political and security community led by China.)[21]
Thật vậy, nhiều người đã khẳng định rằng, so với tất cả các thế lực khác
từ bên ngoài khu vực, Trung Quốc hiện nay là quốc gia năng động nhất và có ảnh
hưởng nhất đối với những chính sách và chương trình hoạt động trong các lãnh
vực chính trị, kinh tế, an ninh và ngoại giao của Đông Nam Á. Trong một bài
diễn văn ngày 9 tháng 6 năm 2005 tại Băng Cốc ông Goh Chok Tong, thủ tướng
Xinh-ga-po, nói rằng trong thập niên vừa qua Trung Quốc đã thành công trong
việc thiết lập 27 tổ chức khác nhau với ASEAN. Trong khi đó, 28 năm sau khi Mỹ
và ASEAN chính thức hóa đối thoại giữa hai bên vào năm 1977 “hiện nay chỉ có 7
hình thức tổ chức Mỹ-ASEAN nhưng chỉ năm khi mười họa mới họp” (there are
currently only seven U.S.-ASEAN bodies and they meet only infrequently.)[22]
Một vài ví dụ sau đây về các hoạt động đa phương và song phương của Trung
Quốc trong những tháng cuối năm 2004 đến giữa năm 2006 sẽ cho ta thấy rõ thêm
nhận định trên đúng đến mức nào:
a) Vài hoạt động đa phương
Tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 5 của ASEM tại Hà Nội tháng 10 năm 2004
Trung Quốc đã thành công trong việc dùng hội nghị nầy để chứng tỏ mình là người
tích cực lãnh đạo và bảo vệ quyền lợi của Á Châu qua hai hành động có vẻ rất
mâu thuẫn với nhau: Một mặt Trung Quốc ủng hộ sự tham gia hội nghị của Mi-an-ma
và buộc các nước Âu Châu phải nhượng bộ ASEAN trong việc đòi không cho Mi-an-ma
tham gia. Mặt khác thì Trung Quốc chống việc nới rộng sự tham gia ASEAM của các
nước “Âu Châu mới” với lý do là sự tham gia của các nước không có hay ít có
quyền lợi tại các nước Đông Nam Á sẽ làm loãng đi các liên hệ mà Trung Quốc và
ASEAN đã và đang cố gắng xây dựng với Âu Châu.
Đối với các vấn đề khác của ASEM – như nhân quyền, cán cân thăng bằng mâụ
dịch giữa Á Châu và Trung Quốc, và hợp tác trong các lãnh vực “an ninh phi
truyền thống” (nontraditional security) – Trung Quốc đều có tiếng nói lớn. Tóm
lại, Trung Quốc vừa dùng ASEM như là một diễn đàn dùng sức mạnh của Âu Châu để
tạo cho mình một vai trò lãnh đạo ở Đông Nam Á và, ngược lại, vừa dùng thế mạnh
chung của các nước Đông Nam Á để gây ảnh hưởng và phát triển liên hệ với Âu
Châu.
Cuối tháng 11 năm 2004, tại đại hội thượng đỉnh ASEAN thứ 10 tại Lào,
Trung Quốc và ASEAN ký “Hiệp định khung” và hiệp định nầy có thể sẽ là hiệp
định quan trọng nhất vì trong tương lai nó sẽ tạo ra một thị trường mậu dịch tự
do lớn nhất thế giới. Và tại hội nghị nầy Trung Quốc và ASEAN cũng đồng ý nới
rộng “Hiệp định khung” để thiết lập một cộng đồng ASEAN với một thị trường
chung và các mục tiêu an ninh chung. Cũng tại hội nghị nầy ASEAN+3 tuyên bố là
họ đồng ý hợp “Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á” (East Asia Summit) ở Ma-lai-xi-a
vào cuối năm 2005. ASEAN+3 là con đẻ của Trung Quốc và Trung Quốc muốn sử dụng
diển đàn nầy để bàn các vấn đề hợp tác cũng như giải quyết các vấn đề đụng chạm
và khúc mắc thế nào cũng sẽ xảy ra giữa 3 nước có nền kinh tế lớn nhất Á
Châu nầy trong các hoạt động “Nam tiến” của họ.
Năm 2005 là năm Trung Quốc đặc biệt năng động trong việc đẩy mạnh quan hệ
song phương với các nước Đông Nam Á cũng như trong việc sử dụng tất cả các tổ
chức đa phương của ASEAN để phát huy lợi ích và ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong
năm đầu có hàng trăm cuộc gặp gỡ giữa các quan chức cao cấp của Trung Quốc và
của các nước Đông Nam Á. Cao điểm là các cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn đông đảo
các quan chức cao cấp Trung Quốc do Thủ tướng Ôn Gia Bảo dẫn đầu với các lãnh
tụ Đông Nam Á và nhiều nước khác trên thế giới tại ba cuộc hội nghị vào ngày
11-15 tháng 12 năm 2005: hội nghị thứ 9 giữa Trung Quốc và ASEAN, hội nghị thứ
9 của ASEAN+3, và hội nghị Thượng Đỉnh Đông Á (East Asia Summit, EAS) lần thứ
nhất. Tham dự hội nghị EAS có các lãnh tụ của ASEAN+3 và của Ấn Độ, Úc, và Tân
Tây Lan. Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng có mặt.[23]
Tại hội nghị ASEAN-Trung Quốc vào ngày 12 tháng 12 Ôn Gia Bảo đọc
một bài diễn văn với tựa đề: Deepen Comprehensive Cooperation and Enhance
China-ASEAN Strategic Partnership (Đào sâu sự hợp tác toàn diện và nâng cao sự
cộng tác chiến lược giữa Trung Quốc và ASEAN). Trong bài nầy Ôn Gia Bảo
hứa sẽ làm cho tình bạn hữu giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sâu đậm hơn,
sẽ dựng lên một cái khung cho quan hệ đôi bên, sẽ xây dựng một hiệp ước mậu
dịch tự do với ASEAN, sẽ nhận dạng những lãnh vực hợp tác, và sẽ đẩy mạnh việc
trao đổi nhân sự.
Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 trong cùng ngày Ôn Gia Bảo đọc một bài
diễn văn với tựa đề: Working Together for a Better Future Through Stronger
Cooperation (Cùng hoạt động cho một tương lai tốt hơn qua sự hợp tác mạnh hơn).
Bài diễn văn nầy kêu gọi đẩy mạnh việc phát triển cũng như việc thực hiện những
nghiên cứu khả thi của một Khu Vực Mậu Dich Tự Do Châu Á; nới rộng Chiangmai
Initiative (sáng kiến Chiang Mai) và xây dựng một cái khung cho việc hợp tác
tài chính khu vực; hợp tác chặt chẽ hơn trong việc sử dụng năng lượng; và tăng
cường các nỗ lực quản lý các tình trạng y tế khẩn cấp và những thiên tai lớn.
Trong bài nầy Ôn Gia Bảo cũng tuyên bố rõ rằng Trung Quốc không có tham vọng
muốn giữ một địa vị lãnh đạo trong các tổ chức khu vực vì Trung Quốc trân trọng
việc ASEAN đã là người gầy dựng các tổ chức nầy và làm cho sự hợp tác trong các
tổ chức nầy lớn mạnh. Ôn Gia Bảo hứa là Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ ASEAN
trong vai trò lãnh đạo các tổ chức đó.
Tại hội nghị thượng đỉnh Châu Á (EAS) ngày 14 tháng 12 thủ tướng Trung Quốc
nhấn mạnh rằng Trung Quốc chống một tổ chức khu vực “khép kín và riêng biệt.”
Ông ta nói rằng Trung Quốc ủng hộ một tổ chức mở cửa cho tất cả các nước ngoài
Châu Á đến dự và khuyên các nước thành viên nên tăng cường quan hệ với Mỹ, Liên
Hiệp Âu Châu và các nước khác. Ông ta nhấn mạnh sự quan trọng của Trung Quốc
như là một nước có nền mậu dịch quốc tế lớn thứ ba trên thế giới và là một nước
nhập khẩu nhiều nhất Châu Á. Ông ta cũng quả quyết rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi
một cuộc “phát triển hòa bình,” sẽ không bao giờ tìm cách để chế ngự Châu Á, và
sẽ không làm cho các nước khác thua thiệt trên con đường phát triển của mình.
Ngoài việc dự ba hội nghị kể trên, Ôn Gia Bảo cũng có buổi họp thượng
đỉnh song phương với Thủ tướng Ma-lai-xi-a và những cuộc gặp mặt chính thức với
hầu hết các trưởng đoàn của các nước đến dự 3 hội nghị vừa đề cập đến. Nhưng Ôn
Gia Bảo đã không chịu gặp thủ tướng Koizumi Junichiro của Nhật như thông lệ sau
hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3. Trước đó, ngày 4 tháng 12, Bắc Kinh đã đơn
phương công bố là lãnh tụ 3 nước Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật sẽ không có cuộc
gặp mặt như thường lệ vì lý do “khí hậu và điều kiện” không tốt.[24]
Về sự kiện nầy Willy Lam, một nhà nghiên cứu và một nhà báo ở Hồng Kông, đã
viết rằng Trung Quốc cố tình chơi nổi để cho Hàn Quốc và một số nước khác ở
Châu Á biết rằng Trung Quốc không bằng lòng với chính sách hữu khuynh và bán
quân phiệt của chính quyền Junichiro Koizumi. Sau khi Koizumi đi thăm đền thờ
Yasukuni (nơi có nghĩa trang của một số quân phiệt đánh chiếm Trung Quốc và Hàn
Quốc trong thập kỷ 30 và đến giữa thập kỷ 40) thì Trung Quốc và Hàn Quốc đã
quyết định ngưng hết các cuộc gặp mặt với các lãnh tụ cấp cao của Nhật. Tại hội
nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation)
vào tháng 11 năm 2005 tại Hàn Quốc, các nhà bình luận của các hãng thông tấn
Trung Quốc đã hể hả rằng Koizumi đã bị các lãnh tụ Châu Á ruồng bỏ.[25]
Suốt trong thời gian hội nghị tại Ma-lai-xi-a các cơ quan truyền thông
chính thức của Trung Quốc nói rõ rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục tẩy chay thủ
tướng Koizumi. Những cơ quan nầy còn nêu việc Ôn Gia Bảo từ chối không cho thủ
tướng Koizumi mượn cây bút để ký bản công bố của EAS trong một buổi nghi lể
trước công chúng ngày 14 tháng 12 và nói rằng đấy là một hành động tẩy chay cố
tình của Ôn Gia Bảo. Sau nghi lễ ký công bố vừa kết thúc, Ôn Gia Bảo lập tức
họp báo giải thích hành động của mình và đưa ra nhiều lý do tại sao Trung Quốc
chống Nhật. Ngoài ra, khi các cuộc hội nghị tại Kuala Lumpur vừa bắt đầu tờ
nhật báo Trung Quốc (China Daily) đã có bài xã luận đả kích Nhật với lập
luận là Nhật muốn tìm một vai trò lãnh đạo ở Châu Á mà Trung Quốc cho rằng
không có lý do chính đáng vì chính phủ Nhật thiếu “tín nhiệm.”[26]
b) Vài liên hệ song phương
Một trong những mục tiêu chính của
Trung Quốc trong việc tham gia các hoạt động đa phương là để gây ảnh hưởng hay
phát triển quan hệ song phương. ASEAN gồm 10 quốc gia rất đa dạng trong các
lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Khó có thể nói rõ được những
thành tựu hay những cải thiện trong quan hệ giữa từng nước một với Trung Quốc
trong vài tháng qua hay vài năm qua mà không đề cập đến các vấn đề lịch sử và
văn hóa. Và cũng không có thể đi vào chi tiết về vấn đề gì trong liên hệ của
từng nước một với Trung Quốc dù chỉ trong vài tháng vừa qua trong một bài ngắn
như thế nầy. Vậy sau đây chúng tôi chỉ đề cập một cách hết sức khái quát về
quan hệ với Trung Quốc của một vài nước tiêu biểu trong khu vực.
