Giải quyết bằng trọng tài thương mại ADHOC ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tuy phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài có nhiều ưu điểm và được doanh nghiệp các nước áp dụng phổ biến, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam thì còn ít dùng đến phương thức này bởi nhiều lý do. Còn đối với phương thức trọng tài vụ việc (ad hoc), hầu như các doanh nghiệp nước ta bị thụ động khi phía doanh nghiệp nước ngoài ép phải lựa chọn, và vì muốn thực hiện được hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ nên phía Việt Nam phải chấp nhận thỏa thuận điều khoản trọng tài vụ việc1.
Thông qua một vụ kiện trọng tài vụ việc (ad hoc) đầu tiên, bài viết tìm
hiểu những giới hạn, khiếm khuyết của pháp luật trọng tài đối với trọng
tài vụ việc (ad hoc).
1. Nội dung tranh chấp của vụ kiện
Ngày 08/10/2007, Công ty A (A) và Công ty B (B) ký
hợp đồng số 888/GLC về việc giao nhận thầu xây dựng hồ bơi thuộc dự án
Khách sạn 5 sao Việt Nam tại tỉnh Q. Theo hợp đồng, A có trách nhiệm
thực hiện xây dựng hồ bơi và trên thực tế, nhà thầu đã hoàn thành mọi
công việc của mình theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu số 888/GLC
và tiến hành bàn giao đưa công trình vào sử dụng ngày 26/4/2008.
Các bên cũng thống nhất rằng, A là đơn vị chịu trách
nhiệm bảo hành công trình theo hợp đồng, thời gian bảo hành sẽ bắt đầu
từ ngày 27/04/2008, kéo dài trong 365 ngày tiếp theo.
Trong suốt thời gian bảo hành, A đã nhiều lần tiến
hành sửa chữa, khắc phục các sai sót của công trình theo đúng yêu cầu,
với giải pháp kỹ thuật được thống nhất giữa các bên và được các kỹ sư
của B chứng nhận là đã hoàn thành công việc theo yêu cầu.
Thời gian bảo hành kết thúc, theo đúng thỏa thuận của
các bên về điều khoản bảo hành, A đã nhiều lần gửi thư yêu cầu thanh
toán chi phí bảo hành với số tiền là 200.000.000 đồng. Dù vậy, với nhiều
lý do khác nhau, qua nhiều lần đàm phán, B vẫn từ chối thanh toán dứt
điểm số tiền này.
Yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc B thanh toán dứt điểm cho A số tiền bảo hành là 200.000.000 đồng.
- Buộc B thanh toán cho A khoản tiền lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 29/4/2009 trở về sau.
Quan điểm của bị đơn:
Theo “Bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” ngày 10/8/2010 gửi cho Hội đồng Trọng tài, B trình bày quan điểm của mình như sau:
- Giữ lại số tiền bảo hành 200.000.000 đồng không
thanh toán cho A vì số tiền đó đã được dùng cho việc khắc phục sửa chữa
dứt điểm các lỗi xây dựng do A gây ra như đã đề cập trong các thông báo
trước đây, như thư đề ngày 09/05/2009 thể hiện: A không có phương
thức khắc phục nào cụ thể để sửa chữa việc thấm nước và rút nước. Mặc dù
đã đưa ra nhiều chỉ thị nhưng vẫn không khắc phục.
- Bên cạnh đó, B yêu cầu Hội đồng Trọng tài bác bỏ
yêu cầu thanh toán tiền bảo hành của A, và có yêu cầu phản tố như sau:
Xuất phát từ việc A không thực hiện việc bảo hành, bảo trì theo quy định
của hợp đồng và quy định của pháp luật, B đã nhờ các nhà thầu khác tiến
hành sửa chữa, bảo hành các phần thi công không đạt chất lượng của A.
