Giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức ở nông thôn
1. Giới thiệu
Hiện tượng cho vay nặng lãi ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân
nông thôn là mối quan tâm thường xuyên của chính phủ lẫn các nhà nghiên
cứu. Lập luận thường được sử dụng để giải thích nguyên nhân của hiện
tượng này là: vì không có sự hiện diện của các tổ chức tín dụng chính
thức nên những người cho vay phi chính thức gần như độc quyền, do đó ấn
định lãi suất cao. Nhận thấy điều đó, chính phủ nhiều nước đã thành lập
các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn với hy vọng hạn chế và đi
đến loại trừ tín dụng phi chính thức nhằm xóa bỏ hiện tượng cho vay nặng
lãi. Tuy nhiên, bất chấp sự cố gắng đó, nhiều người dân nông thôn vẫn
khó tiếp cận tín dụng chính thức nên phải vay phi chính thức để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu phát sinh hằng ngày cũng như nhu cầu vốn cho sản xuất.
Từ đó, tín dụng phi chính thức có cơ hội để tồn tại, thậm chí còn rất
phát triển, ở nhiều nơi. Thật vậy, các nghiên cứu (như Tsai, 2004;
Conning và Udry, 2007; Mansuri, 2007; Boucher và Guirkinger, 2007;
Fletschner, 2009; Turvey và Kong, 2010; v.v.) đã ghi nhận sự hiện diện
của tín dụng phi chính thức ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung
Quốc, Thái Lan, Pakistan, Phi-lip-pin, Bangladesh, Kenya, Peru, Nigeria,
Ghana, Guatemala, ... Ở Việt Nam, theo Barslund và Tarp (2008), có đến
36% số giao dịch tín dụng ở nông thôn là phi chính thức; đặc biệt ở Phú
Thọ, tín dụng phi chính thức chiếm đến 50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây
(cũ) con số này là 48%. Khảo sát của Dương (2010) đối với 480 nông hộ ở
An Giang cho thấy có đến 199 hộ (41,5%) có vay phi chính thức. Theo các
nghiên cứu trên, tín dụng phi chính thức tiếp tục hiện diện ở nông thôn
nhờ những ưu thế mà các tổ chức tín dụng chính thức không có được như
sự am hiểu người vay (do đó giảm thiểu được hiện tượng thông tin bất đối
xứng), chi phí giao dịch thấp, khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ
tốt, tính linh hoạt trong quyết định cho vay,... do rất gần gũi với
người vay.
Các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân của việc mặc dù được xác định
là đối tượng cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng chính thức nhưng
nhiều người dân nông thôn (nhất là người nghèo ở những vùng xa xôi) vẫn
bị từ chối cho vay nên tiếp tục bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức.
Theo các nghiên cứu này, vấn đề mấu chốt là các tổ chức tín dụng không
thể điều chỉnh lãi suất để bù đắp chi phí và rủi ro cao khi cho vay ở
nông thôn do người vay thường gặp các bất trắc khó lường ảnh hưởng xấu
đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nông sản bấp bênh,...
trong khi lại thiếu tài sản thế chấp và không có cơ chế bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi. Kết quả là các tổ chức tín dụng sẽ hạn chế cho vay ở
nông thôn, từ đó mở ra cơ hội cho tín dụng phi chính thức phát triển vì
người dân nông thôn rất cần vốn cho sản xuất, cần tiền để trang trải cho
các nhu cầu đột xuất (như bệnh tật, ma chay, cưới hỏi, học hành của con
cái,...) trong khi thu nhập nhiều lúc không đủ để đáp ứng.
Mục tiêu của bài viết là phân tích nguyên nhân của việc các tổ chức
tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn, dẫn đến sự tồn tại
dai dẳng của tín dụng phi chính thức ở đây. Trên cơ sở phân tích này,
bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tín dụng phi chính thức
thông qua việc tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức ở
nông thôn, đặc biệt là ở những vùng xa xôi.
