Dự thảo Luật Thủ đô: Tính hợp hiến và hợp pháp trong quy định HĐND TP Hà Nội có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Dự thảo Luật Thủ đô được xây dựng nhằm thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về “Phân công, phân cấp, cho phép Thủ đô được chủ động thực hiện một số chức năng, quyền hạn riêng…”1. Theo đó, dự luật sẽ trao cho chính quyền Thủ đô một số cơ chế, chính sách đặc thù về thu hút, sử dụng vốn, về quản lý dân cư, giao thông, nhà đất…
Dự thảo Luật Thủ đô (Dự thảo luật) đã thu hút được sự tham gia
đóng góp ý kiến của nhiều nhà khoa học, quản lý và đặc biệt là các vị đại biểu
Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII, Chính phủ đã trình Quốc hội Dự thảo
luật gồm 4 chương với 35 điều. Trong buổi thảo luận ở tổ đã có 143 vị đại biểu
Quốc hội của 16 tổ phát biểu ý kiến2. Tại phiên thảo luận ở Hội
trường đã có 23 vị đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến3. Các ý kiến
thảo luận tập trung vào các nội dung chính của dự luật như: vấn đề về sự cần
thiết phải ban hành luật; thời điểm ban hành luật; về cơ chế chính sách đặc thù
trong xây dựng và phát triển Thủ đô; về định hướng xây dựng Thủ đô; tính hợp
hiến, tính hợp pháp của quy định về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân (HĐND)
thành phố (TP) Hà Nội ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về những vấn
đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù dành cho
Thủ đô...
Theo quy định của Khoản 1, Điều 27 Dự thảo luật, HĐND TP Hà Nội
được quyền ban hành VBQPPL để “điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh từ thực
tiễn liên quan đến việc thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Chương
II của luật này mà chưa được pháp luật quy định”.
Quy định trên đã gây ra những tranh luận về tính hợp hiến, tính
hợp pháp của thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND TP Hà Nội. Những ý kiến không tán
thành với việc Dự thảo luật trao cho HĐND TP Hà Nội ban hành VBQPPL điều chỉnh
những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù đã
viện dẫn các quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Ý kiến này
cho rằng, theo quy định của Điều 120 Hiến pháp 1992, HĐND “Căn cứ vào Hiến
pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên,... ra nghị quyết về các biện
pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương…”. Do
vậy, “nghị quyết của HĐND được ban hành là để đề ra các biện pháp bảo đảm thi
hành Hiến pháp, pháp luật, chứ không điều chỉnh những vấn đề chưa được pháp
luật điều chỉnh”4. Mặt khác, Khoản 4 Điều 14, Luật Ban hành VBQPPL
năm 2008, quy định: “đối với những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây
dựng thành luật hoặc pháp lệnh, để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã
hội thì Chính phủ được ban hành nghị định để điều chỉnh”5. Vì vậy,
“không thể quy định giao cho UBND TP Hà Nội xây dựng, trình HĐND ban hành
VBQPPL điều chỉnh những vấn đề phát sinh từ thực tiễn liên quan đến cơ chế
chính sách đặc thù quy định tại Chương II của Luật”6.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, để đánh giá về tính hợp hiến, tính
hợp pháp của việc trao cho HĐND TP Hà Nội thẩm quyền ban hành VBQPPL về những
vấn đề mới phát sinh liên quan đến thực hiện cơ chế chính sách đặc thù, thì cần
phải xem xét trong hệ thống tổng thể các quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi,
bổ sung năm 2001 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992); Luật Tổ chức Quốc hội năm
2001; Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003; Luật Ban hành VBQPPL năm 2008; Luật
Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004.
Hiến pháp 1992 quy định về hình thức văn bản mà HĐND được ban
hành là nghị quyết cũng như căn cứ pháp lý để HĐND ban hành các nghị quyết.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định thẩm quyền
của HĐND trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND,
UBND năm 2004 quy định về các trường hợp HĐND được ban hành nghị quyết.
Theo quy định tại Điểm a, d, đ, Khoản 1, Điều 2 Luật Ban hành
VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004, HĐND ban hành VBQPPL trong những trường hợp sau
đây:
a) Quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo
đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
d) Quyết định trong phạm vi thẩm quyền được giao những chủ
trương, biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, nhưng không được
trái với các VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên
đ) Văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên giao cho HĐND quy định
một vấn đề cụ thể.