Nước thứ nhất là Inđônêsia. Nước
nầy lớn nhất trong khu vực, đông dân nhất, có nhiều tài nguyên nhất, và cũng có
nhiều vấn đề với Trung Quốc nhất trong quá khứ. Ví dụ như trong năm 1965 khi
chính quyền Suharto tàn sát hơn nửa triệu người trong cuộc đảo chính mà Suharto
cho là những người cầm đầu là cộng sản gốc Hoa, thì nhiều người gốc Hoa bị giết
chết. Từ năm 1967-1990 Trung Quốc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Inđônêsia. Năm
1998 nhiều người gốc Hoa bị đánh đập, hãm hiếp, và giết chết trong các cuộc bạo
loạn do khủng hoảng năm 1997-98 gây nên. Năm 1999 tổng thống Wahid của
Inđônêsia tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc vì chính sách của ông ấy
lúc đó là muốn dùng Trung Quốc để cân bằng thế mạnh của Mỹ. Sau đó, quan hệ
ngoại giao giữa Inđônêsia và Trung Quốc được củng cố thêm khi tổng thống
Megawati sang thăm Trung Quốc năm 2002. Chính sách của bà Megawati là thiết lập
quan hệ kinh tế này càng gần với Trung Quốc. Năm 2002 một bản ghi nhớ về hiểu
biết của đôi bên (Memorandum of Understanding, MOU) đã được ký để thiết lập một
“Diễn đàn nhiên liệu giữa Indonesia và Trung Quốc” (Indonesia-China Energy
Forum). Các hãng dầu của Trung Quốc lập tức nhảy vào Inđônêsia khai thác dầu
quặng và khí. Đầu tư của Trung Quốc ở Inđônêsia tăng từ 282 triệu đô la năm
1999 đến 6,8 tỷ năm 2003. Mậu dịch hai chiều tăng từ 2 tỷ đô la năm 1992 đến 8
tỷ năm 2002.[27]
Mặc dầu giá trị mậu dịch hai chiều
tăng nhanh, quan hệ mậu dịch giữa hai bên có thể sẽ gặp nhiều khó khăn trong
tương lai vì theo nhiều nguồn thông tin hơn 80% các hàng xuất nhập của hai nước
nầy là trùng hợp với nhau và không tương đồng. Hai nước ý thức được đều nầy nên
đều cố gắng củng cố quan hệ ngoại giao. Cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2004
ông Tang Jiaxuan—cựu ngoại trưởng và đặc sứ của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong quan
hệ với ASEAN—chính thức viếng thăm Đông Nam Á. Trong chuyến công du nầy ông đã
gặp ngoại trưởng Hassan Wirajuda của Inđônêsia tại Jakarta để bàn việc phát
triển quan hệ song phương. Sau khi phía bên Inđônêsia bắt buộc phải tuyên bố
công khai là họ ủng hộ chính sách chỉ có một nước Trung Quốc, phía Trung Quốc
tuyên bố là họ sẽ ủng hộ việc Inđônêsia muốn làm chủ nhà cuộc hợp Hội Nghị
Thượng Đỉnh Phi Châu-Á Châu và việc cử hành lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập tổ
chức nầy. Tang Jiaxuan tuyên bố thêm là quan hệ giữa hai nước đã bước vào một
giai đoạn mới, giai đoạn thiết lập một quan hệ song phương. Có thể đây là lối
ăn to nói lớn của một anh nước bự. Nhưng tuyên bố nầy có ít nhất là hai hàm ý
quan trọng. Thứ nhất là mặc dầu Inđônêsia đã bị yếu đi sau khủng hoảng 1997-98
và đang còn rẩt nhiều khó khăn, tiếng nói của Inđônêsia vẫn còn nhiều trọng
lượng vì anh là nước lớn nhất trong khu vực và từng là lãnh đạo của khối ASEAN.
Cho nên việc Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với Inđônêsia sẽ giúp Trung
Quốc bắt các nước khác thừa nhận địa vị và ảnh hưởng của mình trong khu vực.
Thứ hai là vì lúc trước, khi còn là lãnh tụ của ASEAN, Inđônesia đã đẩy mạnh
quan niệm kinh tế mở và ổn định trong khu vực để phát triển. Nay, trong việc
Trung Quốc bắt Inđônêsia cúi đầu, Trung Quốc có hàm ý là “quan hệ chiến lược
mới” của Trung Quốc sẽ thay thế chiến lược cũ của Inđônêsia trong việc chỉ đạo
khu vực trong tương lai.
Trong chuyến công du vừa kể trên
ông Tang Jiaxuan cũng ghé Thái Lan và Ma-lai-xi-a. Tại Bangkok ông ta dùng dịp
lễ kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Thái Lan sắp được tổ chức
tại đây để kêu gọi việc “đưa hợp tác chiến lược hiện có lên đến đỉnh cao hơn.”
Mặc dầu không có ký kết một hiệp định nào cả trong dịp nầy, hai bên đồng ý cải
thiện hợp tác trong các lãnh vực phát triển nguyên liệu và nhiên liệu và truyền
thông cũng như tăng cường các hình thức trao đổi giữa nhân dân hai nước. Dân
chúng Thái có vẻ rất bằng lòng với việc mở rộng quan hệ với Trung Quốc. Theo
một cuộc thăm dò dân ý, 76% người Thái cho rằng Trung Quốc là nước bạn gần gủi
nhất so với chỉ có 9% nói Mỹ là nước thân thiện nhất.[28]
Có nhiều lý do để giải thích cho việc nầy. Thứ nhất là sau khi Thái Lan bị
khủng hoảng năm 1997 Trung Quốc lập tức giúp đỡ trong khi Mỹ có thái độ chần
chờ. Thứ hai là Thái Lan có một cộng đồng người gốc Hoa khá lớn và khá thành
công trong mọi lãnh vực. Cộng đồng nầy là giai cấp thống trị tại Thái Lan mà
tiêu biểu là thủ tướng Thaksin Shinawatra.
Có thể nói là Thái Lan và Trung
Quốc đã thiết lập một liên minh không chính thức. Trung Quốc và Thái Lan đã ký
một hiệp định “Liên Hiệp Chiến Lược” (Strategic Partnership) bao gồm trao đổi
quân sự thường xuyên cũng như tập trận thường xuyên. Thái Lan đã mua vũ khí từ
Trung Quốc từ đầu thập kỷ 80 trong chương trình hợp tác nầy với giá đặc biệt
dành cho “anh em bầu bạn.” Phần lớn những vũ khí bán giá đặc biệt nầy là viện
trợ quân sự trá hình. Gần đây Thái Lan và Trung Quốc công bố hàng loạt các biện
pháp và chương trình để ăn mừng lễ kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Thủ tướng Thaksin muốn dùng Trung Quốc để cân bằng ảnh hưởng của Mỹ. Ngoài ra
gần đây 2 nước đều có vấn đề với thiểu số Hồi giáo (ở vùng Patani bên Thái và
vùng Tân Cương bên Trung Quốc). Vì thế hai nước ủng hộ nhau trong việc chống
khủng bố và chống các phong trào ly khai. Trong tất cả các nước Đông Nam Á,
Thái Lan là nước ủng hộ Trung Quốc mạnh nhất trong việc đe dọa Đài Loan.[29]
Vì lý do chính trị và kinh tế, Thái
Lan cũng đã đề nghị dự án dùng Thái Lan làm một “Cầu nối nhiên liệu trên đất
liền” (Energy Land Bridge) để gắn liền vùng biển Audaman với Vịnh Thái Lan ở
phía nam vùng eo biển gọi là “Isthmus of Kra” để việc chuyên chở dầu sang Trung
Quốc có thể nhanh hơn và để tránh dùng eo biển Malacca khi có biến cố. Dự án
nầy bắt đầu năm 2005 và sẽ hoàn thành năm 2008.[30]
Trong lãnh vực kinh tế thì mậu dịch
2 chiều giữa Trung Quốc và Thái Lan tăng từ 8,6 tỷ đô la năm 2002 đến 12 tỷ năm
2003. Nhưng trong việc trao đổi nầy Trung Quốc được lợi hơn Thái Lan rất nhiều.
Nhiều doanh nghiệp Thái đã và đang bị đẩy vào tình trạng khốn đốn. Lẽ dĩ nhiên
là trong khi dó thì nhiều nhà đầu tư và xuất nhập khẩu Thái được lãi lớn. Vì
thế, mặc dầu trong liên hệ giữa hai nước cũng có nhiều vấn đề khó khăn, nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng mãi cho đến khi Trung Quốc bỏ túi Mi-an-ma gần đây quan
hệ Thái-Trung là quan hệ gần gũi nhất trong tất cả các nước Đông Nam Á.[31]
Tuy chưa khắng khít bằng quan hệ
với Thái Lan, quan hệ của Trung Quốc với Ma-lai-xi-a cũng đã được hai bên đẩy
mạnh. Ông Tang Jiaxuan tuyên bố trong khi thăm Ma-lai-xi-a đầu tháng 11 năm
2004 là quan hệ giữa hai nước đã phát triển rất tốt. Ông cho biết thêm rằng ông
ủng hộ việc Ma-lai-xi-a muốn làm nước chủ nhà cho cuộc họp đầu tiên của “Hội
nghị thượng đỉnh Á Châu” (East Asian Summit) vào tháng 12 năm 2005 tại Kuala
Lumpua. Tháng 2 năm 2005 quan hệ giữa hai nước lại được củng cố với cuộc viếng
thăm “chủ tịch nước tối cao” Syed Sirajauddin. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố
trong dịp nầy là quan hệ song phương hai nước đã phát triển rất cao và rất
mạnh, đặc biệt là trong lãnh vực kinh tế. Phát triển kinh tế của Trung Quốc đã
giúp phát triển kinh tế Ma-lai-xi-a nhiều nhất nhì trong các nước Đông Nam Á.
Một trong những lý do là vì 25% dân chúng Ma-lai-xi-a là người Hoa và họ có
quan hệ kinh tế và gia đình rất gắn bó với Trung Quốc. Trong thập kỷ trước Ma-lai-xi-a
chỉ xuất hàng năm có 1,2 tỷ Mỹ kim hàng hóa sang Trung Quốc. Con số nầy đã lên
đến 6 tỷ Mỹ kim năm 2003 và 6,4 tỷ Mỹ kim trong 10 tháng đầu năm 2004.[32]
Năm 2003 Ma-lai-xi-a vượt Xinh-ga-po và trở thành bạn hàng trao đổi mậu dịch
lớn nhất với Trung Quốc trong các nư��c ASEAN.
