Giải pháp thực hiện thoả ước lao động tập thể ngành
Bộ luật Lao động (năm 1994)đã xây dựng một chương riêng về thoả ước lao động tập thể, đồng thời Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 196/CP em ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành về thoả ước lao động tập thể và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ.
Do tính
năng động và đa dạng của các quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường nên
một số quy định của pháp luật - qua thực tiễn áp dụng - đã dần bộc lộ một số
hạn chế: hoặc là chưa sát với thực tế, hoặc là chưa được giải thích, hướng dẫn
cụ thể, đặc biệt là quy định và hướng dẫn thực hiện việc ký kết thỏa ước lao
động tập thể cấp ngành. Điều này gây ra những khó khăn cho các bên chủ thể của
quan hệ lao động trong quá trình áp dụng pháp luật về thương lượng, ký kết thoả ước.
Quốc hội khoá X tại kỳ họp thứ
11 (năm 2006) đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Lao động năm 1994, trong đó có những sửa đổi, bổ sung các quy định về thoả ước
lao động tập thể cho phù hợp với thực tế và mang tính khả thi cao hơn. Tuy vậy,
quy định của pháp luật lao động về thoả ước lao động tập thể ngành đến nay vẫn
chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện. Chính vì vậy, vẫn cần phải
tiếp tục việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về thoả ước lao động tập
thể.
Thương lượng tập thể ở cấp doanh
nghiệp để đi tới ký kết thỏa ước lao động tập thể ở doanh nghiệp là hình thái
đơn giản nhất, ở Việt Nam cũng mới chỉ có loại này. Tuy nhiên, thương lượng tập
thể ở cấp doanh nghiệp cũng có điều bất lợi, nó có thể dẫn tới sự khác nhau
trong thu nhập của công nhân làm cùng một nghề, cùng một vùng, khu vực trong
các doanh nghiệp khác nhau, công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức
sức đấu tranh để có được đồng lương hợp lý. Vì vậy, ký kết thỏa ước lao động
tập thể ở cấp ngành, vùng có sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này. ở nhiều nước, đặc
biệt là ở các nước phát triển, thương lượng tập thể diễn ra ở nhiều cấp khác
nhau, như cấp quốc gia, cấp vùng, cấp ngành, cấp liên ngành... Kinh nghiệm của
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
cho thấy, để thị trường lao động phát triển lành mạnh, phát huy được vai trò
tích cực của các bên trong quan hệ lao động, hạn chế các tranh chấp lao động,
đình công xảy ra, thì thoả ước lao động tập thể ngành có vai trò hết sức quan
trọng. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức,
Nhật Bản... đều đã triển khai ký kết thoả ước lao động tập thể ngành từ rất
sớm, một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia... gần đây
cũng triển khai ký kết thoả ước lao động tập thể ngành và thu được kết quả khả
quan. Vì vậy, để từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường,
hội nhập kinh tế quốc, hạn chế các tranh chấp lao động phát sinh thì việc tổ
chức ký kết thoả ước lao động tập thể trong phạm vi ngành, trước hết là đối với
một số ngành ở nước ta trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết.
Điều 54 Bộ luật Lao động có quy định:
“Những quy định tại chương Thoả ước lao động tập thể được áp dụng cho việc
thương lượng và ký kết thoả ước lao động tập thể ngành”. Tuy nhiên, Nghị định
số 196/CP ngày 31/12/1994 và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về thoả ước lao
động tập thể lại không có các quy định về vấn đề này và cho đến nay, cũng chưa
có văn bản riêng nào quy định về thoả ước lao động tập thể ngành. Trên thực tế,
việc ký kết thoả ước lao động tập thể ngành chưa được triển khai thực hiện,
chưa có ngành nào ký kết thoả ước lao động tập thể. Bởi vậy, mối quan hệ lao
động giữa các doanh nghiệp trong ngành vẫn chưa được thiết lập thống nhất, chế
độ lao động trong các doanh nghiệp trong ngành còn khác nhau, nên đây có lẽ
cũng là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các tranh chấp lao động tập
thể.
Tuy Điều 54 Bộ luật Lao động cũng đã
có quy định về việc áp dụng các quy định về việc ký kết thoả ước lao động tập
thể trong doanh nghiệp để thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể ngành,
nhưng thực tế không thể áp dụng được bởi thoả ước lao động tập thể ngành có
nhiều điểm khác biệt với thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp như về chủ thể
tham gia ký kết (cấp ngành đòi hỏi là công đoàn ngành và giới chủ theo ngành),
nội dung ký kết (cấp ngành yêu cầu nội dung phải phù hợp trong toàn ngành),
điều kiện về tỷ lệ lấy ý kiến người lao động (doanh nghiệp quy định trên 50%
lao động nhưng với cấp ngành chưa có quy định), cấp đăng ký thoả ước (doanh
nghiệp quy định đăng ký với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cấp ngành chưa
có quy định), phạm vi áp dụng thoả ước.