2. Nguyên nhân của hạn chế tín dụng bởi các tổ chức tín dụng chính thức
2.1. Thông tin bất đối xứng, sự không chắc chắn và rủi ro trong cho vay
Các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn khi cho vay ở nông thôn do
không thật am hiểu người vay vì ít gần gũi họ như những người cho vay
phi chính thức. Khi đó, sẽ xuất hiện hiện tượng thông tin bất đối xứng
giữa các tổ chức tín dụng và người vay, nghĩa là các tổ chức tín dụng
không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm soát việc sử
dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay. Để thấy điều đó, hãy phân
tích một tình huống trong đó một tổ chức tín dụng xem xét cho vay hai dự
án có tỷ suất sinh lợi lần lượt là 15% (Dự án 1) và 20% (Dự án 2), mỗi
dự án cần vay 100 đơn vị tiền (đvt) để đầu tư, lãi suất cho vay là 10%.
Giả sử hai dự án chắc chắn mang lại thu nhập lần lượt là 115 đvt (Dự
án 1) và 120 đvt (Dự án 2). Khi đó, sẽ có sự tương thích giữa lợi ích
của tổ chức tín dụng và lợi ích của người vay. Thật vậy, tổ chức tín
dụng muốn thu được lãi suất 10% (dĩ nhiên là cùng với tiền gốc) nên muốn
người vay thực hiện dự án có tỷ suất sinh lợi cao hơn (Dự án 2). Nếu
người vay muốn có lợi nhất thì cũng sẽ thực hiện Dự án 2. Như vậy, cả
hai đều hài lòng và vốn vay được sử dụng hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, thu nhập của các dự án thường không chắc chắn vì thực tế
luôn biến động khó lường. Để phản ánh thực tế này, giả sử Dự án 1 sẽ
mang lại thu nhập là 230 đvt nếu thành công với xác suất là 50% và mất
hết nếu thất bại với xác suất 50%; thu nhập của Dự án 2 vẫn chắc chắn
như trước. Như vậy, thu nhập kỳ vọng của Dự án 1 bằng với thu nhập trước
đây: (1/2) x 230 + (1/2) x 0 = 115 đvt.
Hãy xem xét lợi ích của tổ chức tín dụng và của người vay trong
trường hợp không chắc chắn này, với giả định là nếu dự án thất bại,
người vay sẽ không trả nợ vì đã mất hết. Rõ ràng, tổ chức tín dụng vẫn
muốn người vay thực hiện Dự án 2 với tỷ suất sinh lợi là 20% vì dự án
này giúp hoàn trả đầy đủ tiền vay cộng với tiền lãi một cách chắc chắn
trong khi Dự án 1 chỉ có thể hoàn trả đầy đủ với xác suất 50%. Song,
người vay sẽ không thực hiện Dự án 2 vì thu nhập từ Dự án 2 chỉ là: 120
đvt - (100 + 100 x 10%) = 10 đvt, trong khi thu nhập kỳ vọng từ Dự án 1
là: (1/2)x(230 - 110) + (1/2)x0 = 60 đvt. Rõ ràng, người vay sẽ thực
hiện Dự án 1 (rủi ro) và tổ chức tín dụng sẽ không hài lòng nhưng không
thể hay quá tốn kém để kiểm soát và cưỡng chế người vay thực hiện điều
mình muốn (đó là thực hiện Dự án 2).
Sự khác biệt về lợi ích như trên phát sinh do trách nhiệm hữu hạn của
người vay, nghĩa là người vay chỉ trả nợ nếu dự án thành công và không
trả nợ nếu thất bại. Nói cách khác, trách nhiệm hữu hạn là nguyên nhân
của việc người vay sẽ thực hiện các dự án rủi ro vì sẽ được lợi nếu
thành công và không mất mát gì nếu thất bại (do không trả nợ). Một cách
để các tổ chức tín dụng tránh hiện tượng này là yêu cầu người vay thế
chấp tài sản.