Về mặt đầu tư thì đến năm 2003
Ma-lai-xi-a là nước có đầu tư lớn thứ 16 trên thế giới ở Trung Quốc. Năm 2002
Ma-lai-xi-a đã có tổng giá trị FDI ở Trung Quốc là 367,99 tỷ Mỹ kim. Trung Quốc
trở thành nước xếp hạng thứ 10 trong các nước nhận được FDI của Ma-lai-xi-a
trên thế giới. Theo nhiều phân tích, con số nầy sẽ lớn rất nhanh trong những
năm tới. Hầu hết các công ty Ma-lai-xi-a đầu tư ở Trung Quốc là của người Hoa.[33]
Ngược lại, theo số liệu của ASEAN Statistical Yearbook (năm 2003, trang
148-149) đầu tư của Trung Quốc chỉ khoảng 60 triệu. Tuy thế hướng đang lên của
Trung Quốc cũng đã giúp Trung Quốc tạo được uy thế và ảnh hưởng tại Ma-lai-xi-a
cũng như trong cả khu vực Đông Nam Á. Theo lời của ông Abdul Razak Baginda tại
“Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược” của Ma-lai-xi-a thì: “Hiện nay chúng tôi [các
nước Đông Nam Á] phải chấp nhận đến mức nào đó sự lãnh đạo của Trung Quốc, đặc
biệt là vì đang thiếu sự lãnh đạo từ nguồn khác [Mỹ?].”[34]
Và theo một vài phân tích thì Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á là để chính thức hóa
vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trong khu vực.[35]
Nhưng việc nầy đã không xãy ra vì có sự chống đối của Xinh-ga-po, Inđônêsia, và
một vài nước khác với sự hỗ trợ của Nhật. Cuối cùng các nước nầy đã thành công
trong việc mở cửa hội nghị Thượng Đỉnh Châu Á cho Ấn Độ, Úc, Tân Tây Lan và Nga
tham gia. Các nước nầy vui lòng đóng những vai trò năng động và vì thế đã làm
cho ảnh hưởng của Trung Quốc bị loãng đi. Hội nghị Thượng Đỉnh Châu Á cũng để
cửa mở cho sự tham gia của Mỹ trong tương lai. Một việc rất đặc biệt đã xãy ra
là ngay từ khi hội nghị bắt đầu ASEAN đã khẳng định vai trò lãnh đạo của mình bằng
cách chọn Manila, thay vì Bắc Kinh như Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đã dàn xếp với
nhau, để làm địa điểm cho hội nghị EAS lần thứ hai vào cuối năm 2006. Vì thế,
Ôn Gia Bảo đã phải bắt buộc phải phản ứng một cách lịch lãm là Trung Quốc ủng
hộ sự lãnh đạo của ASEAN trong tất cả các tổ chức khu vực; nhưng sau đó ông ta
đã bày tỏ sự bực tức của mình bằng thái độ khiếm nhã với thủ tướng Nhật.
Các cơ quan truyền thông của Trung Quốc cũng đã tố cáo Nhật có tham vọng không
chính đáng để làm một lãnh tụ tại Châu Á như đã đề cập đến phía trên.[36]
Hội nghị thượng đỉnh giữa Trung
Quốc và Ma-lai-xi-a ngày 15 tháng 12 năm 2005 đưa ra một thông cáo chung là hai
bên đã đồng ý tăng gia tăng mậu dịch song phương từ 26 tỷ Mỹ kim năm 2004
lên đến 50 tỷ Mỹ kim năm 2010; thực hiện một nghiên cứu khả thi về một Hiệp
định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement, hiệp định nầy là một phần
của Hiệp định Mậu dịch Tự do giữa ASEAN và Trung Quốc); trao đổi thông tin về
nhưng vấn đề an ninh không truyền thống (nontraditional security areas); và mở
rộng các trao đổi quân sự giữa hai nước. Thông cáo nầy nói rằng Ma-lai-xi-a rất
phấn khởi trước các đóng góp của Trung Quốc, một nước chủ yếu dùng eo biển
Malacca, để tăng cường an ninh trên eo biển nầy.[37]
Trong 6 tháng đ��u năm 2006 các phái
đoàn cao cấp vẫn tiếp tục sang thăm các nước Đông Nam Á, nhưng ít hơn 6 tháng
cuối của năm 2005. Hai phái đoàn được dư luận chú ý đến nhất là phái đoàn do
đại tướng Cao Gangchuan, bộ trưởng quốc phòng, dẫn đầu đến thăm Ma-lai-xi-a,
Xinh-ga-po và Việt Nam (ngày 13-15 tháng 4) và phái đoàn do Thủ tướng Ôn Gia
Bảo đến thăm Campuchia (ngày 7-8 tháng 4) và sau đó đến Úc, Fiji và Tân Tây
Lan. Trong các cuộc trao đổi giữa đoàn của bộ trưởng quốc phòng Cao Gangchuan
với các đối tác tại ba nước nói trên Trung Quốc đặc biệt muốn các nước nầy giải
thích quan hệ quân sự với Mỹ và sự hiện diện quân sự ngày càng lớn của Mỹ trong
khu vực. Tại Ma-lai-xi-a và Xinh-ga-po phái đoàn của tướng Cao nhấn mạnh việc
Trung Quốc muốn tăng cường hợp tác với hai nước nầy để bảo vệ an ninh trên vùng
eo biển Malacca. Tại Xinh-ga-po Bộ Trưởng Cao và bộ trưởng quốc phòng
Xinh-ga-po, ông Teo Chee Hean, nhấn mạnh rằng hai nước có khả năng rất lớn để
tăng cường hợp tác quân sự. Ông Lee Kuan Yew, cựu thủ tướng Xinh-ga-po và là
người có uy quyền bậc nhất tại nước nầy, đã nói trong một cuộc gặp mặt với
tướng Cao là ông ta tin chắc rằng quan hệ song phương giữa hai nước sẽ được
tăng cường. Tại Việt Nam phái đoàn tướng Cao nêu lên một số vấn đề, trong đó có
vấn đề sử dụng vịnh Cam Ranh mà Trung Quốc cho là tối quan trọng đối với vấn
các vấn đề an ninh cho đảo Hải Nam và các tỉnh đông nam Trung Quốc. Phái đoàn
tướng Cao không có thông cáo chung sau cuộc viếng thăm ba nước trên. Nhưng
trước đó, ngày 7 tháng 4, tướng Cao đã đến thăm Việt Nam và gặp Bộ trưởng quốc
phòng Phạm Văn Trà và hai bên đã tuyên bố là hai nước nên tăng cường quan hệ
song phương, kể cả quan hệ quân sự.[38]
Cuôc đi thăm bốn nước của phái đoàn
Ôn Gia Bảo liên quan đến các vấn đề quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á.
Trong cuộc viếng thăm nầy phái đoàn Trung Quốc đã ký 60 hiệp định song phương.
Riêng trong cuộc gặp gỡ ngày 7-8 tháng 4 giữa Ôn Gia Bảo với Thủ tướng Hun Sen
hai bên đã ký 10 hiệp định. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng tham dự lễ khánh thành
khu các dinh thự và văn phòng làm việc mà Trung Quốc đã viện trợ xây cất cho
Thủ tướng Hun Sen và các trợ lý của ông ta. Ông Hun Sen tuyên bố là cuộc viếng
thăm của Ôn Gia Bảo sẽ đem đến rất nhiều lợi ích cho Campuchia và nói thêm rằng
Trung Quốc là “bạn đáng tin cậy nhất” của Campuchia. Cuối cùng hai bên đưa ra
một thông cáo chung rất dài kể lại một cách rất chi tiết sự cảm kích của
Campuchia đối với những sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc cũng như sự đánh
giá cao của Trung Quốc về sự ủng hộ của Campuchia đối với quan hệ gần gủi hơn
giữa Trung Quốc và ASEAN và việc Campuchia chống Đài Loan.[39]
Nói chung thì phần lớn các hoạt
động của Trung Quốc trong sáu tháng đầu năm 2006, với mấy chục phái đoàn viếng
thăm qua lại mà bài nầy không thể nào đề cập đến (dù chỉ qua loa) ở đây được,
phần lớn là để củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng như
Mi-an-ma, Việt Nam, Lào và Campuchia.
III. Mục tiêu, phản ứng, và chính sách hiện nay của Hoa
Kỳ
Theo một nghiên cứu năm 2005 của
Quốc Hội Mỹ, mục tiêu chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á như sau:[40]
· Ổn định khu vực và cân bằng lực lượng với
mục tiêu chiến lược là không cho ai làm bá chủ tại Đông Nam Á.
·
Không để bị loại ra khỏi khu vực bởi một cường quốc hay một liên minh nào.
· Tư do lưu thông hàng hải và bảo vệ các
đường biển.
· Bảo vệ quyền lợi mậu dịch và đầu tư của Mỹ.
· Ủng hộ đồng minh và các nước bạn.
· Truyền bá dân chủ, chủ nghĩa pháp quyền,
nhân quyền, và tự do tín ngưỡng.
· Không để khu vực trở thành căn cứ địa của
bọn khủng bố.
Đối với Trung Quốc và vai trò của
Trung Quốc ở Châu Á-Thái Bình Dương nói chung thì “Công bố chiến lược an ninh
quốc gia” (U. S. National Security Strategy Statement) ngày 17 tháng 3
năm 2004 cho biết “một phần quan trọng trong chiến lược của chúng ta là thiết
lập một khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ổn định, thái bình, và thịnh vượng….
Chúng ta chào đón sự ra đời của một nước Trung Quốc hùng mạnh, hòa bình, và
thịnh vượng.” Công bố chiến lược nầy cho biết thêm là, để phát huy quyền lợi
của Mỹ trong quan hệ Mỹ-Trung tại Đông Nam Á, Mỹ thường thi hành chiến lược
“cân bằng lực lượng trong khu vực qua các liên minh và qua sự hiện diện quân
sự” cũng như qua việc đưa Trung Quốc vào hợp tác để “cùng lúc khuyến khích sự
tham gia có trách nhiệm [của Trung Quốc] vào các hoạt động quốc tế.”