Số tiền bỏ ra để thực hiện công việc trên là 450.000.000 đồng. Trong khi
đó, số tiền mà B giữ lại của A là 200.000.000 đồng, nên số tiền chênh
lệch 250.000.000 đồng và lãi phát sinh từ số tiền chênh lệch trên (tính
từ thời điểm B thanh toán cho các nhà thầu đến thời điểm hiện tại theo
mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố) là 250.000.000đ x
1,2% x 8 = 24.000.000 đồng.
2. Thành lập hội đồng trọng tài vụ việc
2.1. Nguyên đơn mời Trọng tài viên cho mình
Sau khi gửi đơn kiện trọng tài cho bị đơn là B,
nguyên đơn A có thư mời Trọng tài viên 01 làm Trọng tài viên cho mình
theo thư mời đề ngày 30/11/2009.
2.2. Tòa án cử Trọng tài viên cho Bị đơn
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi
kiện trọng tài; B không lựa chọn và thông báo về trọng tài viên mà mình
lựa chọn. Căn cứ Điều 26 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (Pháp lệnh
TTTM), A làm đơn yêu cầu Tòa ná nhân dân (TAND) tỉnh Q chỉ định trọng
tài viên cho bị đơn và đến ngày 06/04/2010, TAND tỉnh Q đã ra Quyết định
chỉ định trọng tài viên số 01/2010/QĐKDTM-ST, chỉ định Trọng tài viên
02 làm trọng tài viên cho bị đơn.
2.3. Bị đơn khiếu nại quyết định cử Trọng tài viên cho Bị đơn
Ngày 05/05/2010 bị đơn B làm đơn khiếu nại quyết định
chỉ định trọng tài viên số 01/2010/QĐKDTM-ST ngày 06/04/2010 với hai lý
do:
(i) B cho rằng, mình không ký bất kỳ hợp đồng nào với
A như thông báo thụ lý mà TAND tỉnh Q đã nêu, nên việc thụ lý của tòa
án là trái với quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân
sự (BLTTDS) 2004 “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện”. Do đó, căn
cứ vào khoản 1 Điều 391 BLTTDS hiện hành, B yêu cầu TAND tỉnh Q ra
quyết định hủy bỏ Quyết định số 01/2010/QĐKDTM-ST ngày 06/04/2010;
(ii) B cho rằng, B không nhận được đơn khởi kiện của A trước khi A có đơn yêu cầu chỉ định Trọng tài viên
nên yêu cầu của A là trái với quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168
BLTTDS và mục 7.3 Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội
đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn Điều 168 của BLTTDS.
2.4. Việc thành lập Hội đồng Trọng tài vụ
việc sau khi có công văn trả lời đơn khiếu nại của Chánh án TAND đối
với quyết định cử Trọng tài viên của Tòa án
Ngày 29/06/2010 Chánh án TAND tỉnh Q có công văn số 28/CV-TA trả lời đơn khiếu nại cho B với nội dung như sau:
Vấn đề thứ nhất, B cho rằng, B không ký bất kỳ
hợp đồng nào với A như thông báo thụ lý mà TAND tỉnh Q đã nêu, TAND tỉnh
Q cho rằng: (i) A là công ty được đổi tên từ Công ty ABC, chính là công
ty đã ký kết hợp đồng số 888/GLC về việc giao nhận thầu xây dựng hồ bơi
(gói thầu 888.1) và việc thông báo tên này đã có thông báo cho B biết;
(ii) Sau khi đổi tên, A có nhiều lần gửi văn bản đến B để yêu cầu thanh
toán tiền bảo hành công trình và B có phản hồi bằng nhiều văn bản cho A,
điều đó cho thấy rằng, B đã mặc nhiên thừa nhận tư cách pháp lý của A
trong hợp đồng này. Do đó, TAND tỉnh Q thụ lý vụ án việc kinh doanh thương mại theo đơn yêu cầu của A là có cơ sở.