Thế chấp tài sản là cần thiết nhưng sẽ làm cho nhiều người dân nông
thôn càng khó tiếp cận tín dụng chính thức vì thiếu tài sản thế chấp hay
tài sản thế chấp của họ quá đặc thù nên không được chấp nhận. Chẳng
hạn, một hộ nghèo có một mảnh đất rất nhỏ để thế chấp nhưng các tổ chức
tín dụng sẽ không chấp nhận vì chi phí bán đấu giá tài sản này là quá
cao nếu người vay không trả nợ mà xác suất không trả nợ lại cao do người
vay nghèo. Tương tự, một người nghèo khác muốn thế chấp sức lao động
của bản thân để vay tiền điều trị căn bệnh hiểm nghèo cho con nhưng
không tổ chức tín dụng nào chấp nhận vì có thể vi phạm pháp luật hay
người này không thể làm được công việc mà tổ chức tín dụng cần, do đó sẽ
từ chối cho vay. Kết quả là họ phải vay phi chính thức, tạo cơ hội cho
loại hình tín dụng này tồn tại vì có cầu ắt sẽ có cung.
2.2. Khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ
Một yếu tố khác khiến cho các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại
cho vay ở nông thôn chính là các khó khăn gặp phải trong việc kiểm soát
và cưỡng chế người vay trả nợ. Nếu kiểm soát tốt, người cho vay có thể
can thiệp kịp thời để thu hồi vốn ngay khi người vay có biểu hiện lệch
lạc. Tính phong phú của thị trường tín dụng nông thôn là tài sản hiện có
hay thu nhập sắp có dùng để thế chấp khó được chấp nhận bởi các tổ chức
tín dụng chính thức nhưng lại dễ dàng được chấp nhận bởi những người
cho vay phi chính thức. Hiện tượng này có thể thấy rõ khi nghiên cứu mối
quan hệ giữa một người cho thuê đất với thỏa thuận chia sẻ kết quả thu
hoạch với người thuê đất và đồng thời cho người thuê đất vay. Người thuê
đất cần vay một số tiền để sản xuất và đề nghị người cho vay (cũng là
chủ đất) cho mình thế chấp khoản thu hoạch sắp tới để vay. Rõ ràng,
không tổ chức tín dụng nào chấp nhận loại thế chấp này vì thu hoạch sắp
tới của người vay rất khó xác định, phụ thuộc vào nỗ lực của chính anh
ta, thời tiết, giá sản phẩm và nhiều yếu tố khác mà các tổ chức tín dụng
gần như không thể kiểm soát. Trái lại, người cho thuê đất sẽ chấp nhận
thế chấp đó và đồng ý cho người thuê đất vay.
Điều gì khiến người cho thuê đất chấp nhận kết quả thu hoạch của
người vay trong khi cũng phải đối mặt với rủi ro không trả nợ giống như
các tổ chức tín dụng. Nếu phân tích kỹ, ta sẽ thấy người cho thuê đất có
lợi thế hơn. Đồng ý chia sẻ kết quả thu hoạch với người thuê đất nghĩa
là người cho thuê đất gắn lợi ích của mình với kết quả thu hoạch và do
đó, sẽ có động cơ cho người thuê đất vay tiền để chăm sóc mùa màng cho
tốt. Ngược lại, người thuê đất cũng có động cơ chăm sóc mùa màng tốt hơn
vì nếu không thì người cho vay sẽ phát hiện (do sống cạnh bên hay gần
đó) và sẽ không tiếp tục cho thuê đất cũng như không cho vay. Như vậy,
người cho thuê đất phụ thuộc vào người thuê đất để có thu nhập; đồng
thời, người thuê đất phụ thuộc vào người cho thuê đất để có đất canh tác
và vốn sản xuất. Mối quan hệ tương hỗ này làm tăng lợi ích cho đôi bên
nhưng không tổ chức tín dụng nào xây dựng được nên ngại cho vay vì sợ
không thu hồi được tiền cho vay.