Nhưng việc Trung Quốc tăng cường
hoạt động tại Đông Nam Á trong những năm gần đây, như đã tóm lược trong phần
trên của bài nầy, đã làm nhiều nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ cũng như nhiều
chính khách Mỹ lo ngại. Trong một bài về Trung Quốc và ASEAN đăng trên một tập
san của một viện nghiên cứu chiến lược, Mỹ hai tác giả Dana R. Dillon và John
J. Tkacik, Jr. đã đi đến kết luận rằng Trung Quốc đang trở thành một cường quốc
đầu đàn ở Đông Nam Á và sẽ làm tổn hại đến vị trí của Mỹ cũng như sẽ gây nhiều
khó khăn cho các nước bạn tại khu vực nầy nếu Mỹ không cố gắng tăng gấp đôi,
gấp ba, các hoạt động của mình đối với ASEAN.[41]
Một số các nhà nghiên cứu khác của
Mỹ lạc quan hơn về ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong một bài về vai
trò của Trung Quốc trong khu vực nầy và ý nghĩa của nó đối với Mỹ và
Nhật, Elizabeth Economy, giám đốc chương trình nghiên cứu Châu Á tại Hội Đồng
Đối Ngoại của Mỹ (The Council on Foreign Relations) viết rằng mặc dầu vai trò
kinh tế của Trung Quốc tại Đông Nam Á là quan trọng nhất và phát triển nhanh
nhất trong những năm vừa qua, mậu dịch hai chiều giữa Trung Quốc với ASEAN năm
2004 chỉ mới có khoảng 100 tỷ Mỹ kim. Tức là thua xa Nhật (135,9 tỷ Mỹ kim) và
Mỹ (trên 136 tỷ Mỹ kim) trong cùng năm. Hơn thế nữa, sự phát triển mậu dịch hai
chiều giữa Trung Quốc và ASEAN không có nghĩa là hai bên cùng có lợi. Hàng nhập
từ Trung Quốc như là đồ điện tử, đồ mộc (bàn, ghế, tủ, gường), xe gắn máy, và
hoa quả chỉ là một vài ví dụ hàng nội địa của các nước Đông Nam Á đang gặp khó
khăn cạnh tranh, nếu không nói là có thể bị hàng Trung Quốc đè bẹp. Ở Inđônêsia
và Ma-lai-xi-a nhiều người phàn nàn là có quá nhiều việc làm đã bị Trung Quốc
chiếm mất. Việc tăng cường xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc đã có ảnh
hưởng xấu đối với một số nước như Campuchia và Việt Nam. Và sự hiện diện càng ngày càng
lớn trên bình diện kinh tế của Trung Quốc tại Đông Nam Á đang khuấy lên sự bất
bình sẵn có nhưng trầm lặng trong quần chúng tại các nước trong khu vực đối với
các tầng lớp Hoa kiều giàu có ở đấy.[42]
Trên bình diện giúp đỡ các nước
Đông Nam Á thì bà Economy nói rằng Trung Quốc đã được mọi người chú ý trong lúc
Châu Á đang bị khủng hoảng tài chính vì Trung Quốc không chịu hạ giá thêm đồng
nhân tệ và vì Trung Quốc đã cho Thái Lan mượn một tỷ Mỹ kim. Nhưng Nhật là nước
cho ASEAN nhiều viện trợ nhất. Năm 1977 Nhật hứa sẽ viện trợ 30 tỷ Mỹ kim để tăng
cường các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á; và đến năm 2001 60% của toàn
thể viện trợ phát triển cho khu vực là từ Nhật. Bà Economy kết luận rằng trong
khi Trung Quốc rất năng động trong việc đẩy mạnh quan hệ mậu dịch với ASEAN và
muốn đóng vai trò lãnh đạo kinh tế trong khu vực với các hiệp định như Hiệp
Định Mậu Dịch Tự Do ASEAN-Trung Quốc, Nhật vẫn đóng vai trò quan trọng nhất nhì
đối với ASEAN trong các lãnh vực đầu tư, mậu dịch, và tài chính. Mỹ vẫn là nước
có trao đổi mậu dịch lớn nhất với khu vực. Nhưng vì Mỹ đang chú ý đến các thị
trường khác, như Trung Quốc, nên Mỹ có thể đánh mất vị trí chủ chốt của mình
nếu Mỹ không để ý thêm đến các nước ASEAN và không giúp các nước nầy tiếp tục
phát triển kinh tế.[43]
Gần 2 phần 3 bài của bà Economy
được dùng để phân tích vai trò của Trung Quốc trong lãnh vực an ninh và “an
ninh không truyền thống” như môi trường, ma túy, y tế và quyền chính
(governance). Bà Economy đi đến kết luận rằng mặc dầu Trung Quốc rất khôn khéo
trong mặt trận ngoại giao, nhiều nước trong khu vực vẫn chưa hẳn tin tưởng
Trung Quốc vì Trung Quốc thường nói một đằng nhưng làm một nẻo. Bà đưa ra một
số ví dụ chứng minh như là việc Trung Quốc làm đập trên thượng lưu sông Mê Công
và gây rất nhiều hậu quả nặng nề cho các nước hạ lưu như Lào, Thái Lan,
Campuchia và Việt Nam. Thế nhưng Trung Quốc vẫn khăng khăng từ chối yêu cầu của
Hội Đồng Sông Mê Công (Mekong River Commission) gặp để thảo luận việc nầy hay
ít nhất là để nghe các nước láng giềng để bày tỏ những lo âu của họ. Bà Economy
cho rằng, nếu Trung Quốc muốn trở thành một nước lãnh đạo ở Đông Nam Á, Trung
Quốc phải thật sự đóng những vai trò tích cực hơn trong các lãnh vực an ninh được
đề cập đến. Cuối cùng bà Economy kết luận rằng Mỹ và Nhật vẫn đóng vai trò then
chốt các lãnh vực mậu dịch, an ninh và phát triển kinh tế ở Đông Nam Á; và mặc
dầu Trung Quốc không có thể đẩy Mỹ và Nhật ra khỏi khu vực, Mỹ không nên ỷ lại
vào những thành tích trong quá khứ mà phải năng động hơn. Đặc biệt là nên đưa
Trung Quốc vào hợp tác với Mỹ và Nhật trong khu vực vì việc nầy, tuy sẽ gặp rất
nhiều thử thách, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho mọi bên.[44]
Hai nghiên cứu trên phản ánh hầu
hết các phản ứng của các nhà phân tích và các chính khách Mỹ, dù bi quan hay
lạc quan đối với thái độ và hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á: hầu hết
đều cho rằng Mỹ phải năng động hơn trong quan hệ với các nước ASEAN. Vì bị áp
lực từ nhiều phía, bắt đầu từ giữa năm 2005 chính quyền Bush đã đẩy mạnh quan
hệ với các nước Đông Nam Á, trừ Mi-an-ma. Trong cuộc điều trần trước Quốc Hội
Mỹ ngày 21 tháng 9 năm 2005 ông Eric G. John, trợ lý thứ trưởng ngoại giao phụ
trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhấn mạnh rằng vì Đông Nam Á là vùng quan
trọng bật nhất đối với Mỹ (“Southeast Asia is – and will remain – of the
greatest importance to the United States”), Mỹ đã và đang cải thiện quan hệ với
các quốc gia trong khu vực (trừ Mi-an-ma) và tăng cường hợp tác với các tổ chức
đa phương như ASEAN, APEC, và Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF). Đối với ASEAN ông
John nói rằng tăng cường quan hệ với tổ chức nầy là việc làm tối quan trọng vì
ASEAN là một động cơ để phát triển ổn định và thịnh vượng trong khu vực Châu
Á-Thái Binh Dương. Ông ta nói Mỹ và ASEAN đã và đang tăng cường hợp tác trong
mọi lãnh vực, mặc dầu đối với Mỹ ASEAN chưa hợp tác đủ với Mỹ trong việc thúc
đẩy dân chủ tại Mi-an-ma. Tuy thế, ông John nói rằng trong năm 2006, dựa trên
quan hệ rất vững chắc đã đạt được, ASEAN và Mỹ sẽ phát triển toàn diện chương
trình Enhanced Partnership (Đối tác nâng cao) mà ASEAN đã đề nghị vào tháng
giêng năm 2004. Đây là một chương trình mà các nước ASEAN muốn Mỹ tham dự như
là một thành viên ngang hàng với Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Ấn Độ để tránh
cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực ngõ hầu đem lại ổn định lâu dài tại
đây. Về vai trò Trung Quốc ở Đông Nam Á ông John tuyên bố:
Trung Quốc tập trung phát triển
quan hệ mậu dịch và đầu tư mạnh mẻ trong khu vực để nuôi dưỡng phát triển nội
bộ nước mình. Trong cùng lúc thì Trung Quốc rõ ràng muốn nâng cao ảnh hưởng
chính trị ngang tầm với sức mạnh kinh tế của mình, và từ đó có cơ hội để khuếch
trương các quyền lợi của mình trong khu vực. Mục tiêu của chúng ta (Hoa kỳ) là
giúp Trung Quốc ngày càng nhận định rõ những quyền lợi nầy nên phát triển theo
cùng chiều hướng với những mục đích của chúng ta. Đây đúng chính là việc mà thứ
trường ngoại giao Zoellick đang làm trong chương trình Senior Dialogue (Đối
thoại Cấp cao) đã được ký kết giữa Tổng thống (Mỹ) và Chủ tịch Hu (Trung Quốc)
tại cuộc hợp APEC năm ngoái. Chương trình Diễn đàn các Vấn đề Toàn Cầu
Dobriansky của Hoa Kỳ (U.S. Dobriansky’s Global Issues Forum) cũng tìm cách đối
phó với sự xuất hiện của Trung Quốc như là một tay chơi toàn cầu bằng cách
chứng tỏ sự hợp tác trong hàng loạt các vấn đề đa quốc gia. Phải nên nhớ rằng
trong bối cảnh nầy vai trò của Mỹ ở trong khu vực đã tăng cùng lúc với việc Trung
Quốc tìm cách tăng cường đầu tư vào Đông Nam Á. Chúng ta đang, và sẽ tiếp tục,
đóng vai trò cần thiết trong khu vực, vai trò đã được xây dựng trên những quan
hệ đồng minh của chúng ta, sự tham gia năng động của chúng ta trong các tổ chức
ASEAN và APEC, và phương tiện thâm nhập thị trường mở rộng và thông suốt của
chúng ta mà chúng ta đã cung cấp để giúp phát triển các nền kinh tế của Trung
Quốc và của các nước trong khu vực.[45]
Trong một bài phát biểu ngày 22
tháng 5 năm 2006 tại Xinh-ga-po về quan hệ giữa Mỹ và Đông Nam Á ông
Christopher Hill, thứ trưởng ngoại giao phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương, nhấn mạnh sự quan trọng của Đông Nam Á đối với tương lai của Mỹ và của
hệ thống quốc tế. Ông Hill nói rằng, trên lãnh vực kinh tế, Đông Nam Á là khu
vực đầu đàn của nền kinh tế thế giới và là một trong những bạn hàng trao đổi
mậu dịch quan trọng nhất của Mỹ. Năm 2005 Mỹ nhập 100 tỷ Mỹ kim hàng từ Đông
Nam Á và xuất gần 50 tỷ Mỹ kim sang các nước trong khu vực nầy. Như thế, Đông
Nam Á là thị trường lớn thứ 5 trên thế giới cho xuất khẩu của Mỹ; và đầu tư
trực tiếp của Mỹ tại ASEAN lớn hơn đầu tư của Mỹ tại Trung Quốc và Hồng Kông