Vấn đề thứ hai, B cho rằng, B không nhận được đơn
khởi kiện của A trước khi A có đơn yêu cầu chỉ định Trọng tài viên,
TAND tỉnh Q cho rằng: (i) Trong hồ sơ vụ kiện, A có đơn kiện “yêu cầu
giải quyết tranh chấp tiền bảo hành” gửi đến B ngày 30/11/2009, có thư
báo phát nhanh vào ngày 01/12/2009. Song song đó (ii) trong văn bản đề
ngày 22/12/2009 gửi đến B, A cũng nêu rõ “Chúng tôi cũng đã gửi hồ sơ
khởi kiện để bắt đầu quá trình tố tụng trọng tài ngày 30/11/2009”. Điều
nay cho thấy, A đã gửi đơn kiện đến để B biết và lựa chọn trọng tài viên
trong thời hạn 30 ngày.
Từ hai nhận định trên, TAND tỉnh Q khẳng định: Việc
chỉ định trọng tài viên cho vụ kiện nêu trên là có căn cứ và đúng theo
khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh TTTM. Do đó, khiếu nại của B đề nghị hủy quyết
định chỉ định trọng tài viên số 01/KDTM của Tòa kinh tế TAND tỉnh Q là
không có cơ sở để chấp nhận.
Sau khi nhận được công văn số 28/CV-TA ngày
29/06/2010 của Chánh án TAND tỉnh Q trả lời đơn khiếu nại cho B, hai
trọng tài viên 01 và 02 đã họp và bầu trọng tài viên 03 làm Chủ tịch Hội
đồng Trọng tài vụ kiện A-B vào ngày 11/07/2010.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) chưa
dự liệu trường hợp quyết định chỉ định trọng tài viên cho bị đơn bị
khiếu nại, nên chỉ quy định tại khoản 3 Điều 41 Luật TTTM:Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định,
các Trọng tài viên bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng
trọng tài. Trong trường hợp không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài
và các bên không có thoả thuận khác thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng Trọng tài; và khi có sự
khiếu nại quyết định chỉ định trọng tài viên của Tòa án như trường hợp
nêu trên thì trong thời hạn bao lâu, hai trọng tài viên phải bầu Chủ
tịch Hội đồng Trọng tài vụ việc sau khi có quyết định giải quyết khiếu
nại của Tòa án? Thời hạn thực tế trong vụ kiện này là 13 ngày (từ ngày
29/06/2010 TAND tỉnh Q có công văn bác khiếu nại cho đến 11/07/2010 hai
trọng tài viên bầu Chủ tịch Hội đồng Trọng tài) có phù hợp không? Vấn đề
này, Luật TTTM vẫn còn bỏ ngỏ.
3. Vấn đề phát sinh trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ kiện
3.1. Việc lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài vụ việc
Chọn quy tắc tố tụng giải quyết vụ kiện là hết sức
quan trọng đối với trọng tài vụ việc. Nếu các bên tranh chấp không đồng ý
chọn một bản Quy tắc tố tụng trọng tài của một trong các Trung tâm
Trọng tài đã có sẵn, thì Hội đồng Trọng tài phải soạn thảo một bản quy
tắc tố tụng riêng để các bên tranh chấp có ý kiến chọn làm quy tắc tố
tụng trọng tài và nếu các bên cũng không đồng ý với bản quy tắc đó thì
việc giải quyết vụ kiện sẽ bế tắc vì Pháp lệnh TTTM không quy định vấn
đề này và tại khoản 7 Điều 3 Luật TTTM thì quy định: “Trọng tài vụ việc
là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình
tự, thủ tục do các bên thỏa thuận”. Do đó, nếu các bên không thỏa thuận
được về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp vụ kiện thì tố tụng trọng tài vụ việc này sẽ bị dừng lại bởi sự khiếm khuyết của pháp luật trọng tài.