Một nguyên nhân khác của việc các tổ chức tín dụng ngại cho vay ở
nông thôn trong khi những người cho vay phi chính thức vẫn đều đặn làm
việc này là khả năng cưỡng chế trả nợ nhằm giảm thiểu rủi ro. Để thấy
điều đó, hãy phân tích một tình huống trong đó một người vay có xác suất
trả nợ là p muốn vay số tiền L. Gọi r là chi phí cơ hội của vốn
(thường được đo lường bằng lãi suất trên thị trường tín dụng chính thức)
và i là lãi suất cho vay của một người cho vay phi chính thức. Do xác
suất trả nợ là p nên lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay phi chính thức
khi cho vay số tiền L sẽ là: p (1 + i) L - (1 + r) L. Cạnh tranh sẽ đưa
lãi suất (dài hạn) về điểm cân bằng mà tại đó, lợi nhuận cho vay bằng
không, nghĩa là:
clip_image001. (1)
Kết quả trên cho thấy nếu p càng cao thì i càng thấp. Thật vậy, nếu p
= 1 (người vay chắc chắn trả nợ) thì i = r hay lãi suất phi chính thức
sẽ bằng với lãi suất chính thức. Do p giảm thì i tăng nên nếu p < 1
(nghĩa là có rủi ro không trả nợ) thì i > r hay lãi suất phi chính
thức phải cao hơn lãi suất chính thức để bù đắp rủi ro không trả nợ. Do
đó, khi quyết định cho vay, người cho vay phải tính toán rủi ro (hay xác
suất không trả nợ) để ấn định lãi suất sao cho phù hợp. Từ công thức
(1), ta có thể hình thành công thức tính xác suất không trả nợ (đo lường
bởi đại lượng 1 - p) như sau:
clip_image002. (2)
Sử dụng công thức (2) và số liệu khảo sát của một số nghiên cứu trước
đây, ta có thể ước lượng xác suất không trả nợ (1 - p) ngầm chứa trong
một số giao dịch tín dụng phi chính thức như trong bảng Ước lượng xác
suất trả nợ dưới đây:
Ước lượng xác suất trả nợ
Kết quả ở bảng trên cho thấy những người cho vay phi chính thức ấn
định lãi suất cao do phải đối mặt với rủi ro không trả nợ cao. Khác với
những người cho vay phi chính thức, các tổ chức tín dụng chính thức
không thể ấn định lãi suất cao như vậy do bị ràng buộc bởi quy định của
chính phủ (chẳng hạn, ở nước ta, Ngân hàng Nhà nước không cho phép các
tổ chức tín dụng cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản) và do ảnh hưởng
của sự chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc - các hệ quả của hiện tượng
thông tin bất đối xứng ở thị trường tín dụng.
Trong lĩnh vực tín dụng, thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng các tổ
chức tín dụng không hiểu rõ mức độ rủi ro của người vay như chính bản
thân họ cho nên không thể phân biệt giữa người vay rủi ro và người vay
an toàn. Nếu không phân biệt được, điều tự nhiên là các tổ chức tín dụng
sẽ yêu cầu mọi người vay trả lãi suất cao hơn để bù đắp thiệt hại do
rủi ro gây ra. Song, việc tăng lãi suất như vậy có thể làm giảm lợi
nhuận của các tổ chức tín dụng do sự chọn lựa sai lầm của chính các tổ
chức tín dụng và động cơ lệch lạc của người vay. Luận điểm này có thể
được giải thích như sau (Stiglitz và Weiss, 1981).
Việc tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các tổ chức tín
dụng theo hai hướng đối nghịch nhau. Một mặt, lãi suất tăng sẽ làm tăng
lợi nhuận nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác, lãi suất tăng lại có
thể làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do ảnh hưởng của sự chọn
lựa sai lầm với cơ chế tác động như nhau. Trong thực tế, các dự án đầu
tư càng rủi ro thì khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại. Do đó, khi
lãi suất tăng, khách hàng với dự án ít rủi ro sẽ không vay vì khả năng
sinh lợi của dự án khó đủ để trả nợ. Vì vậy, nếu các tổ chức tín dụng
tăng lãi suất thì chỉ có khách hàng rủi ro cao chấp nhận vay nên rủi ro
của các tổ chức tín dụng sẽ tăng. Hiện tượng này được gọi là sự chọn lựa
sai lầm, nghĩa là nếu tăng lãi suất thì các tổ chức tín dụng chỉ chọn
được những người vay rủi ro hơn. Chọn lựa sai lầm sẽ làm giảm lợi nhuận
của các tổ chức tín dụng vì rủi ro cao hơn đồng nghĩa với xác suất trả
nợ của khách hàng thấp đi. Bên cạnh đó, sự gia tăng của lãi suất cũng sẽ
làm thay đổi cách lựa chọn dự án đầu tư của người vay. Lãi suất tăng sẽ
gây ra thiệt hại nhiều hơn cho các dự án ít rủi ro nhưng có khả năng
sinh lợi thấp so với các dự án rủi ro cao nhưng có khả năng sinh lợi cao
vì với lãi suất cao các dự án có khả năng sinh lợi thấp dễ bị rơi vào
tình trạng lỗ và phá sản. Do đó, sau khi vay vốn, người vay sẽ có xu
hướng thực hiện các dự án rủi ro hơn nếu phải trả lãi suất cao hơn. Đây
chính là động cơ lệch lạc của người vay. Hiện tượng này cũng làm tăng
rủi ro và do đó làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng.