cộng lại. Ông Hill nói tiếp như sau: “Chúng tôi (Mỹ) hiện nay hoạt động cật lực
để đưa quan hệ với ASEAN lên một nấc cao hơn” (We are now actively working on
taking our relationship with ASEAN to the next level.) Thêm vào đó ông Hill
cũng cho biết là Mỹ rất quan tâm đến việc phát huy cấu trúc của ASEAN cũng như
tăng cường quan hệ với ASEAN là vì Mỹ muốn nới rộng những quan hệ song phương
rất sâu đậm và năng động giữa Mỹ với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Để
chứng minh quan hệ song phương quan trọng như thế nào đối với Mỹ, ông Hill tóm
tắt quan hệ của Mỹ với từng nước một trong khu vực Đông Nam Á. Đối với
Xinh-ga-po, chẳn hạn, ông Hill nói Xinh-ga-po là bạn hàng mậu dịch lớn thứ 10
trên toàn cầu. Xuất khẩu của Mỹ sang Xinh-ga-po, một nước chỉ có 4,3 triệu
người, bằng một nửa xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc, một nước có hơn 1,3 tỷ
người. Mậu dịch giữa Mỹ và Xinh-ga-po đã tăng hơn 10% sau khi hai nước ký Hiệp
định Tự do Mậu dịch năm 2004. Sau khi liệt kê quan hệ song phương với từng nước
Đông Nam Á, ông Hill nói rằng chỉ có một quan hệ song phương với Mỹ có tác động
đến hết các quan hệ song phương đã được đề cập đến là quan hệ song phương với
Trung Quốc. Ông Hill nói ông muốn bày tỏ rõ ràng rằng không phải có thêm nhiều
sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực là sẽ có bớt sự hiện diện của Mỹ. Mỹ
nghĩ là Mỹ có thể hợp tác với Trung Quốc trên toàn cầu, kể cả trong khu vực
Đông Nam Á. Sự phát triển kinh tế rất nhanh chóng của Trung Quốc và ảnh hưởng
chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc đã và đang đem đến nhiều thách thức và
cơ hội cho các nước Châu Á và cho Mỹ. Nhưng, như tổng thống Bush đã nói hồi
tháng 4 năm 2006, Mỹ chào đón sự xuất hiện của một nước Trung Quốc giàu có và
hòa bình và ủng hộ các cơ chế quốc tế. Ông Hill nói tiếp là bảy nhiệm kỳ tổng
thống Mỹ đã ủng hộ việc Trung Quốc hòa nhập với hệ thống toàn cầu và Mỹ đã
thành công trong việc nầy. Bây giờ, như thứ trưởng ngoại giao Robert Zoellick
đã nói trong một bài diễn văn hồi tháng 9 năm 2005, “đã đến lúc mọi người trong
chúng ta khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò lớn hơn như là một cổ
đông viên có trách nhiệm trong hệ thống quốc tế, một hệ thống đã giúp Trung
Quốc gặt được rất nhiều lợi ích” (it is time for all of us to encourage China
to take on a greater role as a responsible stakeholder in the international
system, a system from which China has benefited greatly.)[46]
Sau bài phát biểu chính thức ông
Hill có trả lời một số câu hỏi. Và trong khi ông trả lời câu hỏi cuối cùng của
ông Kishore Mahbubani, giám đốc Cao học Lý Quang Diệu về Chính sách Công cộng
(Lee Kuan Yew School of Public Policy) và nguyên ngoại trưởng Xinh-ga-po, ông
Hill đã thố lộ rất rõ chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á và với vai trò của
Trung Quốc trong khu vực nầy: Mỹ sẽ tiếp tục phát triển quan hệ lâu dài với các
nước trong khu vực vì những quan hệ nầy rất quan trong và rất đặc biệt đối với
Mỹ. Nhưng việc nầy không có nghĩa là Mỹ cạnh tranh với Trung Quốc để lấy lòng
các nước Đông Nam Á. Mỹ muốn Đông Nam Á có quan hệ tốt với Trung Quốc vì Trung
Quốc là một đầu tàu cho sự phát triển trong khu vực. Đông Nam Á là một trong
những khu vực trên thế giới mà Mỹ muốn hợp tác với Trung Quốc vì lợi ích chung.
Chỉ có một vấn đề nổi cộm là trong quan hệ của Trung Quốc với Mi-an-ma Trung
Quốc không chịu cho các nước khác trong ASEAN và trong Liên Hiệp Quốc hợp tác
để đem đến những thay đổi tích cực cho Mi-an-ma và giúp đưa Mi-an-ma vào con
đường phát triển.[47]
Ông Hill đã lập lại hai lần trong
câu trả lời trên là Mỹ không muốn cạnh tranh với Trung Quốc, chỉ muốn đưa Trung
Quốc vào con đường hợp tác. Như sẽ trình bày ở phần cuối của bài nầy, đây là
một chính sách rất quan trọng cho việc phát triển ổn định trong khu vực.
IV. Chính sách, thái độ và hoạt đ��ng của Nhật
Nếu Mỹ không muốn cạnh tranh với Trung Quốc và chỉ muốn đưa Trung Quốc vào hợp
tác thì Trung Quốc có muốn cạnh tranh với Mỹ hay với ai khác không? Như đã
trình bày ở trên trong phần về Trung Quốc, Trung Quốc bắt buộc phải tỏ ra có
thiện chí trong ba cuộc họp thượng đỉnh vào trung tuần tháng 12 năm 2005 tại
Ma-lai-xi-a, một phần vì áp lực của các hoạt động tích cực của các nước Đông
Nam Á. Nhưng qua các thái độ khiếm nhã của Ôn Gia bảo đối với thủ tướng Nhật và
qua việc Ôn Gia Bảo họp báo tố cáo Nhật có tham vọng làm lãnh tụ trong khu vực
người ta có thể thấy được khá rõ ràng là Trung Quốc cố ý dằn mặt Nhật để cho
mọi người thấy rằng Trung Quốc không bằng lòng với địa vị của Nhật trong khu
vực. Còn Nhật thì sao? Có muốn cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc không? Và có
thể cạnh tranh không?
Trong một bài đăng trong tạp chí China Brief vào đầu tháng giêng năm
2004 với tựa đề “Nhật có thể phản công lại ảnh hưởng đang lớn dần của Trung
Quốc tại Đông Nam Á không?” tác giả cho biết rằng các hoạt động của chính phủ
Nhật để khẳng định lại ảnh hưởng của Nhật tại Đông Nam Á gặp nhiều cản trở
chính trị trong nước Nhật. Một ví dụ tác giả đưa ra là trong việc thương thuyết
các hiệp định mậu dịch tự do với một số nước Đông Nam Á chính phủ Nhật đã phải
đương đầu với một phong trào vận động hành lang về nông nghiệp (argricultural
lobby) và vì thế đã đi sau Trung Quốc rất xa trong việc thiết lập các hiệp định
mậu dịch tự do với các nước ASEAN. Nhưng dầu sao đi nữa thì Nhật có một số lợi
thế sẵn có. Lợi thế thứ nhất là mặc dầu ảnh hưởng của hơn 10 năm kinh tế suy
thoái và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997-98 đã buộc Nhật phải rút bớt đầu tư
trong khu vực Đông Nam Á để đầu tư vào Trung Quốc (và vì thế đã kéo các nhà đầu
tư nước ngoài khác bỏ Đông Nam Á chạy theo Nhật vào Trung Quốc luôn), đến năm
2001 đầu tư của Nhật tại ASEAN vẫn lớn hơn 14 lần nếu tính theo dòng chảy
(flow) hay hơn 56 lần nếu tính theo lượng (stock). Lợi thế thứ hai là Liên Minh
Mỹ-Nhật ngày càng được củng cố và vì thế nếu các nước ASEAN muốn tranh thủ Mỹ
có thêm sự hiện diện trong khu vực hòng không cho một cường quốc nào làm bá chủ
để an ninh khu vực được đãm bảo lâu dài, thì các nước Đông Nam Á phải khuyến
khích Nhật đóng những vai trò tích cực hơn. Áp lực của các nước ASEAN đã đem
lại một số hiệu quả tích cực như là việc Nhật, vào trung tuần tháng 12 năm
2003, đã ký “Hiệp Định Hữu Nghị và Thương Mại” (Treaty of Amity and Commerce)
mà ASEAN đã thiết lập năm 1976 mặc dầu có sự phản đối của Mỹ và mặc dầu sự phản
đối nầy đã làm cho Úc và Tân Tây Lan sợ và không dám ký. Sự phản đối của Mỹ dựa
trên nguyên tắc Nhật là đồng minh của Mỹ và được Mỹ bảo vệ, đặc biệt là với vũ
khí hạt nhân, trong khi qua việc ký hiệp định trên Nhật chấp nhận ASEAN
là một “khu vực phi vũ khí hạt nhân” (nuclear-weapons-free zone.)[48]
Ngược lại hiệp định trên với Nhật, năm 2004 ASEAN bác bỏ yêu cầu của
Trung Quốc gia nhập hiệp định khu vực phi vũ khí hạt nhân (Southeast
Asia Nuclear Weapons Free Zone) với lý do là tổ chức nầy muốn tất
cả các cường quốc có vũ khí nguyên tử đều gia nhập cùng một lúc. Hành động nầy
được người ta phân tích là ASEAN không muốn Trung Quốc có một vai trò quá nổi
trên bình diện an ninh nếu không có sự tham gia cùng lúc của các cường quốc
trong khu vực.[49]
Mặc dầu trên bình diện an ninh Nhật chủ yếu dựa vào liên minh với Mỹ, chính
sách lâu dài của Nhật là đưa Trung Quốc vào hợp tác trên nhiều bình diện và ở
nhiều nơi, đặc biệt là ở Đông Nam Á vì Nhật cho đây là cách hữu hiệu nhất và rẻ
nhất để làm cho thái độ và chính sách của Trung Quốc ôn hòa hơn. Đó là lý do
tại sao Nhật đã âm thầm khuyến khích các nước ASEAN mở rộng hội nghị thượng
đỉnh Châu Á (EAS) ngày 14 tháng 12 năm 2005 tại Ma-lai-xi-a. Như đã nói trên,
việc nầy đã làm cho Trung Quốc rất tức giận và đã phản ứng rất mạnh đối với
Nhật. Nhưng đằng khác thì Ôn Gia Bảo đã phải tuyên bố là Trung Quốc chống một
tổ chức khu vực “khép kín và riêng biệt” và ủng hộ một tổ chức mở cửa cho tất
cả các nước ngoài Châu Á đến dự. Sở dĩ Nhật đã có thể âm thầm khuyến khích các
nước ASEAN chận bớt tham vọng chính trị của Trung Quốc là vì, ngoài liên minh
với Mỹ, Nhật vẫn còn có sự hiện diện kinh tế khá lớn trong khu vực.
Đầu tư trực tiếp của Nhật tại các nước ASEAN tụt với mức độ rất nhanh sau
khủng hoảng năm 1997 và đầu tư vào Trung Quốc tăng nhanh từ năm 2000, tức là từ
khi Trung Quốc sắp vào Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO). Trong năm tài chính
2003 tổng số đầu tư của Nhật vào ASEAN là 263,1 tỷ Yên, tức là khoảng 6,4% của
tổng số đầu tư của Nhật trên thế giới (4090 tỷ Yên). Theo Tổ Chức Kinh Tế
Đối Ngoại Nhật (JETRO, Japan External Trade Organization) thì bắt đầu từ năm
2004 đầu tư của Nhật tại ASEAN (tính bằng triệu Mỹ kim) đã tăng rất nhanh ở
Việt Nam, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan.