Sau đó, Hội đồng trọng tài phát hành Thông báo với
nội dung: “Do hai bên không có thỏa thuận quy tắc tố tụng trọng tài nên
Hội đồng Trọng tài đề nghị hai bên xem xét chọn Bản Quy tắc tố tụng của
Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam làm quy tắc giải quyết vụ kiện”. Hai bên đều đồng ý
theo đề nghị của Hội đồng Trọng tài, nên tố tụng trọng tài được tiếp
tục.
3.2. Các bên thay đổi địa điểm và ngôn ngữ giải quyết tranh chấp vụ kiện
Trong hợp đồng, A và B đã thỏa thuận địa điểm giải
quyết tranh chấp tại thành phố H và ngôn ngữ sử dụng là tiếng Anh. Nhưng
sau đó, khi Hội đồng Trọng tài đề nghị hai bên xác định lại địa điểm và
ngôn ngữ giải quyết tranh chấp thì hai bên có văn bản gửi Hội đồng
Trọng tài, thỏa thuận lại địa điểm là thành phố Đ và ngôn ngữ sử dụng là
tiếng Việt để thuận tiện cho các bên giải quyết tranh chấp.
Ý kiến đề nghị thay đổi này làm cho Hội đồng Trọng
tài vụ kiện phân vân, bởi lẽ trong Hội đồng Trọng tài có ý kiến khác
nhau về sự thay đổi này có hợp pháp để chấp nhận hay không?
Quan điểm thứ nhất cho rằng, sự thay đổi
trên là hợp pháp vì đây là vẫn là sự thỏa thuận ý chí của các bên tranh
chấp, cần chấp nhận theo đề nghị của hai bên.
Quan điểm thứ hai cho rằng, sự thay đổi trên
là không hợp pháp vì mâu thuẫn với chính sự thỏa thuận ý chí bằng văn
bản trước đây của hai bên. Nếu không được xem là hợp pháp mà Hội đồng
Trọng tài vụ kiện chấp nhận cho thay đổi thì sẽ vi phạm thủ tục tố tụng
trọng tài và đây là căn cứ để Tòa án hủy quyết định trọng tài này;
Tuy vậy, sau khi bàn bạc, trao đổi, Hội đồng Trọng
tài vụ kiện đã đi đến thống nhất tuyệt đối 3/3 thành viên (100%) chấp
nhận ý kiến đề nghị thay đổi của các bên tranh chấp. Hội đồng Trọng tài
vụ kiện đã phát hành văn bản chấp nhận theo đề nghị của các bên tranh
chấp để đảm bảo tính ưu việt của Trọng tài là tôn trọng sự thỏa thuận ý
chí của các bên tranh chấp.
3.3. Bị đơn phản tố nhưng không nộp Trọng tài phí
Việc bị đơn B đã gửi “Đơn yêu cầu phản tố” ngày
19/08/2010 đối với nguyên đơn A cho Hội đồng Trọng tài vụ kiện làm phát
sinh nghĩa vụ nộp trọng tài phí theo quy định tại Điều 25 Pháp lệnh Án
phí và lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa XII về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự
sơ thẩm: “Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án về
tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao
động phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không
phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo
quy định của Pháp lệnh này” và Điều 11 khoản 3 Bản Quy tắc tố tụng
trọng tài của VIAC về đơn kiện: “Kèm theo Đơn kiện lại, bị đơn phải gửi
bản chính hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ thỏa thuận trọng tài, các
tài liệu, chứng cứ có liên quan và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài”
(do các bên tranh chấp đã chọn bản Quy tắc tố tụng trọng tài VIAC làm
thủ tục giải quyết vụ tranh chấp nên việc xem xét trọng tài phí phát
sinh do đơn kiện lại được dẫn chiếu theo quy tắc tố tụng của VIAC). Ngày
06/09/2010, Hội đồng Trọng tài đã phát hành văn bản yêu cầu bị đơn nộp
trọng tài phí cho đơn kiện lại, nhưng sau đó, bị đơn đã không nộp trọng
tài phí cho đơn kiện lại. Do vậy, nếu vụ tranh chấp mà hai bên không tự
hòa giải được thì Hội đồng Trọng tài sẽ không xem xét giải quyết đơn
kiện lại của bị đơn khi xem xét giải quyết đơn kiện của nguyên đơn.