Bên cạnh đó, một trong những nguyên
nhân dẫn đến việc chưa ký kết thoả ước lao động tập thể ngành ở nước ta là do
chúng ta chưa có các quy định về phân ngành rõ ràng và chưa xây dựng được hiệp
hội giới chủ sử dụng lao động, tổ chức công đoàn đồng bộ theo ngành, làm cơ sở
để ký kết thoả ước lao động tập thể ngành.
Hiện tại, Nhà nước có quy định về
phân ngành kinh tế quốc dân, với 5 cấp ngành, từ cấp I đến cấp V. Việc phân
ngành này để xác định quy mô, cơ cấu nền kinh tế quốc dân và phục vụ cho công
tác thống kê, kế hoạch, thông tin kinh tế của các cấp, các ngành trong cả nước.
Trong mỗi ngành, về cơ bản bao gồm đa số các doanh nghiệp có cùng chung tính
chất, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng giữa các doanh
nghiệp này lại chưa thiết lập được tổ chức đại diện tập thể người lao động
chung (công đoàn cấp ngành) và chưa có chung hiệp hội giới chủ hoặc có nhưng
không bao trùm hết các doanh nghiệp, hoặc không đồng bộ giữa số doanh nghiệp
tham gia hiệp hội giới chủ và số doanh nghiệp tham gia cùng tổ chức công đoàn,
nên chưa thể thực hiện việc ký kết thoả ước lao động tập thể theo phân ngành
kinh tế này. Mặt khác, hiện Nhà nước cũng đang khuyến khích các doanh nghiệp
phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh đa ngành, đa nghề nên việc phân loại
doanh nghiệp theo ngành để ký kết thoả ước cũng gặp nhiều khó khăn.
Chính vì vậy, để có thể triển khai
việc ký kết thoả ước ngành, chúng ta cần có những tiêu chí để phân loại ngành
một cách rõ ràng, đồng thời có những quy định cụ thể về việc thương lượng ký
kết thoả ước ngành.
Để có thể thực hiện ký kết thoả ước
lao động tập thể ngành, trước hết phải xác định được ngành. Với điều
kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, có 3 phương án để phân ngành:
Phương án I: Việc phân loại ngành được xác định
theo phân ngành kinh tế quốc dân quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày
27/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Ưu điểm của phương án này là cấp
ngành có quy mô vừa phải¦, các doanh nghiệp trong ngành cơ bản có sự tương đồng
về tính chất, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh (hiện tại ngành kinh tế
quốc dân được phân theo 5 cấp, gồm 21 ngành cấp I, 88 ngành cấp II, 242 ngành
cấp III, 437 ngành cấp IV và 642 ngành cấp 5, kinh nghiệm một số nước và ý kiến
một số chuyên gia cho rằng lựa chọn ngành cấp II là phù hợp)[1].
Nhược điểm là các doanh nghiệp trong
ngành ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành được tổ chức công đoàn và tổ chức đại
diện giới chủ tương ứng với cấp ngành, hoặc có nhưng không đồng bộ giữa tổ chức
công đoàn và giới chủ.
Phương án IIP: Phân theo hệ thống tổ chức công
đoàn cấp ngành.
Ưu điểm của phương án này là dễ thực
hiện vì hiện tại đã có một số công đoàn ngành. Nhưng nhược điểm là¦, công đoàn
cấp ngành hiện nay thường nhỏ hơn, không bao trùm hết được các doanh nghiệp
phân theo ngành kinh tế, các tổ chức đơn vị trong phân ngành này nhiều khi
không hoàn toàn là các doanh nghiệp và cũng không có sự tương đồng lớn về tính
chất, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Phương án IIIP: Phân theo nhóm doanh nghiệp có cùng
tính chất, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động sản xuất, kinh doanh, có chung một tổ
chức công đoàn và tổ chức người sử dụng lao động.
Ưu điểm của phương án này là dung
hoà được phương án I và phương án II¦; xác lập rõ được chủ thể tham gia ký kết;
nội dung ký kết dễ thống nhất vì các doanh nghiệp có sự tương đồng về tính
chất, ngành nghề hoạt động. Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là có thể
hình thành nhiều ngành quy mô nhỏ, chia theo vùng lãnh thổ và vấn đề sẽ chỉ
được khắc phục khi hình thành được tổ chức cấp ngành và hiệp hội doanh nghiệp
ngành trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thiết nghĩ với điều kiện, hoàn
cảnh của Việt Nam hiện nay nên lựa chọn phương án III là phù hợp.