Chính vì hai lý do trên nên các tổ chức tín dụng chỉ tăng lãi suất
khi khoản lợi nhuận tăng do lãi suất tăng vẫn còn lớn hơn khoản lợi
nhuận giảm dưới ảnh hưởng của chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc và
sau đó không cho vay thêm hay hạn chế tín dụng. Như vậy, để không phải
hạn chế tín dụng, các tổ chức tín dụng phải tìm cách giảm thiểu rủi ro,
nhưng điều này rất khó vì chi phí chọn lọc, kiểm soát và cưỡng chế khách
hàng rất cao vì người dân nông thôn thường vay các khoản nhỏ mà lại
sống rải rác trên một địa bàn nông thôn rộng lớn. Ngược lại, do gần gũi
nên người cho vay phi chính thức rất hiểu người vay và vì vậy có thể sử
dụng các biện pháp cưỡng chế trả nợ rất hiệu quả với chi phí thấp trong
khi vẫn có thể duy trì lãi suất cao để thu lợi (Barslund và Tarp, 2008).
3. Bất lợi của người dân nông thôn khi vay tín dụng phi chính thức
Hệ quả của việc các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở
nông thôn là nhiều người dân nông thôn bị lệ thuộc vào tín dụng phi
chính thức nên phải chịu lãi suất rất cao, như đã phân tích ở phần
trước. Đặc biệt, ở nông thôn, nhiều khoản vay phi chính thức bằng tiền
được thực hiện trước khi mùa thu hoạch bắt đầu (thời điểm giá lương thực
cao và những người thiếu ăn cần vay tiền để mua lương thực) phải được
hoàn trả bằng hiện vật sau khi thu hoạch, khiến cho lãi suất vay rất
cao.
Để thấy điều đó, hãy xem phân tích sau. Giả sử một người
nghèo cần vay số tiền là L0 để mua lương thực với giá P0 vào thời điểm
trước thu hoạch. Gọi Q0 là số lương thực mua được, ta có: L0 = P0Q0. Nếu
lãi suất cho vay là i thì người vay phải trả số tiền là: L1 = (1 + i)L0
sau khi thu hoạch. Do giá lương thực vào thời điểm sau khi thu hoạch
(P1) thấp nên P1 < P0 và số lương thực mà người vay phải trả là: Q1 =
L1/P1 > QA = L1/P0. Chênh lệch giữa Q1 và QA được quyết định bởi
chênh lệch giữa P0 và P1. Chẳng hạn, nếu Q0 = 30 kg, P0 = 3 đvt/kg
(nghĩa là L0 = 90 đvt) và i = 20%.
Khi đó, người vay sẽ phải trả số tiền là: L1 = (1 +
0,2)clip_image00390 = 108 đvt. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch giá lương
thực lại giảm đi, giả sử còn 1,5 đvt/kg. Khi đó, số lương thực mà người
vay phải dùng để trả nợ sẽ là: 108 đvt/1,5 đvt/kg = 72 kg. Nếu tính bằng
hiện vật (số lương thực) thì người vay phải trả lãi suất là:
clip_image004.
Lãi suất này quá cao, khiến cho người nghèo ở nông thôn dễ bị lâm vào
tình trạng đói nghèo triền miên một khi đã lỡ vay phi chính thức.