3.4. Việc hoãn thời gian giải quyết vụ tranh chấp theo đề nghị của bị đơn
Hội đồng Trọng tài vụ kiện đưa thông báo là phiên họp
giải quyết vụ tranh chấp sẽ được tổ chức vào lúc 08 giờ 30 ngày
27/09/2010 (thông báo được triệu tập trước 30 ngày gửi cho các bên). Đến
ngày 01/09/2010, bị đơn đã gửi đơn đề nghị hoãn phiên họp giải quyết
tranh chấp cho đến tháng 11/2010, vì không có người đại diện hợp pháp và
để cho bị đơn có thời gian mời các nhân chứng tham gia vụ kiện và thu
thập thêm chứng cứ liên quan để cung cấp cho Hội đồng Trọng tài.
Hội đồng Trọng tài vụ kiện phát hành Thông báo chấp
nhận yêu cầu của bị đơn, thay đổi ngày họp giải quyết tranh chấp vào lúc
08 giờ 30 ngày 01/11/2010. Về thời gian, Hội đồng Trọng tài vụ kiện ra
Quyết định hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp là 05 ngày (từ ngày nhận
được đơn).
Đến ngày 11/10/2010, bị đơn lại có “đơn đề nghị hoãn
phiên hợp giải quyết tranh chấp” và “yêu cầu đình chỉ giải quyết tranh
chấp”. Hội đồng Trọng tài vụ kiện đã phát hành Thông báo không chấp nhận
“đơn yêu cầu hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp” của bị đơn và yêu
cầu có văn bản thể hiện việc tự hòa giải giữa các bên trước ngày
23/10/2010, nếu không đáp ứng được yêu cầu này thì phiên họp giải quyết
tranh chấp vẫn được tổ chức vào ngày 01/11/2010.
3.5. Hai bên hòa giải thành công vụ tranh chấp
Căn cứ vào văn bản “Thanh lý hợp đồng” giữa A và B
(mới được bên A ký tên và đóng dấu đề ngày 12/10/2010, bên B chưa ký tên
đóng dấu), B đã ký đơn yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp đề
ngày 11/10/2010 gửi cho Hội đồng Trọng tài vụ kiện đề nghị đình chỉ giải
quyết vụ tranh chấp, nhưng Hội đồng Trọng tài vụ kiện đã phát hành
Thông báo từ chối vì không có đủ cơ sở pháp lý để ra quyết định đình chỉ
giải quyết tranh chấp.
Ngày 22/10/2010 A và B cùng ký “Bản thỏa thuận chấm
dứt giải quyết vụ kiện hợp đồng số 888/GLC ngày 08/10/2007” gửi cho Hội
đồng Trọng tài và ngày 23/10/2010, A có “Thư đề nghị đình chỉ giải quyết
vụ tranh chấp hợp đồng số 888/GLC” gửi cho Hội đồng Trọng tài.
Căn cứ vào các văn kiện nêu trên, ngày 29/10/2010 Hội
đồng Trọng tài vụ kiện ra Quyết định “Đình chỉ giải quyết vụ kiện” và
hoàn trả 20% số tiền tạm ứng trọng tài phí cho A.
3.6. Thủ tục đề nghị Hội đồng Trọng tài vụ việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ kiện
Hội đồng Trọng tài luôn vận động các bên hòa giải
nhằm giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và giữ mối quan hệ hợp
tác kinh doanh sau này và các bên tranh chấp đã tiến hành hòa giải thành
công. Lúc này, các bên tranh chấp phải thực hiện những văn bản pháp lý
nào để đảm bảo đúng trình tự tố tụng trọng tài vụ việc khi Pháp lệnh
TTTM và Luật TTTM còn chưa có quy định về các thủ tục này?
