Giảm vốn Điều lệ công ty cổ phần ?
Trước đây việc đăng ký vốn điều lệ của của các công ty thường là số vốn ảo, các cá nhân khi thành lập thường khai với số vốn vượt quá khả năng hiện có của mình. Để hạn chế điều đó, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã quy định:
Vốn điều lệ của
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là tổng giá trị các phần
vốn góp do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và
đã được ghi vào Điều lệ công ty.
Vốn điều lệ của
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổng giá trị số vốn do chủ sở
hữu đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào Điềulệ công ty.
Vốn điều lệ của
công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ
phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty.
Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công
ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các
cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ
phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Nghị định mới có quy
định khác về vốn điều lệ của công ty cổ phần. Theo đó, vốn điều lệ của công ty
cổ phải là giá trị của số cổ phần đã phát hành chứ không phải gồm cả giá trị
của số cổ phần mà công ty có quyền phát hành. Quy định này nhà làm luật muốn
đảm bảo vốn điều lệ là số vốn có thực hoặc sẽ có thực. Tuy nhiên quy
định này gây ra thắc mắc là công ty cổ phần sẽ giảm vốn điều lệ như thế nào.
Việc giảm vốn điều lệ Công ty cổ phần
không được được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005. Tại Điều 15 Nghị
định 139/2007/NĐ-CP trước đây quy định: Sau ba năm, kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu số cổ phần được quyền chào bán quy định
tại khoản 4 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp không được bán hết thì công ty phải
đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần
đã phát hành. Tiếp đó tại Nghị định mới khoản 9 Điều 23 quy định: Sau 03 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp lần đầu, nếu số cổ phần được quyền phát hành quy định tại khoản 4 Điều
84 của Luật Doanh nghiệp không được bán hết, công ty phải đăng ký điều chỉnh
giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành. Công
ty cổ phần không được tăng số cổ phần được quyền phát hành khi số cổ phần hiện
có chưa được bán hết.
Số cổ phần được quyền
phát hành quy định tại khoản 4 Điều 84 Luật Doanh nghiệp là: Số cổ phần được
quyền chào bán mà cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết.
Như vậy, một mặt Nghị
định 102/2010/NĐ-CP quy định vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị số
cổ phần đã phát hành và đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. Mặt khác
lại cho phép công ty giảm vốn điều lệ khi số cổ phần được quyền chào bán trong
03 năm mà không bán hết. Không thừa nhận vốn điều lệ gồm cả giá trị số cổ phần
được quyền chào bán nhưng lại cho phép giảm vốn điều lệ nếu số cổ phần được
quyền chào bán không bán được hết.
Câu hỏi đặt ra là khi
nào công ty cổ phần được giảm vốn điều lệ, theo tinh thần của Điều 23 Nghị định
102/2010/NĐ-CP thì công ty cổ phần có thể giám vốn điều lệ nhưng điều đó chắc
sẽ không bao giờ xảy ra.
Quy định luật như trên theo chúng tôi là
phù hợp để đảm bảo trách nhiệm hữu hạn của các nhà kinh doanh sau khi đăng ký
kinh doanh. Đặc biệt đối với các công ty đã bán cổ phiếu ra công chúng thì lại
rất khó quản lý cho việc giảm vốn,vì tính chất cổ đông hết sức đa dạng, chuyển
đổi khi mua bán cổ phiếu. Tuy nhiên, nhà làm luật lại bỏ ngỏ cơ hội giảm vốn
của công ty cổ phần. Điều này là không phù hợp khi thực tế hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thay liên tục thay đổi, có lỗ lãi, có sự tăng giảm của quy mô
tổ chức.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng trong Thông tư
hướng dẫn Nghị định 102/2010/NĐ-CP, nên bổ sung thêm quy định về các trường hợp
được giảm vốn của Công ty cổ phần theo hướng sau:
1. Các trường hợp giảm vốn điều lệ.
1.1. Giảm vốn điều lệ khi nhu cầu về
vốn của công ty giảm do công ty thay đổi ngành nghề kinh doanh, tổ chức
lại với quy mô nhỏ hơn trước.
1.2. Bị buộc phải huỷ bỏ cổ phiếu
quỹ.
1.3. Giảm vốn điều lệ khi công ty
kinh doanh thua lỗ và có số lỗ luỹ kế bằng 50% vốn của các cổ đông trở lên
nhưng chưa mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Nguồn: Công ty Luật Khai Phong
Nguồn: http://luatkhaiphong.com/PL-Doanh-Nghiep-Tai-co-cau-Sap-nhap-Mua-lai/Giam-von-Dieu-le-cong-ty-co-phan-1693.html
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------