Còn đối với pháp luật về thoả ước
lao động tập thể ngànhC, các cơ quan có thẩm quyền nên quy định gồm các nội
dung cơ bản như:
- Chủ thể đại diện thương lượng và
ký kết thoả ước ngành;
-
Nội dung thương lượng, ký kết;
-
Trình tự, thủ tục thương lượng ký kết;
- Đăng ký thoả ước;
- Mối quan hệ giữa thoả ước lao động tập
thể ngành và thoả ước doanh nghiệp.
1. Về chủ thể đại diện thương lượng
và ký kết thoả ước lao động tập thể ngành1:
Chủ thể đại diện thương lượng và ký kết
thoả ước lao động tập thể ngành phía đại diện tập thể lao động sẽ là ban chấp
hành công đoàn ngành; tổ chức đại diện của giới sử dụng lao động sẽ là ban chấp
hành hiệp hội doanh nghiệp ngành. Khi thương lượng, ban chấp hành đoàn ngành và
ban chấp hành hiệp hội doanh nghiệp ngành có trách nhiệm cử ra một số thành
viên của mỗi bên theo nguyên tắc ngang nhau để tiến hành thương lượng (số lượng
thành viên cụ thể do hai bên thoả thuận).
Chủ thể ký kết thoả ước lao động tập thể
ngành bên đại diện ban chấp hành công đoàn ngành sẽ là chủ tịch công đoàn ngành
(hoặc người do ban chấp hành công đoàn ngành uỷ quyền); đại diện ban chấp hành
hiệp hội doanh nghiệp ngành là chủ tịch hiệp hội ngành (hoặc người do các tổng
giám đốc, giám đốc doanh nghiệp tham gia ký kết thoả ước uỷ quyền).
2. Về nội dung thoả ước lao động tập thể
ngành:
Vì thoả ước lao động tập thể ngành được ký
ở phạm vi rộng hơn nên thiết nghĩ, nội dung thoả ước lao động tập thể ngành
không bắt buộc phải có cả 6 nội dung cơ bản của quan hệ lao động như thoả ước
lao động tập thể doanh nghiệp, vì như vậy sẽ rất khó thống nhất mà chỉ gồm
những nội dung thiết yếu nhất của quan hệ lao động mà thực tế hay có sự tranh
chấp. Đó là thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng,
phụ cấp và vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động. Ngoài ra, các bên có thể
thoả thuận thêm một số điều khoản khác mà các bên thấy cần thiết như tiền ăn
giữa ca, quỹ phúc lợi, tiền nghỉ mát, tham quan...
3. Về trình tự thương lượng và ký kết thoả ước
ngành:
Việc đề xuất nội dung yêu cầu thương lượng
thoả ước ngành sẽ do hai bên (ban chấp hành công đoàn ngành và ban chấp hành
hiệp hội doanh nghiệp ngành) đưa ra. Sau khi các bên cùng chấp nhận yêu cầu,
hai bên có trách nhiệm cử ra một số đại biểu đại diện cho mỗi bên để tiến hành
thương lượng. Số lượng đại biểu đại diện cụ thể của mỗi bên do hai bên thoả
thuận; trong quá trình thương lượng, các bên có quyền tham vấn cá nhân, tổ chức
liên quan (nếu thấy cần thiết). Các nội dung sau khi thương lượng đi đến thống
nhất giữa các bên sẽ là căn cứ để đi đến ký kết thoả ước lao động tập thể
ngành.
Trên cơ sở nội dung thoả ước lao động tập
thể đã được thống nhất giữa hai bên trong quá trình thương lượng, ban chấp hành
công đoàn ngành có trách nhiệm lấy ý kiến của từng công đoàn doanh nghiệp trực
thuộc và ban chấp hành hiệp hội doanh nghiệp có trách nhiệm lấy ý kiến đại diện
người sử dụng lao động của từng doanh nghiệp trong hiệp hội. Việc lấy ý kiến và
tham gia ý kiến phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó ý kiến tham gia phải
ghi rõ những nội dung đồng ý và không đồng ý. Đối với công đoàn doanh nghiệp,
trước khi tham gia ý kiến phải tổ chức lấy ý kiến của người lao động trong
doanh nghiệp.
Thoả ước được ký kết khi có trên 50% số
công đoàn doanh nghiệp và trên 50% số đại diện sử dụng lao động của từng doanh
nghiệp trong ngành nhất trí. Trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên không
đạt được tỷ lệ này thì tổ chức thương lượng
lại.