Khoản 1, 2 Điều 12 quy định cụ thể nội dung VBQPPL của HĐND tỉnh,
TP trực thuộc trung ương. Trong đó xác định, HĐND TP trực thuộc trung ương được
ban hành nghị quyết để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các
lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá…, chủ trương, chính sách,
biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn TP theo quy định tại
Điều 18 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các VBQPPL khác có liên quan
của cơ quan nhà nước cấp trên.
Các quy định nêu trên của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm
2004 cho thấy:
Thứ
nhất, HĐND TP trực thuộc trung ương được ban hành văn
bản để quyết định chủ trương, biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
Thứ
hai, nội dung của các văn bản này phải phù hợp với văn
bản do cơ quan nhà nước cấp trên đã ban hành;
Thứ
ba, cơ quan nhà nước cấp trên có thể phân cấp cho HĐND
TP trực thuộc trung ương quy định một số vấn đề cụ thể phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội của địa phương.
Mặc dù các văn bản pháp luật nói trên quy định về thẩm quyền của
HĐND tỉnh, TP trực thuộc trung ương nói chung, tuy nhiên, căn cứ Điều 84 Hiến
pháp năm 1992, Khoản 6, Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, trên cơ sở Luật
Tổ chức HĐND và UBND 2003, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004, Quốc
hội hoàn toàn có thẩm quyền ban hành văn bản quy định thẩm quyền của một địa
phương nhất định. Do đó, việc Dự thảo luật trao cho Hà Nội một số cơ chế, chính
sách đặc thù không những thể chế hóa được đường lối của Đảng thể hiện trong nội
dung của Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị, mà hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp
và luật hiện hành về phân cấp thẩm quyền.
Theo tinh thần của Khoản 4, Điều 14 Luật Ban hành VBQPPL năm
2008, những vấn đề “cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc
pháp lệnh” được đề cập đến là những vấn đề mang tính phổ quát trên phạm vi cả nước
phát sinh trong công tác quản lý, điều hành của Chính phủ đối với các lĩnh vực
của đời sống nhà nước và xã hội. Còn những vấn đề nêu trong Khoản 1, Điều 27 Dự
thảo Luật Thủ đô phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách
đặc thù trên địa bàn của một địa phương. Về nguyên tắc, Chính phủ có thể ban
hành nghị định để quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, việc ban hành nghị định sẽ
không phù hợp vì lý do sau:
Thứ
nhất, nghị định để áp dụng chung cho cả nước chứ không
phải áp dụng cho một địa phương;
Thứ
hai, một số cơ chế, chính sách đặc thù quy định trong
Chương II của Dự thảo luật được cụ thể hóa bằng các văn bản do HĐND TP Hà Nội
ban hành - loại văn bản về mặt thứ bậc có hiệu lực pháp lý thấp hơn nghị định.
Do vậy, nếu Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh những vấn đề nêu trên sẽ
không bảo đảm sự tương thích về hiệu lực pháp lý giữa hai loại văn bản (nghị
định của Chính phủ, nghị quyết của HĐND).
Thứ
ba, không bảo đảm cho chính quyền Thủ đô chủ động thực
hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân cấp trong Dự thảo luật này.
Ở một khía cạnh khác, xét về bản chất, dự án Luật Thủ đô là dự
luật về phân cấp thẩm quyền giữa chính quyền trung ương với chính quyền TP Hà Nội
với mục đích tạo cơ sở pháp lý cho TP Hà Nội phát triển nhanh, bền vững, tương
xứng với một “đô thị hành chính đặc biệt, đầu não chính trị - hành chính quốc
gia”. Trong đó, phân cấp thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung quan trọng
nhất.
Những cơ chế, chính sách đặc thù mà Dự thảo luật trao cho Hà Nội
không phải là những vấn đề mới, mà là những vấn đề đã được quy định trong các
văn bản luật về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: Luật Quy hoạch
đô thị, Luật Đầu tư, Luật Ngân sách, Luật Cư trú, Luật Nhà ở, Luật Đất đai… Cơ
chế, chính sách đặc thù trong Dự thảo luật là những quy định khác với quy định
của các luật đã ban hành. Khi xây dựng dự án luật, yêu cầu về tính thống nhất
của hệ thống pháp luật được đặt sang một bên. Tuy nhiên, yêu cầu bảo đảm tính
hợp hiến, tính hợp pháp của Dự án luật này cần phải được tuân thủ.