Tuy đầu tư của Nhật tại Inđônêsia
năm 2004 tụt xuống so với năm 2003, ông Aburizal Bakrie, bộ trưởng kinh tế
Inđônêsia, cho biết trong một thông báo vào trung tuần tháng 10 năm 2005 tại
Jakarta là đến năm 2009 đầu tư của Nhật sẽ tăng đến 22 tỷ Mỹ kim, tức là gấp
đôi mức đầu tư năm 2005. Ông Bakrie cho biết là đến năm 2005 có 900 công ty
Nhật hoạt động ở Inđônêsia với tổng số đầu tư là 11 tỷ Mỹ kim và tạo công ăn
việc làm cho 282 nghìn người. Giá trị hàng xuất của các công ty nầy năm 2004
bằng 19,06% của tổng giá trị hàng xuất của Inđônêsia, và giá trị hàng nhập của
các công ty nầy bằng 13,07% của tổng giá trị hàng nhập của Inđônêsia. Đến năm
2009 tổng giá trị hàng xuất của các công ty Nhật tại Inđônêsia sẽ tăng gấp đôi.
Ông Bakrie cũng cho biết thêm là đầu tư của Nhật tại Inđônêsia từ năm 1967 đến
năm 2004 tương đương với 19,5% của tổng số đầu tư nước ngoài tại Inđônêsia. Do
đó, Nhật là nước có đầu tư lớn nhất tại đây.[50]
Theo phát biểu vào cuối tháng 2 năm
2005 của ông Osamu Watanabe, chủ tịch và tổng giám đốc tổ chức JETRO (Japan
External Trade Organization), tổng số đầu tư của Nhật tại Đông Nam Á đã lớn hơn
gấp 3 lần tổng giá trị đầu tư của Nhật tại Trung Quốc và có xu hướng tăng càng
nhanh hơn nữa sau khi Nhật ký kết một số hiệp định mậu dịch tự do với các nước
trong vùng.[51]
Quan hệ mậu dịch giữa ASEAN có thể
còn quan trong hơn đầu tư của Nhật tại khu vực Đông Nam Á. Mậu dịch giữa Nhật
với ASEAN (xuất khẩu và nhập khẩu) năm 2003 là 13.860,8 tỷ Yên, tức là khoảng
14% tổng giá trị của mậu dịch của Nhật với toàn thế giới. Mậu dịch với ASEAN
tương đương với Cộng đồng Châu Âu và chỉ thua Trung Quốc có 1,5%.
Từ năm 2003 đến nay Nhật đã thúc
đẩy rất mạnh việc thiết lập các hiệp định thương mại tự do song phương với các
nước ASEAN, mặc dầu vì lý do chính trị trong nước chính phủ Nhật không công
khai hô hào các nổ lực của mình về vấn đề nầy như Trung Quốc. Khi phải đề cập
đến các cuộc thương lượng hiệp định mậu dịch tự do và lợi ích của nó thì chính
phủ Nhật thường nói đến lợi ích đem về được cho nhân dân Nhật chứ không phải
các lợi ích s�� đem lại được cho các nước trong khu vực. Chính phủ Nhật cho biết
là một hiệp định mậu dịch tự do với ASEAN sẽ đem lại khoảng 18 tỷ Mỹ kim cho
GDP của Nhật và sẽ tạo 260 nghìn việc làm cho người Nhật.[52]
Qua
các con số trên ta có thể thấy là quyền lợi kinh tế của Nhật ở Đông Nam Á rất
lớn và ngang ngửa với quyền lợi kinh tế của Nhật ở Trung Quốc. Vì thế, tuy
trong vài năm qua giữa Nhật và Trung Quốc có vài hục hặc về một số vấn đề chính
trị và địa lý, lợi ích lâu dài của Nhật buộc Nhật phải chọn chính sách tối ưu,
tức là đưa Trung Quốc vào hợp tác với Nhật tại Đông Nam Á và Bắc Á. Sự phát
triển kinh tế của cả ba vùng cần nhau và bổ sung cho nhau. Đây cũng là lý do
tại sao phần lớn các viện trợ phát triển (ODA) của Nhật đã được đưa vào Trung
Quốc, Đông Nam Á và các nước khác ở Châu Á.
Phải chú thích ở đây để biết thêm
sự quan hệ của viện trợ Nhật là mặc dầu Trung Quốc ăn to nói lớn, Trung Quốc
cho rất ít viện trợ. Các báo chí Trung Quốc đưa tin ngày 7 tháng giêng năm 2006
là trong năm 2005 Trung Quốc chỉ viện trợ có 33 triệu Mỹ kim và cho Inđônêsia
mượn một số tiền lớn hơn để xây dựng các công trình hạ tầng. Báo China
Development Brief, số tháng 12, cho biết là mặc dầu viện trợ của Trung Quốc
đã xây dựng nhiều công trình ở Lào, tổng số viện trợ của Trung Quốc ở Lào từ
năm 1988 đến năm 2004 chỉ có khoảng 200 triệu Mỹ kim. Trong khi đó thì chỉ
riêng trong hai năm 2001-2002 Lào nhận được 198 triệu viện trợ từ các nước, với
100 triệu từ Nhật và 20 triệu từ Trung Quốc. Nhật là nước cho viện trợ nhiều
nhất. Về viện trợ nhân đạo thì báo China Daily ngày 19 tháng giêng năm
2006 cho biết là viện trợ của Trung Quốc cho các nạn nhân của sóng thần năm
2004, “vừa bằng tiền vừa bằng hiện vật,” tổng cộng là 22 triệu Mỹ kim. Trong
khi đó thì nhiều nguồn tin khác cho biết Mỹ và Nhật viện trợ vài tỷ Mỹ kim và
những nước kinh tế bật trung (như Đức, Úc và Na Uy) mỗi nước hứa viện trợ vài
trăm triệu Mỹ kim.
V. Hàm ý cho Đông Nam Á và Việt Nam
Qua trình bày phía trên ta thấy rằng bối cảnh kinh tế và ngoại giao tại
Đông Nam Á chưa bao giờ thuận tiện cho các nước trong khu vực như hiện nay. Sự
xuất hiện của Trung Quốc như là một cường quốc chính trị và kinh tế và những
hoạt động ráo riết cũng như những thái độ không rõ ràng của Trung Quốc đã gây
nhiều quan tâm. Một số nước Bắc Á và Đông Nam Á, một phần vì suy thoái kinh tế
và vì các ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng năm 1997-98 và một phần vì sợ
không cạnh tranh nổi với Trung Quốc sau khi Trung Quốc vào WTO, đã tăng cường
quan hệ kinh tế và ngoại giao với Trung Quốc. Đầu tư của các nước Châu Á, đặc
biệt là từ Nhật và Đông Nam Á, đã giúp Trung Quốc rất nhiều trong việc phát
triển kinh tế của Trung Quốc.
Các nước Châu Âu, Bắc Mỹ, và Úc có vẻ thận trọng trong việc đầu tư tại Trung
Quốc, một phần là vì họ sợ sự phát triển của Trung Quốc không bền vững. Nói
chung, mãi đến sau khi Trung Quốc vào WTO rồi mà đầu tư của các nước nầy không
tăng gì mấy; và đến năm 2004 tổng cộng chưa bằng một nửa tiền đầu tư của các
nước Châu Á tại Trung Quốc. FDI của Châu Âu và Bắc Mỹ tuy nhỏ hơn đầu tư của
Châu Á, đầu tư của hai khu vực nầy rất quan trọng một là vì nó sản xuất những
hàng có chất lượng và giá trị gia tăng cao. Thêm vào đó, đây là hai trị trường
lớn nhất cho các hàng xuất của Trung Quốc. Riêng thị trường Mỹ mỗi năm đã tiêu
thụ trên 40% tổng xuất khẩu của Trung Quốc. Phần lớn đầu tư từ các nước Đông
Nam Á và tiền đem ra ngoài rửa rồi đem về Trung Quốc lại được đầu tư vào các xí
nghiệp hương trấn hay các công nghiệp ít có giá trị gia tăng và vì thế ít lãi
hơn các loại hàng sản xuất tại các xí nghiệp FDI Âu-Mỹ, mặc dầu nhiều mặt hàng
hương trấn cũng được xuất sang các thị trường Âu Mỹ. Vấn đề được đặt ra ở đây
là nếu kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn (vì mất ổn định trong nước hay trong khu
vực hay vì giá nguyên liệu và nhiên liệu trên thế giới tăng cao) thì tiền đầu
tư của nhiều nước Châu Á tại Trung Quốc sẽ gặp nhiều rủi ro nhất và không biết
có thể tháo chạy kịp thời không.
Hiện nay, Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính/ngân hàng
cũng như nhiều vấn đề xã hội rất lớn (như mỗi năm có hàng trăm ngàn cuộc biểu
tình của nông dân và nông dân mà chính quyền Trung Quốc phải dùng vũ lực
để đàn áp) và vì thế nhiều nước đã bắt đầu rút bớt tiền đầu tư ở Trung Quốc để
đem vào một số nước khác ít rủi ro hơn. Theo các số liệu chính thức, trong 6
tháng đầu năm 2006 FDI vào Trung Quốc đã tụt 0,7 so với 6 tháng đầu năm 2005.
Trong nửa đầu năm 2006 FDI từ Hàn Quốc vào Trung Quốc đã giảm 39,49%, từ Nhật
đã giảm 31,37%, và từ Mỹ đã giảm 18,27%. Ngược lại, đầu tư từ Hồng Kông tăng
9,75% và từ Virgin Islands (tiền rửa) tăng
12,42%. Trong hiện tại tiền FDI sản xuất 60% tất cả các hàng xuất khẩu của
Trung Quốc và đã giúp Trung Quốc phát triển một cách “thần kỳ.” Nếu FDI tiếp
tục tụt xuống và nếu những nhà đầu tư bắt đầu kéo ra khỏi Trung Quốc thì
ảnh hưởng là số người thất nghiệp lại càng đông (hiện nay đã có khoảng 150
triệu) và việc nầy sẽ gây thêm mất ổn định xã hội và chính trị tại Trung Quốc.
Ngược lại, vì sợ nạn thất nghiệp quá trầm trọng,
Trung Quốc đã bôm quá nhiều tiền vào sản xuất và vì thế đã hâm nóng nền kinh tế
đến độ đáng lo ngại. Theo các nguồn tin chính thức của Trung Quốc, ngày 14
tháng 6 năm 2006 chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố là sản xuất trong tháng 5
tăng 17,9% so với tháng 5 năm 2005. Xuất khẩu tăng 25,1% và hàng bán lẻ trong
nước tăng 14,2%. Trong cùng ngày, Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc (People’s
Bank of China) cho biết là số tiền lưu hành (M2) tại Trung Quốc đã tăng 19,1%
trong một năm, tức là cao hơn các chỉ tiêu của chính phủ rất nhiều. Quan trọng
hơn nữa là các ngân hàng ở Trung Quốc đã cho vay hơn 2 phần 3 chỉ tiêu cho cả
năm chỉ trong 5 tháng đầu, gây nên tình trạng hâm nóng kinh tế mà chính phủ
Trung ương chưa có biện pháp gì để kìm hãm được.