Thực tế, Hội đồng Trọng tài đã hướng dẫn các bên
tranh chấp làm ba văn bản gồm: (i) Biên bản thanh lý hợp đồng đang tranh
chấp; (ii) Thỏa thuận chấm dứt giải quyết tranh chấp vụ kiện và (iii)
Thư đề nghị đình chỉ giải quyết tranh chấp vụ kiện của nguyên đơn gửi
cho Hội đồng Trọng tài xem xét ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh
chấp. Khi hướng dẫn như vậy, Hội đồng Trọng tài cũng không biết là mình
có làm đúng quy tắc tố tụng hay không? Nhưng ba văn bản trên là cơ sở để
làm căn cứ cho Hội đồng Trọng tài ban hành quyết định đình chỉ giải
quyết tranh chấp Trọng tài.
3.7. Việc nộp trọng tài phí và hoàn lại trọng tài phí sau khi Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ kiện
Việc thu phí trọng tài vụ kiện, Hội đồng Trọng tài đã
tham khảo biểu phí trọng tài của VIAC để thỏa thuận với nguyên đơn thực
hiện. Khi nộp trọng tài phí vụ kiện này thì bên nguyên đơn yêu cầu Hội
đồng Trọng tài vụ kiện phải cung cấp cho bên nguyên đơn Hóa đơn (phiếu
thu tiền) và bên bị đơn phản tố yêu cầu cho số tài khoản để chuyển khoản
số tiền trọng tài phí do kiện lại.
Thực tế, Hội đồng Trọng tài không thể có phiếu thu
cho bên nguyên đơn, nên đại diện Hội đồng Trọng tài phải nhận trọng tài
phí bằng phiếu chi tiền của bên nguyên đơn và nhận bằng tiền mặt. Khi bị
đơn phản tố kiện lại, yêu cầu Hội đồng Trọng tài cung cấp số tài khoản
để chuyển khoản nộp số tiền phí trọng tài do kiện lại, thì Hội đồng
Trọng tài hết sức lúng túng, phải sử dụng tài khoản của cá nhân Chủ tịch
Hội đồng Trọng tài cho bị đơn chuyển khoản số tiền phí trọng tài do
kiện lại, nhưng sau đó, bên bị đơn đã không nộp số tiền phí trọng tài do
không thực hiện việc kiện lại. Sự lúng túng này của Hội đồng Trọng tài
vụ kiện đã cho thấy, khung pháp lý vận hành thủ tục trọng tài vụ việc còn nhiều vấn đề cần xem xét bổ sung.
Hoàn lại một phần phí trọng tài: Sau khi đình chỉ
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo thỏa thuận của các bên tranh
chấp, Hội đồng Trọng tài đã hoàn lại cho nguyên đơn 20% số tiền trọng
tài phí đã tạm ứng. Việc hoàn phí trọng tài cho nguyên đơn được Hội đồng
Trọng tài vụ kiện thực hiện hoàn tất ngày 20/11/2010 chuyển khoản vào
tài khoản của A theo văn bản thông báo số tài khoản ngày 19/11/2010.
3.8. Việc chuyển giao hồ sơ cho Tòa án lưu trữ theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài
Theo khoản 2 Điều 48 Pháp lệnh TTTM, đối với việc
giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập,
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố Quyết định trọng tài hoặc Biên
bản hòa giải, Hội đồng Trọng tài phải gửi Quyết định trọng tài, Biên
bản hòa giải kèm theo hồ sơ giải quyết vụ tranh chấp cho Tòa án cấp tỉnh
nơi Hội đồng Trọng tài ra Quyết định trọng tài hoặc lập Biên bản hòa
giải để lưu trữ, nên sau khi kết thúc giải quyết vụ tranh chấp, Hội
đồng Trọng tài đã tiến hành đóng gói hồ sơ vụ kiện và chuyển giao hồ sơ
vụ kiện cho Phòng Văn thư lưu trữ TAND tỉnh Q lưu trữ vào ngày
20/12/2010.