Trong quá trình tổ chức thực
hiện những cơ chế, chính sách đặc thù, tất sẽ phát sinh những vấn đề mới chưa
được điều chỉnh bởi luật và văn bản dưới luật. Trong trường hợp này, cần phải
có cơ chế xử lý để bảo đảm những cơ chế, chính sách đặc thù nêu trong dự án
luật có tính khả thi, đáp ứng được những thay đổi nhanh chóng của những quan hệ
kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội. Trong
các phương án xử lý vấn đề này, Dự thảo luật chọn phương án trao cho HĐND TP Hà
Nội ban hành VBQPPL quy định về những vấn đề mới phát sinh đó. Đây là phương án
hợp lý, phù hợp với mục đích ban hành văn bản luật này. Phương án này không
trái với Hiến pháp hiện hành, bởi lẽ Hiến pháp không quy định cụ thể thẩm quyền
của HĐND, mà quyền hạn này thuộc Quốc hội (theo quy định của Khoản 6 Điều 84
Hiến pháp 1992). Mặt khác, phương án này cũng phù hợp với quy định của các Luật
Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004,
theo đó văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thể giao cho HĐND TP Hà Nội
quy định những vấn đề cụ thể (ở đây là vấn đề ban hành VBQPPL về những vấn đề
mới phát sinh từ thực tiễn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù). Bên cạnh đó, phương
án này cũng không trái với quy định của Luật Ban hành VBQPPL 2008, bởi vì Luật
Ban hành VBQPPL 2008 điều chỉnh thẩm quyền ban hành VBQPPL của các cơ quan nhà
nước trung ương. Trong khi đó, Dự án luật Thủ đô quy định thẩm quyền ban hành
VBQPPL của cơ quan chính quyền của một địa phương về vấn đề gắn với địa phương
đó.
Với những phân tích nêu trên
cho thấy, việc dự án Luật Thủ đô trao cho HĐND TP Hà Nội ban hành VBQPPL quy
định về những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn tổ chức thực hiện cơ chế, chính
sách đặc thù dành cho Thủ đô là không trái với Hiến pháp và luật hiện hành về
phân cấp thẩm quyền. Tuy nhiên, đây là một vấn đề mới, lại được phân cấp cho
chính quyền địa phương, do vậy cần có những điều kiện ràng buộc chặt chẽ. Việc
bổ sung các điều kiện mà HĐND TP Hà Nội cần tuân thủ khi ban hành VBQPPL quy định
về những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn liên quan đến việc thực hiện cơ chế,
chính sách đặc thù phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Thứ nhất, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước trung ương khả
năng kiểm soát hoạt động ban hành VBQPPL của HĐND TP Hà Nội, bảo đảm cho hoạt
động này được thực hiện trong phạm vi luật định.
Để đáp ứng yêu cầu này, căn cứ
Khoản 1, Điều 112, Hiến pháp 1992, việc ban hành VBQPPL của HĐND TP Hà Nội cần
được sự đồng ý của Chính phủ7. Điều kiện bổ sung đó không những bảo
đảm cho Chính phủ kiểm soát được hoạt động ban hành VBQPPL của HĐND TP Hà Nội,
mà còn bảo đảm chất lượng của những VBQPPL do HĐND TP Hà Nội ban hành. Bởi lẽ,
các cơ chế, chính sách đặc thù liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau thuộc
thẩm quyền quản lý của nhiều bộ, ngành. Trong quá trình xin ý kiến của Chính
phủ, dự thảo văn bản sẽ nhận được nhiều ý kiến xây dựng của các bộ, ngành.
Thứ
hai, xác định thời hạn có hiệu lực của văn bản trong
thời gian nhất định. Việc giới hạn này nhằm mục đích hạn chế tác động tiêu cực
trong trường hợp việc ban hành văn bản thiếu hợp lý, hiệu quả thấp; nâng tầm
điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh lên hình thức văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn, trong trường hợp việc ban hành văn bản hợp lý, mang lại hiệu quả cao.
Dự thảo luật chỉ mới quy định về trách nhiệm của UBND TP Hà Nội, sau ba năm kể
từ ngày ban hành văn bản, tổ chức tổng kết, đánh giá việc thi hành, báo cáo
HĐND TP Hà Nội và Thủ tướng Chính phủ, mà không xác định rõ mục đích của việc
tổng kết cũng như thời hạn có hiệu lực của văn bản. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu
nêu trên, cần được bổ sung vấn đề này vào Dự thảo luật.
TS. Vũ
Hồng Anh - Viện nghiên cứu lập pháp
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/van-hoa-xa-hoi/du-thao-luat-thu-111o-tinh-hop-hien-va-hop-phap-trong-quy-111inh-h111nd-tp-ha-noi-co-tham-quyen-ban-hanh-van-ban-quy-pham-phap-luat
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------