4. Giải pháp
Các phân tích trên cho thấy việc nhiều người dân nông thôn phải phụ
thuộc vào tín dụng phi chính thức là do các tổ chức tín dụng chính thức
hạn chế cho vay ở nông thôn bởi gặp rủi ro và chi phí giao dịch quá cao
trong khi không thể điều chỉnh lãi suất cho thích hợp do bị ràng buộc
bởi quy định của chính phủ hay do hệ quả của hiện tượng thông tin bất
đối xứng. Do đó, giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức cũng đồng
thời là giải pháp tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính
thức ở nông thôn.
(i) Trong hệ thống giải pháp trên, chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai
trò then chốt, nhất là các chính sách ổn định nền kinh tế vĩ mô như kiểm
soát lạm phát nhằm giúp các tổ chức tín dụng thẩm định năng lực trả nợ
của người vay chính xác hơn để giảm thiểu rủi ro và mạnh dạn mở rộng
hoạt động ở khu vực nông thôn. Chính phủ cần hướng dẫn nông dân điều
chỉnh cơ cấu mùa vụ hay vật nuôi để tránh hiện tượng thu hoạch quá dồn
dập trong khi thị trường đầu ra chưa đảm bảo, khiến cho giá nông sản
giảm mạnh khi vào vụ thu hoạch và dẫn đến việc cả thu nhập lẫn khả năng
trả nợ của người dân nông thôn bị giảm sút đáng kể. Điều này cũng có
nghĩa là phát triển thị trường sản phẩm, đặc biệt là thị trường nông
sản, là rất quan trọng.
Ngoài ra, việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng (đường giao thông,
hệ thống thông tin liên lạc, v.v.) cũng sẽ góp phần tăng cường việc
trao đổi thông tin (kể cả thông tin tín dụng) và mua bán sản phẩm, qua
đó làm giảm hiện tượng thông tin bất đối xứng và làm tăng thu nhập của
người dân nông thôn. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ xây dựng hệ thống bảo hiểm
cây trồng, vật nuôi để giúp ổn định thu nhập cho người dân nông thôn.
Một khi thu nhập của người vay ổn định thì các tổ chức tín dụng sẽ mạnh
dạn hơn trong việc cho vay, từ đó hạn chế tín dụng phi chính thức.
(ii) Các tổ chức tín dụng cũng cần chú trọng đến các sáng kiến giúp
tăng hiệu quả hoạt động, như cho vay theo nhóm, trả nợ đều đặn, tuyển
dụng người ở địa phương vào làm việc (vì những người này hiểu rất rõ
người vay),... cùng với việc đa dạng hóa hoạt động (như huy động tiết
kiệm, cung cấp dịch vụ tư vấn hay cung cấp thông tin thị trường) để vừa
kinh doanh vừa thu thập thêm thông tin và qua đó am hiểu khách hàng của
mình hơn.
(iii) Lý thuyết cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng loại hình hợp
tác xã tín dụng có rất có ưu thế trong việc khắc phục hiện tượng thông
tin bất đối xứng bởi có nhiều ưu điểm:
Thứ nhất, người vay sẽ được thẩm định bởi các thành viên trong ban
quản lý hợp tác xã, mà các thành viên này sống ngay ở địa phương nên có
đầy đủ thông tin về tài sản, rủi ro và cách thức sử dụng vốn vay của
người vay. Thông tin địa phương sẽ giúp các hợp tác xã tín dụng ước
lượng được rủi ro của người vay cũng như giảm chi phí giao dịch.
Thứ hai, các hợp tác xã tín dụng sẽ giúp làm giảm tính không hiệu quả
của thị trường tín dụng do thông tin không hoàn hảo. Chẳng hạn, việc
một xã viên giàu bảo lãnh cho một xã viên nghèo vay sẽ tạo ra sự gắn kết
chặt chẽ hơn ở địa phương và cũng là dấu hiệu về uy tín của người vay.
Hợp tác xã tín dụng cũng hiệu quả hơn trong việc kiểm soát và cưỡng chế
các hợp đồng tín dụng bằng cách kết hợp thông tin địa phương với quan hệ
cộng đồng, qua đó nâng cao tỷ lệ trả nợ. Do người vay sống gần nhau và
hiểu biết lẫn nhau nên năng lực và hành vi của từng người có thể được
theo dõi một cách sát sao và chịu ảnh hưởng rất lớn của các quy ước đạo
đức xã hội ở địa phương.