Mục đích các đoạn trên không phải để phân tích các khó khăn kinh tế và xã hội
của Trung Quốc nhưng để cho thấy rằng, nếu muốn tiếp tục phát triển, Trung Quốc
cần có ổn định trong nước cũng như trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương – nơi
mà Đông Nam Á là khâu quan trọng hàng đầu. Một trong những lý do giúp Trung
Quốc tăng cường quan hệ với các nước Châu Á, nói chung, và Đông Nam Á, nói
riêng, là Trung Quốc thường rêu rao rằng sự phát triển của Trung Quốc sẽ có lợi
cho tất cả (win-win, thắng-thắng) và sẽ vực tất cả các nền kinh tế khác cùng
lên. Trung Quốc trong những năm qua đã tự ví mình là đầu tàu cho toàn khu vực
và lấy cái thế đang lên của nền kinh tế mình để tăng cường ảnh hưởng chính trị
và quan hệ quân sự trong khu vực. Nhưng nếu kinh tế Trung Quốc xuống cấp và
quan hệ kinh tế với Trung Quốc không còn có lợi cho các nước Đông Nam Á như đã
tưởng nữa thì Trung Quốc có còn sức hấp dẫn không?
Đằng khác, mặc dầu Trung Quốc đã khéo léo dùng các thủ thuật “sức mạnh mềm”
(soft power) và thường lập đi lập lại hai chữ thắng-thắng như là một câu thần
chú, thái độ và cách cư xử của các lãnh tụ Trung Quốc (như của Ôn Gia Bảo) đã
làm cho nhiều người nghi ngờ sự thật tình của Trung Quốc. Thêm vào đó là có
nhiều bài viết của các chuyên gia Trung Quốc trong các tập san nghiên cứu tấn
công Mỹ và Nhật trong quan hệ với Đông Nam Á. Một ví dụ là một số chuyên gia
Trung Quốc đã cho rằng những cải thiện trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam gần đây
là để ngăn đê (ezhi) Trung Quốc.[53]
Một ví dụ khác là các chuyên gia Trung Quốc cho rằng các nổ lực chống khủng bố
của Mỹ ở Đông Nam Á hay cứu trợ các nạn nhân sóng thần chỉ là các hình thức trá
hình cho việc đưa quân đội Mỹ trở lại khu vực. Họ cũng chỉ trích sự giúp đỡ các
nạn nhân sóng thần của Nhật như là một hình thức trá hình để giúp Nhật đạt tham
vọng vào Hội đồng An ninh của Liên Hiệp Quốc.[54]
Ai cũng có quyền nghi ngờ động cơ của người khác. Nhưng nếu Trung Quốc cho rằng
quan hệ của Mỹ và Nhật và các cường quốc khác với các nước Đông Nam Á là không
có lợi cho Trung Quốc trong khi những quan hệ nầy thật sự có lợi cho Đông Nam Á
thì đến lúc nào đó các nước Đông Nam Á sẽ bị đưa vào tình thế bắt buộc phải
chọn lựa. Vì thế, không biết việc nầy sẽ có lợi cho Trung Quốc, nói riêng, và
cho các nước khác không?
Mong rằng hành động của các nước ASEAN trung tuần tháng 12 năm 2005 đã dạy cho
Trung Quốc một bài học là các nước nầy – cũng như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc – không
muốn có cạnh tranh trong khu vực, nhưng muốn có sự hợp tác thật sự vì lợi ích
chung. Ôn Gia Bảo bắt buộc phải tuyên bố là Trung Quốc muốn các nước ASEAN lãnh
đạo các tổ chức trong khu vực, rằng Trung Quốc không muốn cạnh tranh, chỉ muốn
hợp tác. Phát biểu nầy, thật tình hay không, cho biết là Trung Quốc đã có một
nhận thức thực tế về thái độ của các nước trong khu vực cũng như của Mỹ và
Nhật. Vấn đề còn lại là làm sao các nước Đông Nam Á có thể đoàn kết với nhau
hơn nữa để có tiếng nói chung mạnh hơn và hiệu lực hơn. Sự chú tâm của các
cường quốc đối với khu vực trong giai đoạn hiện nay tạo cơ hội chưa từng có cho
ASEAN nói chung. Và vì Việt Nam một nước ASEAN lớn nhất kề cận Trung
Quốc, vai trò và ảnh hưởng của Việt Nam trong tương lai sẽ rất lớn nếu Việt Nam
có chính sách khôn ngoan, minh bạch và có thái độ cương quyết chứng tỏ rằng
“không có gì quí hơn độc lập tự do.”
* Bản duyệt lại của bài phát biểu tại Hội Thảo Hè 2005 “Tiếp Tục Đổi Mới Kinh Tế và Xã Hội
để Phát Triển”, tổ
chức tại Đà Nẵng ngày 28-30/7/2005 với sự hỗ trợ của VAPEC, Vietnamese Heritage
Institute và Đại học Đà Nẵng.
** Vì lý do kỹ thuật, bản trên mạng (mà bạn đang đọc)
không có các biểu đồ (tiếng Anh) mà tác giả kèm theo bài. Muốn đọc bản
dưới dạng PDF, có đầy đủ các biểu đồ kèm theo, xin bấm đây.
[1]
“China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United
States,” Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005,
trang 4-5; “China and Southeast Asia,” Policy Bulletin, 44th
Strategy for Peace Conference, October 16-18, 2003, có thể tải được từ
mạng: api.stanleyfoundation.org; Alice Ba, “China and ASEAN:
Renavigating Relations for a 21st Century,” Asian Survey, July-August
2003; Denny Roy, “China and Southeast Asia: ASEAN Makes the Best of the
Inevitable,” Asia-Pacific Center for Security Studies, Volume 1, Number 4,
November 2002, www.apcss.org.
[2]
Nguyên văn: “China’s most
dramatic diplomatic, political, and economic gains of the past few years have
been in Southeast Asia.” Xem: Statement by
Christopher R. Hill, Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific
Affairs, “Emergence of China
in the Asia-Pacific: Economic and Security Consequences for the United States,”
Senate Foreign Relations Committee, June 7, 2005. Toàn thể bài nầy có thể tải
về được từ mạng sau đây: http://www.foreign.senate.gov/testimony/2005/HillTestimony050607.pdf.
[3]
Morton Abramowitz và Stephen Bosworth, “Rethinking Southeast Asia,” The Century
Foundation, www.tcf.org, ngày 21 tháng 4 năm 2005. Bài này
đã đăng trong Jakarta Post ngày 20 tháng 4. Abramwitz là Senior Fellow của The
Century Foundation và Bosworth là giám đốc của The Fletcher School of Diplomacy
tại Tutfs University. Cả hai ông nầy đều đã làm
đại sứ của Mỹ ở Châu Á. Mark Beeson, “Southeast Asia and the Major Powers,” in
Mark Beeson ed. Contemporary Southeast Asia, (Basingstoke:
Palgrave Macmillan, 2004), trang 203.
[4]
Alice Ba, như trên, trang 636. David Shambaugh, “China Engages Asia: Reshaping
the Regional Order,” International Security, Vol. 29, No. 3 (Winter
2004/2005), trang 68.
[5]
Morton Abramowits và Stephen Bosworth, “Rethinking Southeast Asia,” như trên.
Nguyên văn:
The current U.S.
approach to the area has been spasmodic: some counter-terrorism effort here, a
bit of development financing there, an occasional presidential visit, and
frequent statements about the glories of ASEAN, while pursuing a few bilateral
free trade agreements on the side. Increasingly some now argue that growing
Chinese influence in the region threatens American interests and that the U.S. should
somehow be doing more. The Pentagon is more fixated on China's growing military capabilities and its
impact on Taiwan
and Asian security in general.
U.S.
policy is not commensurate with its interests in a changing Southeast
Asia, an area of half a billion people. Central among them is
commerce. In 2003 U.S.
total trade with ASEAN was 130 billion dollars and investment reached some 90
billion.
[6]
John McBeth, “Taking the Helm,” Far Eastern Economic Review, October 16,
2004.
[7]
International Monetary Fund, Direction of Trade Statistics (DOT) Yearbook,
năm 1997 và 2003. Cuốn sách năm 1997 cho các số liệu từ năm 1990 đến 1995 và
cuốn năm 2003 cho số liệu từ năm 1996 đến 2002.
[8]
ASEAN Secretariat, ASEAN Statistical Yearbook, 2003, trang 138-140.
[9]
Stuart Grudgings, “China Shows Asia it can Give as Well as Take,” Reuters, ngày
5 tháng 10 năm 2004.
[10]
Ted Fishman, “The Chinese Century,” The New York Times, July 4, 2004.
[11]
“China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”
Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 12.
Peter Goodman, “Booming China Devouring Raw Materials,” The Washington Post,
ngày 21 tháng 5 năm 2004.
[12]
“China-Southeast Asia Relations…”, trang 12. “Shipping in Southeast
Asia,” The Economist, June 12, 2004.
[13]
“Annual Report to Congress: The Military Power of the People Republic
of China 2005,” Department of Defense, Office of the Secretary of Defense,
trang 41.
[14]
“China Sails Troubled Waters Over Oil,” South China Morning Post, ngày
17 tháng 7 năm 2004.
[15]
“China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”
Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang
7-8.
[16]
Chen Fengjun, “Jiaqiang Zhongguo yu Dongmeng Hezuo de Zhanlüe Yiyi” [Gia tăng
ý nghĩa của sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN], Guoji Zhengzhi
Yanjiu [Nghiên cứu chính trị quốc tế] Tập. 1 (tháng 2 năm 2004), trang
24–28; và Lu Jianren, “Shijizhijiao: Zhongguo dui Dongmeng de Waijiao
Zhanlüe” [Thế kỷ chuyển giao: Chiến lược ngoại giao của Trung Quốc đối với
ASEAN], Taipingyang Xuebao [Đại Bình Dương Học báo] Tập. 1 (1998),
trang 42–47.
[17]
David Shambaugh, “China Engages Asia: Reshaping the Regional Order,” trang 72.
[18]
“Regionallly Challenged, Asian Security,” The Economist, ngày 10 tháng 7
năm 2004.
[19]
Jane Perlez, “Across Asia, Beijing’s
Star is Rising,” The New York Times, ngày 28 tháng 8 năm 2004.
[20]
“Peaceful Rise,” The Economist, ngày 24 tháng 6 năm 2004.
[21]
Trích trong “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications
for the United States,”
Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 26.
[22]
Goh Chok Tong, “Constructing a New East Asia,” diễn văn tại Asia Society Conference
tại Bangkok ngày 9 tháng 6 năm2005. Xem: The Straít Times (Xinh-ga-po)
ngày 10 tháng 6 năm 2005, trang A16 và trang 19. app.sprinter.gov.sg/data/20050609995.htm
(ngày 11 tháng 10 năm 2005).