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong tài vụ việc
Qua vụ việc trên, có thể thấy Luật TTTM mới ban hành
và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 vẫn còn nhiều khiếm khuyết, cần được
xem xét thêm để bổ sung, nhất là về chế định trọng tài vụ việc “ad hoc”.
4.1. Cần quy định về thời gian thành lập
Hội đồng Trọng tài vụ việc trong trường hợp có khiếu nại quyết định chỉ
định trọng tài viên cho bị đơn
Việc quy định thời hạn bao lâu hai trọng tài viên
phải bầu Chủ tịch Hội đồng Trọng tài sau khi có quyết định giải quyết
khiếu nại của Tòa án có ý nghĩa hết sức quan trọng về tính hợp pháp liên
tục của tố tụng trọng tài, bởi lẽ, nếu hai trọng tài viên không thể tự
mình bầu được Chủ tịch Hội đồng Trọng tài thì các bên phải đề nghị TAND
có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng Trọng tài cho mình theo quy
định tại khoản 3 Điều 41 Luật TTTM chứ không thể kéo dài tố tụng. Theo
chúng tôi, Luật TTTM cần quy định bổ sung: “Trường hợp có khiếu nại
quyết định chỉ định trọng tài viên cho các bên, thì trong vòng 15 ngày
kể từ ngày Tòa án có thẩm quyền có văn bản giải quyết khiếu nại, hai
trọng tài viên phải bầu Chủ tịch Hội đồng Trọng tài để giải quyết vụ
kiện.”
4.2. Cần quy định bổ sung trao cho Hội
đồng Trọng tài vụ việc các thẩm quyền quyết định liên quan đến trình tự,
thủ tục tố tụng trọng tài
Tình huống vụ kiện cho thấy, quyết định quy tắc tố
tụng là vấn đề mấu chốt để trọng tài vụ việc được tiếp tục. Giả định
trong tình huống này bị đơn thiếu thiện chí, không chấp nhận bất kỳ một
quy tắc tố tụng nào thì buộc lòng, vụ kiện phải dừng lại vì cả Pháp lệnh
TTTM và Luật TTTM chỉ trao thẩm quyền này cho hai bên thỏa thuận (kể cả
Tòa án cũng không có thẩm quyền hỗ trợ này). Về địa điểm giải quyết
tranh chấp và ngôn ngữ giải quyết tranh chấp chủ yếu là do các bên tranh
chấp thỏa thuận, nhưng các bên đã thỏa thuận bằng văn bản rồi, nay lại
thay đổi thì có hợp pháp đương nhiên không?
Theo chúng tôi, Luật TTTM cần quy định bổ sung, trao
thẩm quyền này cho “Hội đồng Trọng tài vụ việc được quyền quyết định các
trình tự, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp nếu các bên tranh chấp không
tự thỏa thuận được”.
Còn nếu sự thay đổi thủ tục tố tụng của các bên về địa điểm và ngôn ngữ giải quyết tranh chấp đều hợp pháp
thì nên bổ sung trong Luật TTTM như sau: “Mọi sự thay đổi về trình tự,
thủ tục tố tụng trọng tài trước và sau khi xảy ra tranh chấp đều phải
được lập thành văn bản và do Hội đồng Trọng tài quyết định sự thay đổi”.