4. Về đăng ký thoả ước lao động tập thể ngành:
Tương tự như thoả ước lao động tập thể
doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể ngành sau khi được ký kết cũng phải
được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thoả ước
lao động tập thể cấp doanh nghiệp sẽ là cơ quan lao động cấp tỉnh (Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), nơi có trụ sở
chính của Hiệp hội doanh nghiệp ngành.
Thoả ước lao động tập thể ngành sau khi có
hiệu lực pháp luật sẽ được thông báo đến từng doanh nghiệp trong ngành để phổ
biến đến người lao động, đồng thời gửi cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi có doanh nghiệp thành viên đóng trụ
sở chính một bản để biết.
5. Về mối quan hệ giữa thoả ước lao động
tập thể ngành và doanh nghiệp:
Thoả ước lao động tập thể ngành được áp
dụng thống nhất ở các doanh nghiệp trong ngành; các nội dung của thoả ước lao
động tập thể doanh nghiệp không được trái với nội dung của thoả ước lao động
tập thể ngành. Nội dung hợp đồng lao động trong doanh nghiệp không được trái
với nội dung của thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp và thoả ước lao động
tập thể ngành.
Việc triển khai ký kết thoả ước lao động
tập thể ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, như đã phân tích,
đây cũng là vấn đề mới và khó bởi điều kiện các doanh nghiệp ở Việt Nam trong
phạm vi ngành không hẳn đã tương đồng. Bởi vậy, trước khi ban hành các quy định
về việc ký kết thoả ước lao động tập thể ngành nên chăng chúng ta cũng nên áp
dụng thí điểm việc ký kết thoả ước lao động tập thể ngành ở một số ngành. Theo
Đề án của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong thời gian tới trước mắt
chúng ta sẽ áp dụng thí điểm việc ký kết thoả ước ngành ở 3 ngành. Đó là ngành
Dệt may, ngành Da giày và ngành Than. Việc Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội lựa chọn 3 ngành này là thí điểm ký kết thoả ước lao động tập thể cũng
là hợp lý. Bởi ngành Dệt may hiện đã hình thành được công đoàn ngành Dệt may và
Hiệp hội doanh nghiệp Dệt may Việt Nam. Ngành Da giày đã có Hiệp hội
Da giày Việt Nam, nhưng chưa có công đoàn ngành (hiện công đoàn ngành này vẫn
trực thuộc công đoàn ngành Công thương), vì vậy, để có thể thực hiện được việc
ký kết thoả ước lao động tập thể, trong thời gian tới Tổng liên đoàn Lao động
Việt Nam cần sớm hướng dẫn để hình thành riêng tổ chức công đoàn ngành Da giày.
Ngành Than thì đã có công đoàn ngành Than, nhưng lại chưa thành lập được hiệp
hội doanh nghiệp ngành. Hiện đang có ý kiến đề nghị trước mắt, nên xác định Ban
giám đốc Công ty mẹ của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam làm đại diện chung
các doanh nghiệp trong ngành, vì đa số các doanh nghiệp trong ngành than đều
thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và hiện nay, Công ty mẹ này cũng giữ
cổ phần chi phối ở đa số các doanh nghiệp trong tập đoàn. Tuy nhiên, theo lựa chọn
này thì có vướng mắc là Ban Giám đốc Công ty mẹ còn là cơ quan đại diện cho cả
Nhà nước và Công ty mẹ cũng là một pháp nhân độc lập như các công ty thành
viên, có vai trò như nhau. Vì vậy, nếu có tổ chức thí điểm ký kết thoả ước lao
động tập thể cho ba ngành này thì sẽ phải tìm giải pháp giải quyết các tồn tại.
Song
song với việc triển khai thực hiện việc ký kết thoả ước lao động tập thể ngành,
chúng ta cũng cần phải tiến tới việc ký kết thoả ước lao động tập thể vùng mà
trước mắt có thể là thoả ước tập thể ở các khu chế xuất và khu công nghiệp.
Điều kiện lao động và sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong các khu chế
xuất và khu công nghiệp về cơ bản là tương đồng với nhau, rất thuận lợi cho
việc ký kết thoả ước lao động tập thể. Hơn nữa, thực tế các cuộc đình công vừa
qua cũng cho thấy, người lao động ở cùng khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc địa
phương hay có phản ứng đình công theo dây chuyền. Hiện tượng này có thể được
khắc phục nếu chúng ta có quy định về thoả ước lao động vùng (khu chế xuất, khu
công nghiệp). Thực tế hiện nay cũng thuận lợi cho chúng ta triển khai thực hiện
loại hình thỏa ước này. Đây cũng là xu hướng chung của các nước công nghiệp,
đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, với tư cách là thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới thì chúng ta càng cần phải đẩy mạnh loại hình thoả ước này. /.
Ths. Đỗ Năng Khánh
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------