[23]
Để biết thêm chi tiết về 3 hội nghị nầy và quan hệ giữa Trung Quốc và các nước
Đông Nam Á trong 3 tháng cuối năm 2005 xem: Robert Sutter, “China-Southeast
Asia Relations: Emphasizing the Positive; Continued Wariness”, Comparative
Connections: A Quarterly E-Journal on East Asian Bilateral Relations, số
cuối năm 2005. Báo nầy có thể tải về từ:
http//www.csis.org/pacfor/ccejournal.html.
[24]
Willy Lam, “Beijing’s Strategy to Counter U.S.
Influence in Asia,” China Brief, Volume
5, Issue 25 (ngày 6 tháng 12 năm 2005), trang 3. The Jamestown Foundation. Đây là một tờ bán
nguyệt san và có thể tải về từ: http//www.jamestown.org.
[25]
Như trên.
[26]
Robert Sutter, “China-Southeast Asia
Relations: Emphasizing the Positive; Continued Wariness.”
[27]
Diễn văn của Goh Chok Tong đã trích ở trên , trang 19.
[28]
Phillip Pau, “China’s
Improving Image Challenges U.S. in Asia,” The
Washington Post, ngày 15 tháng 11 năm 2003.
[29]
Anthony Smith, “Thailand’s
Security and the Sino-Thai Relationship,” China Brief, Volume 5, Issue 3
(ngày 1 tháng 2 năm 2005). The Jamestown
Foundation.
[30]
Chatrudder Therapat, “Thailand’s
Energy Land Bridge Project to Proceed Despite New Pipeline,” Bangkok Post,
ngày 12 tháng 10 năm 2004.
[31]
Anthony Smith, “Thailand’s
Security and the Sino-Thai Relationship,” như trên.
[32]
Edward Cody, “China’s
Quiet Rise Casts Wide Shadow,” The Washington Post, ngày 26 tháng 2 năm
2005.
[33]
The Edge, ngày 10 tháng 3 năm 2003.
[34]
Trích trong Edward Cody, “China’s
Quiet Rise Casts Wide Shadow,” như trên.
[35]
Như trên.
[36]
Robert Sutter, “China-Southeast Asia
Relations: Emphasizing the Positive; Continued Wariness.”
[37]
Như trên.
[38]
Robert Sutter, Chin-Hao Huang, “China-Southeast Asia Relations: Military
Diplomacy and China’s
Soft Power,” Comparative Connections: A Quarterly E-Journal on East Asian
Bilateral Relations, số 2 năm 2006. Báo nầy có thể tải về từ:
http//www.csis.org/pacfor/ccejournal.html.
[39]
Như trên.
[40]
“China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”
Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 4.
[41]
Dana R. Dillon và John J. Tkacik, Jr., “China
and ASEAN: Endangered American Primacy in Southeast Asia,”
Backgrounder, ngày 19 tháng 10 năm 2005, trang 1-6. The Heritage
Foundation, Washington DC. Toàn thể bài nầy có thể tải về từ
mạng: www.heritage.org/research/asiaandthepacific/bj
1886.cfm. Một phần của kết luận bài nầy như sau:
In summary, China has demonstrated a remarkably deft ability
to use its policy tools, literally maneuvering the United States out of its seat at a
growing number of international fora. Furthermore, China has become an important
provider of assistance, and the presence of its military far from home is
becoming commonplace. If Beijing has its way and
Washington continues to neglect Southeast Asia, American military and security guarantees
will soon be redundant to the Chinese presence.
The U.S. must redouble its political, economic, and
security efforts in Southeast Asia to thwart
the Chinese juggernaut. …
ASEAN is the
most important multilateral organization in Asia.
An economically strong ASEAN, sure of American support for its member
countries’ independence, can stand up to China and preserve their economic,
security, and political independence. American foreign policy should make
strengthening engagement with ASEAN a priority….
Gaining lost
ground will require cultivating alliances, establishing new relationships, and
strengthening trade and investment commitments in the region. It is not too
late to regain the trust and confidence of Southeast Asia and reaffirm U.S. commitment
to its security and economic development, but that trust must be earned through
a comprehensive, consistent, and determined foreign policy in the region.
[42]
Elizabeth Economy, “China’s
Rise in Southeast Asia: Implications for Japan
and the United States,”
Japan Focus, ngày 6 tháng 10 năm 2005. Bài nầy là bài có sửa chữa và bổ
xung của bài “China’s Rise
in Southeast Asia: implications for the United States,” đăng trong Journal
of Contemporary China (2005), 14(44), tháng 8, trang 409–425. Bài
trong Japan Focus có thể tải về từ: http://japanfocus.org/article.asp?id=414.
[43]
Nguyên văn tiếng Anh của câu chót là (Japan Focus, trang 5):
The United States
continues to be the region’s most important trading partner, but the stagnant
trade suggests that the U.S.
may be finding other markets, such as China,
more attractive; unless greater attention is paid to contributing to Southeast
Asia’s continued economic growth, the U.S. will rapidly lose its stature
as the region’s key trading partner.
[44]
Nguyên văn như sau (Japan Focus, trang 10):
At least in the initial phase of what appears to be a
long-term trajectory of growing Chinese influence in Southeast Asia, the United States
remains the region’s most important trade partner; force for regional security;
and proponent of greater political transparency and human rights protection. Japan, in turn,
is overwhelmingly the dominant source of development assistance and architect
of new regional currency practices and institutions. While China is in no
position to displace either the United States or Japan—nor is the region as a
whole necessarily interested in seeing this come to pass—China’s greater
presence and activism suggest at the very least that the United States and
Japan cannot remain complacent about the status quo that has governed
political, economic and security relations for the past few decades. Shared
leadership within Southeast Asia will likely include China in the near future, with all
the potential benefits and challenges that such leadership will entail.
[45] “The United States and Southeast
Asia: Developments, Trends, and Policy Choices,” Eric G. John, Deputy Assistant Secretary, East Asian
and Pacific Affairs, Statement before the House International
Relations Committee, Subcommittee on Asia and the Pacific, Washington, DC,
September 21, 2005. Toàn bộ bài nầy có thể tải về từ: http://www.state.gov/p/eap/rls/rm. Nguyên
văn của đoạn dịch như sau:
China has focused on developing robust
trade and investment relationships in the region to fuel its own domestic
development. At the same time, China
is also clearly interested in matching its economic power with political
influence, thereby giving it an opportunity to advance its own interests in the
region. Our goal is to help China
increasingly identify these interests in ways that support and advance U.S.
objectives. Deputy Secretary Zoellick is doing just that in his ongoing Senior
Dialogue, established by agreement between the President and President Hu at
APEC last year. U/S Dobriansky’s Global Issues Forum also seeks to respond to China’s
emergence as a global player by demonstrating cooperation on a host of
transnational issues. It is important to remember in this context that America's role in the region has increased at
the same time China has
sought to invest further in Southeast Asia. We
play, and will continue to play, an essential role in the region, built on our
alliance relationships, our active participation in ASEAN and APEC fora, and
the access we provide to our open and transparent markets that helps drive both
China’s and the region’s economies.
[46] “The U.S. and Southeast Asia,”
Christopher Hill, Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
Remarks to the Lee
Kuan Yew School of Public Policy, Xinh-ga-po, May 22, 2006. Toàn bộ bài nầy có
thể tải về từ : http://www.state.gov/p/eap/rls/rm/66646.htm.
[47]
Nguyên văn như sau:
So, I think
what you see from us is that we are prepared to work on a long-term basis in
Southeast Asia to ensure that we continue to have what I think has been a very
special relationship with Southeast Asia. But, what I want to caution against
is an implication that somehow we are in some sort of competition with China for the hearts and souls of Southeast Asia. In fact, we want Southeast Asia to have a
good relationship with China.
We do not see this at all as opposed to our interests. China is an engine of development for Southeast Asia. I think a very welcome engine of
development. And much of the good economic news in Southeast
Asia can in fact be traced to the strong Chinese growth. So we
have no problem with this. And, as I said, I think having more China does not mean less U.S. in Southeast Asia.
So, I don’t look at it as a competition, rather, I think we look at as an area
of the world where we work on together. The one area I must say is of concern
deals with the previous question in Burma. Because we see a lot of
problems in Burma.
And we see a China willing
to deal with Burma without
maybe seeking to work with other countries in the world, without working with
countries in the United Nations or countries in ASEAN on trying to affect some
sort of change for the better in Burma’s political situation. And by
the way, it’s entirely appropriate that China
have a good relationship with its neighbor Burma. But we’d like to see some
effort by China to work more
with us in trying to effect positive change in Burma
to put Burma
on a stronger platform for growth in the future.
[48]
Robyn Lim, “Can Japan Counter China’s Growing Influence in Southeast
Asia?” China
Brief, Volume 4, Issue 1, January 6, 2004. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.jamestown.org.
[49]
“Regional Perspective: The growth and limits of China’s
reach in Southeast Asia,” The Nation,
ngày 4 tháng 10 năm 2004.
[50]
Asia Times, ngày 19 tháng 10 năm 2005.
[51]
“Japan seeks bilateral deals
with Southeast Asia,” Daily Times, ngày
27 tháng 2 năm 2005. Đây là một nhật báo của Xinh-ga-po và có thể tìm được trên
mạng.
[52]
Audrey McAvoy, “Fearing rivalry with China,
free Trade agreements are suddenly the rage in Japan,”
Associate Press (ngày 2 tháng 4 năm 2004).
[53]
Xem: “MeiYue Hezuo Yiweizhe Shenme” [Hợp tác Mỹ-Việt có nghĩa gỉ?], Huanqiu
Shibao
[Hoàn cầu Thời báo], ngày 27 tháng 6 năm 2005.
[54]
Về cách nhìn đối với các hoạt động chống khủng bố của Mỹ, xem: Yao Jianguo,
“Mei Jie Fankong Jiakuai zai Dongnanya Junshi Chongfan” [Mỹ lấy cơ hội phản
công khủng bố tại Đông Nam Á dể tăng cường hiện diện quân sư.], Shijie
Zongheng [Thế giới đương thời] Tập 8, tháng 8 năm 2002), trang
19–20; and Xia Liping, “Meiguo ‘Chongfan Dongnanya’ jiqi dui Yatai Anquan de
Yingxiang” [Mỹ quốc ‘Quay lại Đông Nam Á’ và ảnh hưởng của nó đến an ninh khu
vực Châu Á-Thái Bình Dương], cùng số Shijie Zongheng vừa trích, trang
18–22. Về phản ứng đối với việc cứu trợ nạn nhân sóng thần, xem: “Haixiao
Jiuyuan gei Shijie yi ge Jihui” [Cứu trợ sóng thần cho thế giới một cơ hội], Huanqiu
Shibao [Hoàn cầu thời báo], ngày 26 tháng giêng năm 2005; và Xiao
Ding, “Politics Surrounding the Tsunami,” Beijing Review, February 24,
2005.
© Thời
Đại Mới - Số 8 - Tháng
7/2006
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai8/200608_NgoVinhLong.htm