Các hợp tác xã tín dụng còn có một đặc thù quan trọng nữa là cung cấp
dịch vụ tiền gửi để huy động các khoản tiết kiệm nhỏ. Việc huy động
tiết kiệm của các hợp tác xã tín dụng là điểm mấu chốt để đảm bảo rằng
việc trả nợ được quan tâm và kiểm soát một cách đầy đủ. Nếu các khoản
cho vay chủ yếu là từ tiền tiết kiệm ngay tại địa phương thì người gửi
tiền tiết kiệm sẽ tham gia (mặc dù có thể là gián tiếp) vào quá trình
kiểm soát cách thức sử dụng vốn của người vay và quyết định cho vay của
các hợp tác xã tín dụng. Khi đó, nguồn tiền tiết kiệm sẽ được sử dụng
tốt hơn để làm lợi cho cả người tiết kiệm và người vay. Chính vì những
lý do trên nên cần khuyến khích thành lập các hợp tác xã tín dụng ở nông
thôn.
5. Kết luận
Việc các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn do
gặp phải chi phí giao dịch và rủi ro cao đã dẫn đến tình trạng là nhiều
người dân nông thôn phải bị phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức và
phải trả lãi suất rất cao.
Do đó, cần có biện pháp khuyến khích các tổ chức tín dụng chính thức
tăng cường cho vay ở nông thôn thông qua việc tạo lập một môi trường
kinh doanh thuận lợi bằng cách giảm thiểu các khuyết tật của thị trường
như thông tin không bất đối xứng, giá sản phẩm không ổn định, thu nhập
thấp và bấp bênh, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu cơ chế bảo hiểm cây
trồng và vật nuôi, ... nhằm giúp các tổ chức tín dụng hoạt động có hiệu
quả hơn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích các tổ chức tín dụng vận dụng các
sáng kiến như cho vay theo nhóm, trả nợ đều đặn, tuyển dụng người ở địa
phương vào làm việc, đa dạng hóa hoạt động,... để giúp hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của thông tin bất đối xứng và từ đó có thể cho vay nhiều
hơn mà ít gặp rủi ro hơn. Cuối cùng, cần hỗ trợ để thành lập các hợp tác
xã tín dụng vì loại hình tổ chức tín dụng này có thể làm giảm ảnh hưởng
của thông tin bất đối xứng nhờ vào việc các thành viên trong hợp tác xã
là những người sống ở địa phương, có mối quan hệ ràng buộc xã hội, đạo
đức và kinh tế nên có thể làm tốt hơn chức năng cung ứng vốn cho người
dân nông thôn, nhất là người nghèo sống ở các vùng xa xôi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Barslund, M. và F. Tarp, 2008, "Formal and Informal Rural
Credit in Four Provinces of Vietnam," World Development 44(4), tr.
485-503.
2. Boucher, S. và C. Guirkinger, 2007, "Risk, Wealth, and
Sectoral Choice in Rural Credit Markets," American Journal of
Agricultural Economics 89(4), tr. 991-1004.
3. Jonathan Conning và Christopher Udry (2007), Rural Financial
Markets in Developing Countries, Handbool of Agricultural Economics
Vol. 3, tr. 2858 - 2900.
4. Fletschner, D., 2009, "Rural Womens Access to Credit: Market
Imperfections and Intrahousehold Dynamics," World Development 37(3),
tr. 618-631.
5. Dương, P.V., 2010, Phân tích yếu tố quyết định việc vay vốn
của hộ nông dân ở tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Cần
Thơ.
6. Stiglitz, J.E. & A. Weiss, 1981, "Credit Rationing in
Markets with Imperfect Information," American Economic Review 71,
393-410.
7. Tsai, K.S., 2004, "Imperfect Substitutes: The Local
Political Economy of Informal Finance and Microfinance in Rural China
and India," World Development 32(9), tr. 1487-1507.
8. Turvey, C.G. và R. Kong, 2010, "Informal Lending Amongst
Friends and Relatives: Can Microcredit Compete in Rural China?" China
Economic Review.
Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 5/2011