4.3. Cần quy định bổ sung về trọng tài phí và thuế thu nhập cá nhân của trọng tài viên
Nguyện vọng của các bên tranh chấp có được hóa đơn
tài chính để khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và hạch toán chi phí
phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh trong tổng
chi phí của công ty là chính đáng. Đồng thời, Luật Thuế GTGT quy định về
điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT cho những khoản chi phí trên
20.000.000 đồng thì phải thanh toán bằng chuyển khoản thì mới được khấu
trừ thuế (điểm b khoản 2 điều 12/LTGTGT/2009), mà khoản trọng
tài phí khởi điểm của các vụ kiện trọng tài vụ việc – nếu áp dụng theo
bảng trọng tài phí của VIAC – là 2.000 USD (trên 20.000.000 đồng). Do
vậy, theo chúng tôi, cần bổ sung hướng dẫn việc thực hiện trọng tài phí
bằng một văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật (có thể là Nghị định của
Chính phủ hoặc Thông tư của Bộ Tài chính), trong đó quy định Hội đồng
Trọng tài vụ việc (i) cần phải mở một tài khoản cho vụ kiện trọng
tài; (ii) cơ quan thuế cần cấp cho Hội đồng Trọng tài vụ kiện hóa đơn
tài chính để Hội đồng Trọng tài cấp cho các bên tranh chấp; (iii) quy
định cụ thể việc thực hiện thủ tục tạm nộp thuế thu nhập cá nhân của
Trọng tài viên hay cuối năm, trọng tài viên phải tự thực hiện việc kê
khai nộp thuế thu nhập cá nhân.
4.4. Cần quy định bổ sung về hồ sơ thủ tục hòa giải
Việc các bên tự thỏa thuận, hòa giải được tranh chấp
là thành công lớn nhất của trọng tài, ngoài ý nghĩa tạo điều kiện cho
các bên tranh chấp tự giải quyết các tranh chấp còn giúp giữ được mối
quan hệ hợp tác kinh doanh sau khi tự nguyện thực hiện nội dung hòa
giải. Do vậy, cần quy định thủ tục khi Hội đồng Trọng tài ra quyết định
đình chỉ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Theo chúng tôi, nên quy
định: khi Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài cầnphải có các hồ sơ sau (i) Biên bản thanh lý hợp
đồng các bên đang tranh chấp (ii) Biên bản thỏa thuận đình chỉ giải
quyết tranh chấp trọng tài và (iii) Văn bản đề nghị chấm dứt giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài của nguyên đơn.
4.5. Lưu trữ hồ sơ trọng tài
Điều 64 Luật TTTM quy định như sau: “Hồ sơ vụ tranh
chấp do Trọng tài vụ việc giải quyết được các bên hoặc các Trọng tài
viên lưu trữ;… lưu trữ hồ sơ trọng tài trong thời gian là 05 năm”, nhưng
với quy định các bên hoặc các Trọng tài viên lưu trữ là hết sức chung
chung. Bởi “các bên” hay “Trọng tài viên” sẽ lưu trữ? Nếu cả “các bên”
và “Trọng tài viên” không thực hiện việc lưu trữ thì sao? Nếu cơ quan
Tòa án có thẩm quyền cần xem xét hồ sơ vụ kiện thì bên nào cung cấp? Nếu
như không cung cấp cho Tòa án, thì việc chế tài sẽ như thế nào?
Theo chúng tôi, cần có văn bản hướng dẫn áp dụng (có
thể là Nghị định của Chính phủ hoặc Thông tư của Bộ Tư pháp) quy định:
“Chủ tịch Hội đồng Trọng tài vụ việc phải thực hiện việc đóng gói và lưu
trữ hồ sơ vụ kiện trong thời gian 05 năm và có trách nhiệm cung cấp cho
cơ quan TAND có thẩm quyền khi có yêu cầu”.
(1) Đây là ý kiến của nguyên đơn trong vụ kiện trọng tài vụ việc đầu tiên tại Việt Nam khi chúng tôi tiếp cận để viết bài này.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, NCS Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Trích dẫn từ:
http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/giai-quyet-tranh-chap-bang-trong-tai-thuong-mai-ad-hoc-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap